phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của quản lý nhà nƣớc về văn hóa. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý nhà nƣớc về văn hóa trên địa bàn quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nƣớc về văn hóa trên địa bàn quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng 8 Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ VĂN HÓA 1. Một số khái niệm cơ bản 1.1 Khái niệm văn hóa, quản lý, quản lý nhà nước, quản lý nhà nước về văn hóa * Văn hóa: Trong đời sống của xã hội hiện đại, từ văn hóa đƣợc sử dụng trong nhiều ngữ cảnh khác nhau. Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về văn hóa, đến nay có khoảng trên 400 khái niệm về văn hóa.
Theo tiếng Latinh, thuật ngữ "văn hóa" có nghĩa là cày cấy, vun trồng và gắn với hoạt động nông nghiệp thời cổ xƣa. Nội dung của khái niệm "văn hóa" theo thời gian dần đƣợc mở rộng, phát triển thành ý nghĩa vun trồng, vun đắp hoạt động tinh thần của con ngƣời. Khái niệm văn hóa theo UNESCO: “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo (của cá nhân và cộng đồng) trong quá khứ và trong hiện tại. Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên hệ thống các giá trị truyền thống, thị hiếu – những đặc tính riêng của dân tộc”.
Ở Việt Nam, văn hóa cũng đƣợc định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng nhƣ mục đích của cuộc sống, loài ngƣời mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặt ăn, ở và các phƣơng thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” (Hồ Chí Minh toàn tập. NXB Chính trị Quốc gia, Q6, 1995 trang 431).
Với cách hiểu này, văn hóa sẽ bao gồm toàn bộ những gì do con ngƣời sáng tạo và phát minh ra. Cố thủ tƣớng Phạm Văn Đồng cho rằng: "Nói tới văn hóa là nói tới một lĩnh vực vô cùng phong phú và rộng lớn, bao gồm tất cả những gì không phải là thiên nhiên mà có liên 9 quan đến con ngƣời trong suốt quá trình tồn tại, phát triển, quá trình con ngƣời làm nên lịch sử, văn hóa bao gồm cả hệ thống giá trị: tƣ tƣởng và tình cảm, đạo đức với phẩm chất, trí tuệ và tài năng, sự nhạy cảm và tiếp thu cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ tài sản và bản lĩnh của cộng đồng dân tộc, sức đề kháng và sức chiến đấu bảo vệ mình và không ngừng lớn mạnh". Trong bài phát biểu khai mạc Hội nghị làn thứ 5 Ban chấp hành Trung ƣơng khóa VIII, Tổng Bí thƣ Lê Khả Phiêu đã khẳng định cùng với quá trình dựng nƣớc và giữ nƣớc, nền văn hóa Việt Nam đã hình thành và phát triển. Bằng lao động sáng tạo và ý chí bền bỉ, kiên cƣờng, nhân dân ta đã xây dựng nên một nền văn hóa kết tinh sức mạnh và in đậm dấu ấn bản sắc dân tộc, chứng minh sức sống mãnh liệt và sự trƣờng tồn của dân tộc.
Văn hóa Việt Nam là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do cộng đồng các dân tộc Việt Nam sáng tạo ra trong quá trình dựng nƣớc và giữ nƣớc. Nhờ nền tảng và sức mạnh văn hóa mà nhiều thời kỳ bị đô hộ, dân tộc ta cẫn cố giữ vững và phát huy bản sắc của mình, chẳng những không bị đồng hóa mà còn quật cƣờng đứng dậy, giành độc lập, lấy sức ta giải phóng cho ta. Tóm lại, Văn hóa là sản phẩm của loài ngƣời, văn hóa đƣợc tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con ngƣời và xã hội. Song chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con ngƣời và duy trì sự bền vững, trật tự xã hội.
Văn hóa đƣợc tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tƣơng tác xã hội của con ngƣời. Văn hóa là trình độ phát triển của con ngƣời và xã hội đƣợc biểu hiện trong các hình thức tổ chức đời sống cũng nhƣ trong các giá trị vật chất và tinh thần do con ngƣời tạo ra. * Quản lý: Thuật ngữ “quản lý” đƣợc sử dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực, có nhiều cách giải thích thuật ngữ quản lý khác nhau. Trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, con ngƣời muốn tồn tại và phát triển đều phải dựa vào sự nỗ lực 10 của một tổ chức, từ một nhóm nhỏ đến phạm vi rộng lớn hơn ở tầm quốc gia, quốc tế và đều phải thừa nhận, chịu một sự quản lý nào đó.
Vì thế, các nhà nghiên cứu ở từng lĩnh vực đã đƣa ra những quan niệm khác nhau về quản lý. Theo nghĩa rộng: quản lý là hoạt động có mục đích của con ngƣời còn theo nghĩa hẹp: quản lý là sự sắp đặt, chăm nom công việc. Trong khoa học xã hội, Từ điển Tiếng Việt (2005) định nghĩa quản lý là “sự trông nom, coi sóc, gìn giữ các công việc”. Quản lý thƣờng đƣợc hiểu là sự tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của chủ thể quản lý tới đối tƣợng quản lý.
