Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DỊCH VỤ VĂN HÓA 1. Văn hóa và dịch vụ văn hóa 1. Văn hóa Văn hoá thường được quan niệm một cách hình tượng như một thiên nhiên thứ hai - thiên nhiên nhân tạo. Ẩn dụ này đã được rộng rãi các nhà khoa học chấp nhận, thực ra bao hàm trong nó hai nét nghĩa cơ bản: Thứ nhất, văn hoá là một thực thể tồn tại khách quan.
Với đối tượng này, văn hoá là đối tượng nghiên cứu của nhiều chuyên ngành khoa học. Người ta đã đúc kết được hàng trăm định nghĩa về văn hoá (Về mặt lý thuyết thì do sự gia tăng của các chuyên ngành khoa học mới, số lượng định nghĩa về văn hoá vẫn có thể được bổ sung không ngừng). Song dù phong phú đến đâu, phần lớn những định nghĩa đó vẫn xoay quanh việc mô tả, phân tích cái thực thể văn hoá trên hoặc bằng cách định tính hay định lượng, cấu trúc hay chức năng, hoặc chia cắt văn hoá theo không gian hay thời gian để mô tả. Thứ hai, văn hoá là một lĩnh vực do con người sáng tạo nên, bao gồm hệ thống những giá trị hay hệ thống những biểu tượng thuộc về thế giới tinh thần của con người.
Ai cũng biết con người tồn tại được nhờ biết thích ứng và khai thác thiên nhiên quanh mình. Đó là nó sống trong thế giới vật chất. Trong cuốn Hệ tư tưởng Đức, C. Ăng-ghen viết: ".
muốn sống thì trước hết cần phải có ăn, uống, ở, mặc và một vài thứ khác nữa. Vậy thì hành động lịch sử đầu tiên là sự sản xuất những tư liệu thoả mãn các nhu cầu đó, sự sản xuất ra bản thân đời sống vật chất” [5, tr. Nhưng con người chỉ thực sự thành người khi trong nó xuất hiện các nhu cầu về đời sống tinh thần. Tín ngưỡng và tôn giáo, dưới góc độ nhìn 7 duy vật, là nhận thức sai lầm của con người về thế giới hiện thực, nhưng chính tín ngưỡng lại là dấu hiệu cơ bản để phân biệt người và động vật.
Khi người vượn có ý thức về sự chết của bản thân và đồng loại, là lúc nó trở thành người khôn ngoan hiện đại (Homo-Sapiens). Như vậy, tín ngưỡng và tôn giáo được xem là một nhu cầu tinh thần của con người. Sống trong thế giới vật chất, con người không ngừng mở rộng những kích thước mới trong thế giới tinh thần của nó. Nét nghĩa “sản xuất tinh thần” của từ văn hoá đã xuất hiện từ rất sớm.
Từ Cultura (văn hoá) trong tiếng La tinh ban đầu có nghĩa là “gieo cấy, vun trồng cây cối” tức sản xuất vật chất, sau đó nó chuyển nghĩa thành ''vun trồnq trí tuệ” trong câu “Filosofia của animi est ’ nghĩa là: triết học là sự vun trồng trí tuệ, tức sản xuất tinh thần. Tuy nhiên, cụm từ sản xuất tinh thần hiểu như sự phân tích trên đây vẫn là sự suy diễn ít nhiều mang tính tư biện, vì chưa được luận chứng một cách chặt chẽ về nội dung nghĩa của nó. Sản xuất tinh thần hiểu theo nghĩa đích thực của hoạt động sản xuất lần đầu tiên được C. Ăng-ghen đề cập đến trong cuốn sách Hệ tư tưởng Đức.
Theo hai ông, đời sống xã hội loài người chỉ thực sự thoát khỏi “tính chất động vật” dựa trên sự phát triển của “phân công lao động”. Mặt khác, “phân công lao động” chỉ thực sự hiện hữu từ khi có sự phân công giữa lao động vật chất và lao động tinh thần [5, tr 25,26]. Nếu như lao động vật chất là sản xuất ra các tư liệu sinh hoạt thì lao động tinh thần là “sự sản xuất ra những tư tưởnq, biểu tượng và ý thức”. Khái niệm sản xuất trong thuật ngữ “sản xuất tinh thần ’ ở đây được c.
Mác và Ăng-ghen sử dụng không phải như một ẩn dụ văn học mà theo ý nghĩa “Kinh tế học” nghiêm ngặt của nó. Trong Hệ tư tưởng Đức khi hai ông nói đến “tư liệu sản xuất vật chất”, thì cũng đồng thời nói đến “tư liệu sản xuất tinh thần nói đến “Những nqười sản xuất tư tưởng đến việc “điều tiết sự sản xuất và phân phối tư tưởng”. 8 Sau này, trên cơ sở khảo sát toàn bộ những luận điểm của C. Mác và Ăng-ghen về xã hội, các nhà khoa học thuộc trường phái “xã hội học chức năng” về văn hoá của Liên Xô (cũ) đã nêu ra 5 tiểu hệ thống cấu thành nên xã hội.
