CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẢM BẢO SINH KẾ BỀN VỮNG 1. CÁC VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐẢM BẢO SINH KẾ BỀN VỮNG 1. Khái niệm sinh kế F.Ellis cho rằng một “sinh kế” bao gồm những tài sản (tự nhiên, phương tiện vật chất, con người, tài chính và nguồn vốn xã hội), những hoạt động và cơ hội được tiếp cận đến các tài sản và hoạt động đó (đạt được thông qua các thể chế và quan hệ xã hội), mà theo đó các quyết định về sinh kế đều thuộc về mỗi cá nhân hoặc mỗi nông hộ (Ellis, 2000). Theo Ủy ban Phát triển Quốc tế (DFIA- Anh, 1998), “sinh kế” được hiểu là: Tập hợp tất cả các nguồn lực và khả năng mà con người có được, kết hợp với những quyết định và hoạt động mà họ thực thi nhằm để kiếm sống cũng như để đạt được các mục tiêu và ước nguyện của họ.
“Sinh kế” là một khái niệm rộng bao gồm các phương tiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và văn hóa mà các cá nhân, hộ gia đình, hoặc nhóm xã hội sở hữu có thể tạo ra thu nhập hoặc có thể được sử dụng, trao đổi để đáp ứng nhu cầu của họ. Các nguồn lực sinh kế Vốn con người: Bao gồm sức mạnh thể lực, năng lực trí tuệ biểu hiện ở kỹ năng, kiến thức làm kinh tế, khả năng quản lý gia đình của người dân. Có thể người dân cố gắng làm việc siêng năng nhưng do sức khỏe không đảm bảo, năng lực hạn chế nên không có khả năng tạo ra thu nhập để đảm bảo cuộc sống do năng suất lao động thấp. Đối với người nghèo, do đời sống khó khăn, cô lập với bên ngoài nên trình độ học vấn thường rất hạn chế.
Cụ thể: • Tỷ lệ người sống phụ thuộc cao. • Trình độ học vấn thấp 8 • Sức khoẻ không đảm bảo, hay bị ốm đau • Năng lực quản lí thấp • Quĩ thời gian lớn nhưng sử dụng không có có hiệu quả • Phân công lao động chưa hợp lý, thiếu cân bằng về giới Vốn xã hội: Thể hiện thông qua các mối quan hệ xã hội có ý nghĩa trong việc đảm bảo phần nào những điều kiện cần thiết cho cuộc sống của hộ gia đình. Tình làng, nghĩa xóm được thể hiện thông qua việc thúc đẩy sự hợp tác trong sản xuất. Việc phát huy hiệu quả vai trò của các tổ chức xã hội truyền thống cũng như các tổ chức đoàn thể xã hội hiện đại ngày nay là điều kiện quan trọng để gia tăng nguồn vốn xã hội, phục vụ cho sinh kế của người dân.
Cụ thể: • Các mạng lưới hỗ trợ từ bạn bè, họ hàng, láng giềng • Cơ chế hợp tác trong sản xuất, mua bán sản phẩm, các nhóm tiết kiệm, tín dụng • Các qui định, hành vi ứng xử của làng bản, khu phố… • Mức độ gắn kết trong tín ngưỡng của làng bản, khu phố, cộng đồng • Cơ hội tham gia ý kiến với các cơ quan, tổ chức ở địa phương của các thành viên trong cộng đồng • Cơ chế hoà giải mâu thuẫn trong địa phương Vốn tự nhiên: Khả năng cung ứng quỹ đất sản xuất, sông biển ao hồ có thể sử dụng để sản xuất của hộ gia đình cũng như cộng đồng cùng với điều kiện thuận lợi hay khó khăn của việc khai thác các nguồn lực ấy là nguồn vốn tự nhiên. Cụ thể: • Các nguồn lực đất đai của hộ gia đình • Nguồn lực rừng, biển, cảnh vật thiên nhiên • Các nguồn giống cây, con từ tự nhiên • Bãi chăn thả gia súc và nguồn thức ăn cho gia súc 9 • Hệ thống mặt nước tiềm năng dùng cho nước sinh hoạt, thuỷ lợi, nuôi trồng thủy sản, đánh bắt cá tôm cũng như các lợi ích khác. Vốn tài chính: Vốn tài chính được thể hiện bằng khả năng tạo ra dòng tiền cho hộ gia đình. Nguồn tiền đó thường có được do tiết kiệm, đi làm thuê, bán sản phẩm hoặc từ các hỗ trợ của chính phủ, của các tổ chức xã hội khác.
