Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN 1. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH VÀ KHOẢNG TRỐNG NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan các công trình theo nội dung nghiên cứu 1. Các công trình nghiên cứu về chi tiêu của hộ gia đình cho giáo dục trẻ mầm non 1) Về mức chi tiêu của hộ gia đình cho giáo dục trẻ mầm non Oleg Oberemko (2006) cho biết về các khoản chi tiêu cho giáo dục trẻ mầm non của các HGĐ ở Nga.
Không tính đến các dịch vụ tốn kém, trung bình các HGĐ ở Nga đã phải chi 6.900 rúp hàng năm cho giáo dục của một trẻ trong độ tuổi mầm non, trong khi đó, ở thủ đô, con số này là 12. Vì đối với phần lớn gia đình, các dịch vụ giáo dục và giáo dục mầm non cơ bản đều phải trả phí đã làm giảm nhu cầu đối với các dịch vụ bổ sung cho trẻ. Sabino Kornrich và Frank Furstenberg (2013) phát hiện rằng các bậc cha mẹ đang chi tiêu nhiều hơn vào con cái của họ bây giờ hơn so với trước đây. Phát hiện của họ cũng cho thấy sự bất bình đẳng trong chi tiêu giáo dục giữa người giàu và người nghèo ngày càng tăng, tuy nhiên, cả người giàu và người nghèo đều dành phần lớn thu nhập của mình để chi tiêu vào giáo dục cho trẻ em trong độ tuổi mầm non.
Cha mẹ cũng chuyển từ chi tiêu nhiều hơn vào con trai sang chi tiêu nhiều hơn vào con gái. Trước những năm 1990, cha mẹ dường như chi tiêu nhiều nhất vào trẻ em trong những năm tuổi thiếu niên. Tuy nhiên, vào cuối những năm 1990 và 2000, chi tiêu là lớn nhất khi trẻ em còn khá nhỏ và khi chúng ở giữa độ tuổi 20. Phạm Hương Trà (2008) cho thấy đa số những gia đình được hỏi đều nhận thức được rằng học tập là một trong những chìa khóa để bước vào thế kỷ công nghệ và tri thức.
Do đó mức độ chi tiêu cho giáo dục năm 2005 đã tăng lên đáng kể so với những năm trước. Sự biến đổi trong nhận thức của người 7 dân không chỉ ở chỗ chi tiêu nhiều hơn cho việc mua các khoản phục vụ cho học tập của con cái mình mà bên cạnh đó họ đã bỏ ra nhiều thời gian cũng như công sức hơn để chăm lo, đôn đốc, kiểm soát sự học hành của con cái. Như vậy, các nghiên cứu chỉ ra rằng do các HGĐ nhận thức được tầm quan trọng của việc giáo dục trẻ em nên mức chi tiêu của họ cho việc học hành của con cái có xu hướng tăng lên so với trước đây và khoảng cách chi tiêu cho các bé trai và bé gái được thu hẹp dần. 2) Về năng lực chi tiêu của hộ gia đình cho giáo dục trẻ mầm non Kyrill Shraberman and Nachum Blass (2016) cho biết về chi tiêu của các HGĐ cho trẻ học mầm non ở Israel.
Kết quả cho thấy việc thực hiện Luật giáo dục bắt buộc ở Israel đã mang lại nhiều lợi ích cho gia đình trẻ do việc tăng số lượng trẻ học mẫu giáo và các chương trình buổi chiều sau giờ họ. Khi học phí giảm, các HGĐ sẽ tăng chi tiêu cho các chương trình chăm sóc ngoài giờ. Điều này khiến cho các phụ huynh có nhiều thời gian làm việc hơn và cũng kiếm được nhiều tiền hơn so với trước đây. Gánh nặng chi tiêu cho giáo dục mầm non của các HGĐ trong khu vực Ả Rập Israel chỉ bằng một phần ba khu vực Do Thái do phần lớn trẻ em Do Thái theo học ở những trường mầm non tư thục đắt tiền hơn.