Sự tác động này không mang tính đơn lẻ, tự phát mà nó mang tính tổ chức, tính mục đích rõ ràng. Mục đích mà chủ thể quản lý đặt ra là hƣớng đối tƣợng quản lý hoạt động phù hợp với ý chí của mình. Có thể đƣa ra khái niệm về quản lý: "Quản lý là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tƣợng quản lý nhằm đạt đƣợc mục tiêu đã đặt ra". * Quản lý nhà nước: Quản lý nhà nƣớc là sự tác động của các chủ thể mang quyền lực Nhà nƣớc, chủ yếu bằng pháp luật tới các đối tƣợng quản lý nhằm thực hiện các chức năng đối nội, đối ngoại của Nhà nƣớc.
Tất cả các cơ quan nhà nƣớc đều làm chức năng quản lý nhà nƣớc. Bằng chính sách và pháp luật, Nhà nƣớc trao quyền cho các tổ chức hoặc cá nhân để họ thay mặt Nhà nƣớc tiến hành hoạt động quản lý nhà nƣớc. Quản lý nhà nƣớc trong các lĩnh vực hành pháp là quản lý hành chính nhà nƣớc. * Quản lý nhà nước về văn hóa: là sự tác động liên tục, có tổ chức, có chủ đích của Nhà nƣớc bằng hệ thống pháp luật và bộ máy của mình, nhằm phát triển văn hóa, điều chỉnh hoạt động của mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực văn hóa với mục đích giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của Việt Nam, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân 11 1.2 Đặc điểm quản lý nhà nước về văn hóa Cũng nhƣ sự quản lý nhà nƣớc trên các lĩnh vực khác với ý nghĩa là sự định hƣớng lập kế hoạch, điều hành, tổ chức thực hiện, kiểm tra đánh giá.,quản lý nhà nƣớc về văn hóa còn có một số đặc điểm đặc sắc, riêng biệt sau: Thứ nhất, quản lý nhà nƣớc về văn hóa là quản lý bằng pháp luật từ Trung ƣơng đến địa phƣơng với mục đích cuối cùng là quản lý tất cả các mặt của văn hóa một cách hài hòa, chuẩn mực và đúng đắn nhất.
Thứ hai, quản lý nhà nƣớc về văn hóa cũng không thể đơn tuyến. Bởi vì văn hóa có cơ sở là kinh tế xã hội, luôn luôn gắn liền với kinh tế xã hội, mà kinh tế xã hội ta có nhiều thành phần thì văn hóa tất yếu cũng có nhiều thành phần. Kinh tế xã hội của một quốc gia càng phát triển thì nền văn hóa cũng đứng trƣớc những biến động không nhỏ từ ngay trong nội tại văn hóa dân tộc đó, cũng nhƣ những làn sóng tác động từ văn hóa nƣớc ngoài. Chính vì vậy bắt buộc quản lý nhà nƣớc về văn hóa mang đặc điểm biến thiên theo tùy theo nền kinh tế - xã hội.
Bên cạnh đó, văn hóa là phản ánh của sự phát triển xã hội, nhƣng không phải lúc nào giữa kinh tế và văn hóa cũng phát triển theo cùng một pha. Bởi vậy, quản lý nhà nƣớc về văn hóa không thể là sự dịch chuyển của mô hình quản lý kinh tế xã hội. Thứ ba, quản lý nhà nƣớc về văn hóa khác với quản lý nhà nƣớc về hoạt động kinh tế kỹ thuật khi giá trị các hoạt động văn hóa không chỉ căn cứ ở số lƣợng thành phẩm, mà chủ yếu ở tính sáng tạo, ở cái mới bồi đắp cho tâm hồn con ngƣời, giúp cho con ngƣời (trong những hoàn cảnh cụ thể, xác định) lớn lên, vƣơn lên trƣớc những đòi hỏi mới của xã hội. Bên cạnh những giá trị vật chất hữu hình, quản lý nhà nƣớc về văn hóa còn quản lý, bảo tồn và phát huy những giá trị phi vật chất mang lại cho đời sống xã hội.
12 Thứ tƣ, quản lý nhà nƣớc về văn hóa không theo lối tƣ duy cứng nhắc, dập khuôn, mà dựa trên những hoàn cảnh cụ thể, những trƣờng hợp cụ thể để xem xét. Bởi vì văn hóa là sự sáng tạo của quần chúng nhân dân đƣợc thực hiện thông qua các đại biểu của mình là văn nghệ sĩ. Vì vậy, quản lý nhà nƣớc về văn hóa là sự định hƣớng, tạo điều kiện, tổ chức điều hành cho văn hóa phát triển không ngừng theo hƣớng chân, thiện, m nhằm giúp ích cho con ngƣời, giúp cho xã hội loài ngƣời không ngừng đi lên. Thứ năm, quản lý nhà nƣớc về văn hóa theo nghĩa hẹp là quản lý cái phần tĩnh, cái bề nổi còn quản lý phát triển văn hóa là quản lý cái phần động, phần chìm, cái phần nảy sinh, tƣơng tác trong sự vận động của đời sống văn hóa.
Theo nghĩa rộng, nếu xem xét văn hóa là tổng thể những giá trị mà con ngƣời đã sáng tạo và tích lũy trong quá trình hoạt động thực tiễn nhằm cải biến tự nhiên, xã hội và bản thân thì quản lý phát triển văn hóa mới là chức năng đíchthực của quản lý nhà nƣớc về văn hóa. Quản lý nhà nƣớc về văn hóa về thực chất là sự tác động vào quá trình hình thành và vận động của hệ giá trị theo những mục tiêu định sẵn. Hệ giá trị vốn ổn định nhƣng vẫn có sự chuyển đổi dƣới tác động của không gian, thời gian và chủ thể.