Ngoài ra, việc tiếp cận được các nguồn vốn vay của các hộ nghèo là điều kiện rất quan trọng để đảm bảo nguồn vốn tài chính cho họ. Vốn vật chất: Thể hiện ở các tài sản vật chất đảm bảo cho cuộc sống, sinh hoạt cũng như làm ăn của người dân như hệ thống đường xá, điện nước, chợ búa, trường học, thông tin liên lạc cùng các tài sản sinh hoạt như tivi, xe máy và các vật dụng cần thiết khác trong gia đình như giường, tủ, bàn. được xem là nguồn vốn vật chất. Tuy nhiên, đối với các hộ nghèo, những vật dụng này vẫn đang là đồ xa xỉ.
Sinh kế bền vững Theo R.Taylor, (1996), một sinh kế được xem là bền vững khi nó có thể đối phó và khôi phục được trước tác động của những áp lực và những cú sốc, duy trì hoặc tăng cường những năng lực lẫn tài sản của nó trong hiện tại và tương lai, trong khi không làm suy thoái nguồn tài nguyên thiên nhiên. Năm 1992, Gordon đưa ra khái niệm về sinh kế bền vững ở cấp hộ gia đình: “Một sinh kế bền vững có thể đối phó với những rủi ro và những cú sốc, duy trì và tăng cường khả năng và tài sản; đồng thời cung cấp các cơ hội sinh kế bền vững cho thế hệ sau góp phần tạo ra lợi ích cho cộng đồng, địa phương và toàn cầu và trong ngắn hạn và dài hạn. Sinh kế bền vững cung cấp một phương pháp tiếp cận tích hợp chặt chẽ hơn với vấn đề nghèo đói”. Theo các tác giả trên, sinh kế bền vững bao gồm con người, năng lực và kế sinh nhai, gồm có lương thực, thu nhập và tài sản của họ.
Ba khía cạnh tài 10 sản là tài nguyên, dự trữ, và tài sản vô hình như dư nợ và cơ hội. Sinh kế bền vững khi nó bao gồm hoặc mở rộng tài sản địa phương và toàn cầu mà chúng phụ thuộc vào và lợi ích ròng tác động đến sinh kế khác. Sinh kế bền vững về mặt xã hội khi nó có thể chống chịu hoặc hồi sinh từ những thay đổi lớn và có thể cung cấp cho thế hệ tương lai. Sự phối hợp hỗ trợ giữa các tổ chức đoàn thể chính trị xã hội với chính bản thân những hộ dân tái định cư.
* Nội hàm của sinh kế bền vững là hướng đến giải quyết các yêu cầu sau đây: Sinh kế của cá nhân, gia đình hoặc cộng đồng phải có khả năng tạo ra thu nhập, của cải đáp ứng nhu cầu cuộc sống ngày càng tốt hơn cho con người trong ngắn hạn cũng như trong dài hạn. Sinh kế của cá nhân, hộ gia đình hay cộng đồng phải có khả năng giúp con người vượt qua những biến động trong cuộc sống do thiên tai, dịch bệnh, hoặc khủng hoảng kinh tế gây ra. Sinh kế của cá nhân, gia đình hoặc cộng đồng phải có khả năng phát triển hơn nguồn tài sản hiện tại mà không làm ảnh hưởng xấu đến nguồn tài nguyên thiên nhiên trong tương lai. * Khái niệm đảm bảo sinh kế bền vững: Có nhiều quan điểm về đảm bảo sinh kế bền vững, tuy nhiên hiện nay đa số các nhà nghiên cứu cho rằng đảm bảo sinh kế bền vững: Là đảm bảo điều kiện sống, việc làm ổn định của hộ gia đình.