Trong giai đoạn 2013-2014, chi tiêu cho giáo dục mầm non tăng 40% trong khi thu nhập bình quân đầu người tăng 25% và chi tiêu tiêu dùng bình quân đầu người tăng 30% chứng tỏ gánh nặng chi tiêu cho giáo dục mầm non tăng lên. Ngược lại, gánh nặng chi tiêu của các gia đình có con học ở cấp tiểu học và sau tiểu học đã giảm. Silke Sturm (2015) đưa ra những so sánh về chi tiêu công và chi tiêu HGĐ cho giáo dục mầm non, cho thấy có sự khác biệt giữa tỷ lệ chi tiêu cho giáo dục của các HGĐ cho trẻ em là khác nhau giữa các quốc gia và khác nhau giữa các kiểu gia đình. Ở Liên minh châu Âu, đối với các HGĐ có cả bố và mẹ, chi phí chăm sóc trẻ em trung bình bằng 10,3% mức lương trung bình.
Trong đó, con số này dao động từ mức 2% (Áo) đến mức 20% (Hà Lan, Ireland, Thụy Sĩ và Vương quốc Anh). Gánh nặng tài chính rất khác nhau đối với các HGĐ đơn thân và gia đình có đầy đủ cha mẹ. Ở Hoa Kỳ, một gia đình có cha và mẹ dành 29% tiền lương trung bình của họ cho việc chăm sóc trẻ 8 em, trong khi đó một gia đình cha mẹ đơn thân chỉ phải chi 13% tiền lương trung bình. Sự khác biệt trong chi tiêu giữa các quốc gia được giải thích là do các quốc gia này có tiêu chuẩn chất lượng giáo dục cao hơn.
Wei Chi và Xiaoye Qian (2016) cho biết ở Trung Quốc, chi tiêu giáo dục trẻ em ngày càng tăng và gánh nặng tài chính tiếp theo đối với các gia đình trong những năm gần đây. Đầu tiên, chi tiêu giáo dục phát sinh bên ngoài trường góp phần đáng kể vào việc tăng chi tiêu giáo dục HGĐ. Điều đáng quan tâm hơn là chi tiêu ngoài trường ngày càng bị tác động bởi thu nhập gia đình và trình độ học vấn của cha mẹ nhưng ngược lại, chi tiêu trong trường không bị tác động bởi trình độ học vấn hoặc thu nhập của phụ huynh. Phát hiện này một lần nữa có thể liên quan đến Luật Giáo dục bắt buộc, vì chi tiêu trong trường được quy định bởi Luật, nó không bị tác động bởi hoàn cảnh gia đình.
Thứ hai, các chương trình giáo dục bắt buộc có hiệu quả trong việc kiềm chế chi tiêu giáo dục trong trường; tuy nhiên, điều đó không ngăn cản chi tiêu giáo dục gia tăng nhanh chóng bên ngoài trường học. Thứ ba, chi tiêu giáo dục tăng không tương xứng với thu nhập gia đình. Nói cách khác, các gia đình có thu nhập thấp phải dành phần lớn khoản thu nhập đó cho giáo dục con cái họ. Nhìn chung, các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ chi tiêu cho giáo dục trẻ em so với mức thu nhập của các HGĐ là khác nhau đối với các quốc gia.
Trong khi việc chi tiêu cho giáo dục trong các trường công lập không bị tác động đáng kể bởi hoàn cảnh gia đình do có sự hỗ trợ ngân sách từ nhà nước thì các chương trình chăm sóc trẻ ngoài giờ hoặc chi tiêu giáo dục ngoài nhà trường ngày càng tăng và chịu sự tác động của thu nhập và trình độ học vấn của phụ huynh. Các công trình nghiên cứu về các yếu tố tác động đến chi tiêu của hộ gia đình cho giáo dục trẻ mầm non Có rất nhiều công trình nghiên cứu về các yếu tố tác động đến chi tiêu của gia đình đối với giáo dục ở các quốc gia khác nhau, có thể phân loại thành các nhóm yếu tố như sau: đặc điểm của HGĐ, đặc điểm của trẻ. 9 1) Đặc điểm của hộ gia đình a) Khu vực sinh sống Rizk và Abou-Ali (2016) trong nghiên cứu về các yếu tố tác động đến chi tiêu của HGĐ cho giáo dục trẻ em ở các nước Trung Đông và Bắc Phi cho biết các HGĐ cư trú ở các tỉnh phía Bắc và phía Nam được cho là chi tiêu ít hơn cho giáo dục so với các tỉnh miền Trung ở Ai Cập, Tunisia và Jordon. Ở Sudan, các khu vực phía tây được phát hiện chi tiêu nhiều hơn cho giáo dục so với các khu vực trung tâm.
