Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Một số khái niệm cơ bản - Khái niệm văn hóa Văn hóa là sản phẩm sáng tạo của con người, gắn liền với hoạt động sống của con người nên có nội hàm phong phú và ngoại diên rất rộng. Với những ý đồ khoa học khác nhau nên trong hệ thống lý luận về văn hóa đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn hoá. Tylor đưa ra định nghĩa “Văn hóa hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách một thành viên của xã hội” [49, Tr.
Theo định nghĩa này thì văn hóa và văn minh là một; nó bao gồm tất cả những lĩnh vực liên quan đến đời sống con người, từ tri thức, tín ngưỡng đến nghệ thuật, đạo đức, pháp luật… UNESCO định nghĩa “Văn hóa là tập hợp các đặc trưng tiêu biểu về tinh thần, vật chất, tri thức và xúc cảm của xã hội hoặc một nhóm người trong xã hội; văn hóa không chỉ bao gồm văn học và nghệ thuật, mà còn cả phong cách sống, phương thức chung sống, các hệ giá trị, truyền thống và niềm tin” [44, Tr. Chủ tịch Hồ Chí Minh lại có quan niệm về văn hoá rất dễ hiểu, gần gũi. Theo nghĩa rộng, Người viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá.
Văn hoá là tổng hợp của mọi phương 13 thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [17, Tr 431]. Theo nghĩa này, văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do loài người sáng tạo ra với phương thức sử dụng chúng, nhằm đáp ứng lẽ sinh tồn, đồng thời đó cũng là mục đích của cuộc sống loài người. Trần Quốc Vượng (chủ biên) năm 2005 trong công trình: Cơ sở văn hóa Việt Nam; cho rằng “Nói tới văn hóa là nói tới một lĩnh vực vô cùng phong phú và rộng lớn, bao gồm tất cả những gì không phải là thiên nhiên mà có liên quan đến con người trong suốt quá trình tồn tại, phát triển, quá trình con người làm nên lịch sử… (văn hóa) bao gồm cả hệ thống giá trị: tư tưởng và tình cảm, đạo đức với phẩm chất, trí tuệ và tài năng, sự nhạy cảm và sự tiếp thu cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ tài sản và bản lĩnh của cộng đồng dân tộc, sức đề kháng và sức chiến đấu bảo vệ mình và không ngừng lớn mạnh”[47, Tr. Theo định nghĩa này thì văn hóa là những cái gì đối lập với thiên nhiên và do con người sáng tạo nên từ tư tưởng tình cảm đến ý thức tình cảm và sức đề kháng của mỗi người, mỗi dân tộc.
Một trong những quan điểm phổ biến, được nhiều người chấp nhận, đó là quan điểm văn hóa của UNESCO. Trong sự kiện triển khai chương trình hành động hướng đến Thập kỷ thế giới phát triển văn hóa (1988 - 1997) của Liên Hợp Quốc, Federico Mayor Zaragoza - nguyên Tổng Giám đốc UNESCO đã bày tỏ quan niệm, xem văn hóa là tổng thể sống động của các hoạt động sáng tạo của con người. Thông qua hoạt động sáng tạo, con người đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu. Theo thời gian, hệ thống các giá trị văn hoá ấy đã định hình, tạo nên đặc tính riêng của mỗi dân tộc, hay còn được gọi là bản sắc văn hoá [44, Tr.
14 Như vậy, hiện nay có rất nhiều quan niệm khác nhau về văn hóa. Tuy có nhiều cách diễn đạt khác nhau nhau nhưng về bản chất, văn hóa có những thuộc tính cơ bản như sau: Thứ nhất, văn hóa là toàn bộ những hoạt động sáng tạo duy nhất có ở con người. Xuất phát từ chính nhu cầu, mục đích tồn tại và phát triển, con người đã tạo ra văn hóa như một "thiên nhiên thứ hai" để tồn tại, phát triển và hoàn thiện bản thân. Thứ hai, hoạt động sáng tạo văn hóa tạo ra hệ thống các giá trị (những giá trị văn hóa vật thể và những giá trị văn hóa phi vật thể).
Sản phẩm của sự sáng tạo văn hóa của con người chính là các giá trị văn hóa mang ý nghĩa tốt đẹp, đề cao đạo đức, chân thực, được cộng đồng chấp nhận và chia sẻ. Thứ ba, các giá trị văn hóa không chỉ thỏa mãn nhu cầu tinh thần của con người, giúp con người hoàn thiện bản thân mà còn tác động tích cực tới sự phát triển của cá nhân, cộng đồng, xã hội. Ngược lại, những thành tựu kinh tế - xã hội sẽ là nền tảng vật chất thúc đẩy sự phát triển của văn hóa. Thứ tư, hệ thống giá trị văn hóa được sáng tạo, lưu giữ, trao truyền và phát huy sẽ tạo nên một sự liền mạch trong tiến trình phát triển của cộng đồng, dân tộc.