Đó là: a) Hệ thống sản xuất vật chất làm chức năng chủ yếu đảm bảo sự trao đổi vật chất giữa con người và thiên nhiên. b) Hệ thống tái sinh sản và phát triển về mặt sinh vật của con người, bao gồm các hệ thống tổ chức gia đình, cưới hỏi, hệ thống dịch vụ y tế và rèn luyện thân thể. Chức năng chủ yếu của nó là duy trì và phát triển chủng loại người. c) Hệ thống sản xuất tinh thần, làm chức năng bồi dưỡng con người về mặt tri thức, tình cảm và đạo đức để trở thành những thành viên tích cực của xã hội.
d) Hệ thống giao tiếp xã hội, làm chức năng liên kết tất cả mọi người trong cộng đồng xã hội, giúp cho xã hội hoạt động được như một xã hội hoàn chỉnh, đồng thời cũng giúp tạo thành những nhóm xã hội nhỏ trong hệ thống xã hội rộng lớn. e) Hệ thống tổ chức và quản lý, làm chức năng phối hợp sự hoạt động của các hệ thống nhỏ trong hệ thống xã hội lớn nói chung.36,37] Nếu như sản xuất vật chất tạo ra những sản phẩm vật chất, giúp cho con người tồn tại như một sinh thể, thì sản xuất tinh thần tạo ra những tư tưởng, biểu tượng, ý thức, làm cho con người tồn tại như một “sinh thể tinh thần”, tức một sinh thể có văn hoá. Đến đây, có một điểm cần phải làm rõ: Văn hoá thuộc lĩnh vực sản xuất tinh thần, nhưng không thể đồng nhất sản xuất tinh thần với văn hoá. Bởi vì, văn hoá còn là lĩnh vực của giá trị, tức sản phẩm của nó bao giờ cũng chứa đựng những giá trị nhân bản, phục vụ cho tiến bộ xã hội.
Trong nền sản xuất tinh thần không phải mọi sản phẩm của nó đều có giá trị. Chẳng hạn: ma 9 thuật, phù thuỷ. là những hiện tượng văn hoá từng có chức năng quan trọng trong đời sống tinh thần của xã hội nguyên thuỷ, ngày nay khi khoa học đã phát triển thì chúng trở thành những hiện tượng lỗi thời, phản giá trị, không được coi là sản phẩm văn hoá. Vì vậy, ở đây tác giả đã sử dụng thuật ngữ quá trình sản xuất văn hoá (hay hệ thống sản xuất văn hoá) thay cho hệ thống sản xuất tinh thần.
Tóm lại, theo hướng tiếp cận xã hội học chức năng về văn hoá, chúng ta có thể hiểu văn hoá như là “Một hệ thống sản xuất, bảo quản, phân phối, trao đổi và tiêu dùng văn hoá phẩm trong xã hội”. Trần Ngọc Thêm, từ “văn hoá” có nhiều nghĩa, nó được dùng để chỉ những khái niệm có nội hàm hết sức khác nhau. Tuy được dùng theo nhiều nghĩa khác nhau, nhưng suy cho cùng, khái niệm “văn hoá” bao giờ cũng có thể quy về hai cách hiểu chính: theo nghĩa hẹp và theo nghĩa rộng. Theo nghĩa hẹp, văn hoá được giới hạn theo chiều sâu hoặc theo chiều rộng, theo không gian hoặc theo thời gian… Giới hạn theo chiều sâu, văn hóa được hiểu là những giá trị tinh hoa của nó (nếp sống văn hoá, văn hoá nghệ thuật…).
Giới hạn theo chiều rộng, văn hoá được dùng để chỉ những giá trị trong từng lĩnh vực (văn hoá giao tiếp, văn hoá kinh doanh…). Giới hạn theo không gian, văn hoá được dùng để chỉ những giá trị đặc thù của từng vùng (văn hoá Tây Nguyên, văn hoá Nam Bộ…). Giới hạn theo thời gian, văn hoá được dùng để chỉ những giá trị trong từng giai đoạn (văn hoá Hoà Bình, văn hoá Đông Sơn…)… Theo nghĩa rộng, văn hoá thường được xem là bao gồm tất cả những gì do con người sáng tạo ra. Năm 1940, Hồ Chí Minh đã viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương 10 thức sử dụng.
Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”[20, tr.320] Federico Mayor, Tổng giám đốc UNESCO, cho biết: “Đối với một số người, văn hóa chỉ bao gồm những kiệt tác tuyệt vời trong các lĩnh vực tư duy và sáng tạo; đối với những người khác, văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động. Cách hiểu thứ hai này đã được cộng đồng quốc tế chấp nhận tại Hội nghị liên chính phủ về các chính sách văn hoá họp năm 1970 tại Venise” [30]. Theo Đại từ điển Tiếng Việt - Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam trang 1796 thì văn hóa là những giá trị vật chất, tinh thần do con người tạo ra trong lịch sử: nền văn hóa các dân tộc; kho tàng văn hóa dân tộc.
Đời sống tinh thần của con người: phát triển kinh tế và văn hóa; chú ý đời sống văn hóa của nhân dân. Tri thức khoa học, trình độ học vấn: trình độ văn hóa; học các môn văn hóa. Lối sống, cách ứng xử có trình độ cao: người có văn hóa; gia đình văn hóa mới. Nền văn hóa một thời kì lịch sử cổ xưa, xác định được nhờ tổng thể các di vật tìm được có những đặc điểm chung: văn hóa Đông Sơn; văn hóa rìu hai vai.
Tóm lại, các định nghĩa về văn hóa hiện nay rất đa dạng, mỗi định nghĩa đề cập đến những dạng thức hoặc những lĩnh vực khác nhau trong văn hóa. Dựa trên các định nghĩa đã nêu để xác định một khái niệm văn hóa nhằm thuận tiện cho việc thu thập và phân tích dự liệu khi nghiên cứu luận văn, theo quan điểm của tác giả, dưới góc độ pháp luật văn hóa là sản phẩm của con người được tạo ra trong quá trình lao động (từ lao động trí óc đến lao động chân tay), được chi phối bởi môi trường (môi tự nhiên và xã hội) xung quanh 11 và tính cách của từng tộc người.