Sokpanya Phon (2018) nghiên cứu ở Campuchia, Aysit Tansel và Fatma Bircan (2006) nghiên cứu ở Thổ Nhĩ Kỳ, Ebaidalla (2018) nghiên cứu ở Sudan đều phát hiện thấy các HGĐ sống ở thành thị chi tiêu nhiều hơn HGĐ ở nông thôn. Hơn nữa, Aysit Tansel và Fatma Bircan (2006) còn thấy rằng các HGĐ trong khu vực đô thị sống trên một con phố phát triển hoặc khu định cư chật chội không khác biệt về mặt thống kê với những HGĐ sống trên một con phố chưa phát triển về chi tiêu cho việc học thêm. Điều này cho thấy rằng các HGĐ ở khu vực thành thị bất kể vị trí kinh tế xã hội như thế nào thì họ vẫn chi tiêu nhiều hơn đáng kể cho việc học thêm của con cái họ. Tại Việt Nam, Khổng Tiến Dũng và Phạm Lê Thông (2014) cho thấy có sự khác biệt giữa mức chi tiêu giữa các hộ dân ở thành thị và nông thôn, tuy nhiên không có sự khác biệt giữa các hộ dân ở các tỉnh, thành có mức thu nhập trung bình khác nhau ở đồng bằng sông Cửu Long.
Phan Thị Thu Trang, Phan Thuận (2015) cho thấy chi tiêu cho giáo dục, đào tạo trong cơ cấu chi tiêu của các gia đình ở nông thôn tăng lên theo các năm; khoảng cách chi tiêu trong giáo dục ở thành thị và nông thôn có xu hướng thu hẹp, góp phần mở ra nhiều cơ hội tiếp cận giáo dục cho người dân ở nông thôn, hạn chế tình trạng bất bình đẳng xã hội trong giáo dục ở thành thị và nông thôn. Tuy nhiên, chi tiêu cho giáo dục của các gia đình ở thành thị vẫn còn cao hơn so với nông thôn, việc thu hẹp khoảng cách chi tiêu cho GDĐT ở nông thôn và thành thị vẫn khá chậm do sự chi tiêu giáo dục của các HGĐ còn phụ thuộc vào điều kiện kinh tế của gia đình, cơ cấu thu nhập của gia đình và nhận thức của bố mẹ đối với việc chi tiêu cho GDĐT. 10 Như vậy, có sự khác biệt về chi tiêu cho GDĐT của các HGĐ ở những khu vực sinh sống khác nhau. Nhìn chung, các HGĐ ở thành thị chi tiêu cho giáo dục trẻ em nhiều hơn so với ở nông thôn.
b) Dân tộc, chủng tộc Megumi Omori (2010) nhận thấy chủng tộc cũng liên quan đáng kể đến khả năng chi tiêu cho giáo dục: những thứ khác như nhau, các HGĐ người Mỹ gốc Phi và gốc Tây Ban Nha ít có khả năng chi tiền cho giáo dục hơn so với các HGĐ da trắng. Tương tự, Mauldin và cộng sự (2011) cho biết các HGĐ thuộc các chủng tộc khác chi tiêu cho giáo dục con cái ít hơn 56% so với các gia đình da trắng. Hoàng Thanh Nghị (2020) cũng phát hiện ra rằng yếu tố dân tộc cũng có tác động đến tỷ lệ chi tiêu giáo dục, cụ thể là chủ hộ là người dân tộc Kinh có tỷ lệ chi tiêu cho giáo dục cao hơn 0.82% so với chủ hộ là người dân tộc khác.