Là đảm bảo các nguồn lực sinh kế, khả năng chống chọi được với các ”cú sốc” bất lợi từ môi trường. Đồng thời thích ứng với điều kiện trình độ của người dân và cho phép phát huy đựơc các nguồn lực tại chỗ. Cấu trúc mô hình sinh kế bền vững: a. Cấu trúc mô hình sinh kế bền vững theo cách tiếp cận của UNDP Tiếp cận sinh kế bền vững của UNDP là một khung chương trình nhằm đưa ra tập hợp các hoạt động được lồng ghép với nhau để cải thiện sự bền vững của sinh kế cho người dân dễ bị tổn thương trong xã hội thông qua việc tăng cường khả năng ứng phó, phục hồi và chiến lược thích ứng của họ (xem Hình 1).
Mặc dù nguyên tắc này nhấn mạnh đến việc ứng dụng các công nghệ cải tiến cũng như tăng cường đầu tư cho kinh tế và xã hội. Các vấn đề về chính sách và quản lý có ảnh hưởng đến sinh kế cũng phải được giải quyết. Các hoạt động hỗ trợ khác nhau được tổ chức và thực hiện ở cấp quận, huyện, hệ thống các cơ sở ở cấp cộng đồng và hộ gia đình. CON NGƯỜI Các khả năng sinh kế Sinh kế Các khả năng Các khả năng sinh kế sinh kế CÁC TÀI SẢN HỮU HÌNH CÁC TÀI SẢN VÔ HÌNH Hình 1.
Cách tiếp cận sinh kế bền vững của UNDP Nguồn: Chương trình Phát triển của Liên hiệp quốc (UNDP) b. Cấu trúc sinh kế bền vững theo cách tiếp cận của CARE 12 Từ năm 1994, CARE đã sử dụng hệ thống “Bảo đảm sinh kế hộ gia đình” (Household Livelihood Security) như một khuôn khổ để phân tích, thiết kế, quản lý và đánh giá chương trình. Tài sảnCon Tài sản Xã Nguồn vốn người(Khả hội(Nhu cầu kinh tế(Dự trữ Nguồn lực Đảm bảo: tự nhiên năng sinh kế) và Tiếp cận) và nguồn lực) - Lương thực Cơ sở hạ - Dinh dưỡng tầng - Sức khỏe Các hoạt động - Nước Các hoạt động Môi trường - Nhà ở Kinh tế, sx và thu nhập tiêu dùng Hộ gia - Giáo dục văn hóa và đình chính trị Sự tham gia của cộng đồng Cú sốc & Sự an toàn căng thẳng của cá nhân Các hoạt động chế biến và trao đổi BỐI CẢNH CHIẾN LƯỢC SINH KẾ ĐẦU RA SINH KẾ Hình 1. Mô hình sinh kế bền vững của CARE Nguồn: CARE Khái niệm “Bảo đảm sinh kế hộ gia đình” kế thừa khái niệm cổ điển về sinh kế của Chambers và Conway (1992), bao gồm 03 đặc trưng cơ bản: khả năng của con người (như giáo dục, kỹ năng, sức khỏe, định hướng tâm lý), khả năng tiếp cận đến các tài sản hữu hình và vô hình, và sự tồn tại của các hoạt động kinh tế.
Sự tác động qua lại giữa 03 đặc trưng này sẽ xác định chiến lược sinh kế mà hộ gia đình sẽ theo đuổi. CARE cũng đã đặc biệt nhấn mạnh đến việc tăng cường năng lực của người dân nhằm thúc đẩy họ có thể thực hiện các sáng kiến và đảm bảo sinh kế của riêng mình; và do đó nhấn mạnh đến việc trao quyền như là một khía 13 cạnh cơ bản trong cách tiếp cận sinh kế bền vững của CARE (xem Hình 3).