Theo thời gian, các giá trị văn hóa ấy sẽ hình thành nên truyền thống, phong tục, tập quán, thị hiếu và bản sắc, tạo nên sự khác biệt giữa các cộng đồng, dân tộc với nhau. Nhìn chung, các định nghĩa về văn hóa hiện nay rất đa dạng. Mỗi định nghĩa đề cập đến những dạng thức hoặc những lĩnh vực khác nhau của văn hóa. Theo cách hiểu của chúng tôi, Văn hóa là toàn bộ những hoạt động sáng tạo, phát minh của con người, nhằm đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển.
Giá trị văn hoá tồn tại trên mọi phương diện của cuộc sống, cả vật chất lẫn tinh thần, của cá nhân và cộng đồng xã hội. Với hệ thống giá trị văn hóa Chân - 15 Thiện - Mỹ, con người ngày càng hoàn thiện bản thân và làm cho đời sống càng ngày càng phát triển. - Khái niệm đời sống văn hóa Khái niệm “Đời sống văn hoá” được bắt đầu từ cụm từ "Đời sống mới", tiêu đề của bài viết được công bố năm 1947 Chủ tịch Hồ Chí Minh (bút danh Tân Sinh). Bài viết thể hiện tầm nhìn sâu sắc của Người về vai trò của văn hóa trong việc giáo dục, cải cách, nâng cao tri thức cho người dân.
Bên cạnh việc diệt giặc đói và giặc dốt thì mới làm cho nền độc lập bền vững. Cho nên, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đời sống mới đầu tiên đặt cơ sở lý luận cho việc xây dựng đời sống văn hóa ra đời sau Cách mạng Tháng Tám 1945 và tiếp tục phát triển cho đến ngày nay. Từ đó về sau, thuật ngữ đời sống văn hoá được sử dụng một cách thông dụng, được sử dụng song hành để thừa nhận sự tồn tại của đời sống văn hoá bên cạnh đời sống vật chất. Theo Trần Đức Ngôn, bài “Khái niệm và cấu trúc đời sống văn hóa”, Tạp chí Nghiên cứu văn hóa, số 21, 9/2017.
“Đời sống văn hóa là kết quả của hoạt động tương tác giữa con người với môi trường văn hóa, tạo nên diện mạo cũng như chiều sâu của đời sống tinh thần con người, thể hiện chất lượng sống và góp phần hình thành nhân cách” [18]. Đời sống văn hóa là một bộ phận của đời sống xã hội, thể hiện chất lượng sống của con người. Nếu thiếu đi đời sống văn hóa, con người sẽ không thể phát triển và nâng cao chất lượng cuộc sống. Trong cuốn “Công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở”, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội năm 2002 viết: “Đời sống văn hóa là bộ phận cấu thành tích hợp trong đời sống chung của con người, xã hội” và “đời sống văn hóa trình ra một tổng hợp những thành tố văn hóa tác động qua lại với đời sống của những cá nhân, cộng đồng” [3, Tr 8].
Ở đây, đời sống văn hóa không đồng nhất với văn hóa của một cộng đồng. Văn hóa của một cộng đồng là 16 toàn bộ những kết quả sáng tạo văn hóa của cộng đồng đó từ trong quá khứ tới hiện tại. Còn đời sống văn hóa lại được tạo dệt từ sự thực hành những yếu tố văn hóa truyền thống ấy theo một trình độ tương ứng với khả năng được quy định bởi kích thước cấu trúc của từng nhóm trong cộng đồng. Trong Giáo trình lý luận văn hóa và đường lối văn hóa của Đảng, của Viện Văn hóa và Phát triển, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh đã đưa ra quan niệm: “Đời sống văn hóa là một bộ phận của đời sống của xã hội, mà đời sống xã hội là một phức thể các hoạt động sống của con người, nhằm đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần của nó.
Nhu cầu vật chất được đáp ứng làm cho con người tồn tại như một sinh thể, còn nhu cầu tinh thần thì giúp cho con người tồn tại như một xã hội, tức là một nhân cách văn hóa” [48, Tr 134]. Từ những quan điểm khác nhau về đời sống văn hóa trên đây, có thể thấy rằng đời sống văn hóa là các hoạt động văn hóa diễn ra gắn liền với sinh hoạt vật chất, tinh thần của cá nhân và cộng đồng trong một đơn vị tổ chức hành chính (xã, phường, trường học, bệnh viện.) hay một cộng đồng nhỏ hơn (gia đình, tổ dân phố, khu dân cư, làng, bản. Những hoạt động đời sống văn hóa này được diễn ra thường xuyên, liên tục và sự tham gia trực tiếp của con người. Từ đó, dần hình thành các mối liên hệ gắn bó chặt chẽ giữa con người với con người trong một không gian địa lý, hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật và các thiết chế văn hóa nhất định.
Việc xây dựng đời sống văn hóa là một định hướng đúng đắn của Đảng ta trong quá trình xây dựng nền văn hóa Việt Nam, đồng thời cũng là phương hướng quan trọng trong thực hiện chiến lược con người, xây dựng, phát huy nguồn nội lực con người - nguồn lực nội sinh quan trọng nhất của phát triển kinh tế - xã hội.