Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm quản lý Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì Quản lý là việc chăm nom và điều khiển các hoạt động trong một tổ chức, ban quản lý nhân sự; trông nom, giữ gìn và sắp xếp quản lý thư viện; quản lý sổ sách…[42, tr. Trong giáo trình Khoa học quản lý có nêu: Quản lý là một hệ thống bao gồm những nhân tố cơ bản: chủ thể quản lý, khách thể quản lý, mục tiêu quản lý, công cụ, phương tiện quản lý, cách thức quản lý và môi trường quản lý.
Những nhân tố đó có quan hệ và tác động lẫn nhau để hình thành nên những quy luật quản lý [19, tr. Quản lý là một hoạt động có hướng đích của chủ thể quản lý, tác động lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra. Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân hay một nhóm người, một tổ chức. Đối tượng quản lý có thể là một cá nhân, một nhóm người, cộng đồng hay một tổ chức.
Theo chúng tôi, quản lý là sự tác động liên tục, có tổ chức, có chủ đích của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý để đạt được mục tiêu đề ra. Muốn tác động liên tục, có tổ chức, có chủ đích, người quản lý phải thực hiện 5 khâu quan trọng là: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo triển khai kế hoạch, điều chỉnh kế hoạch cho phù hợp với thực tiễn, kiểm tra, kiểm soát, đánh giá việc thực hiện kế hoạch. Mục đích quản lý nhà nước về văn hóa là giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. 7 Cơ sở pháp lý của quản lý nhà nước về văn hóa là hiến pháp, luật và các văn bản quy phạm pháp luật khác.
Cách thức quản lý là sự tác động liên tục, có tổ chức, có chủ đích chứ không phải là việc làm có tính thời vụ, cũng không phải là sự thụ động của nhà quản lý, càng không phải là hoạt động đơn lẻ, tùy tiện của nhà quản lý. Thành tố quan trọng nhất trong quản lý là chủ thể quản lý, quyết định mục đích, cách thức quản lý và lựa chọn công cụ quản lý. Bởi vậy, quản lý nhà nước có những đặc điểm: mang tính quyền lực đặc biệt, tính tổ chức cao; có mục tiêu chiến lược, chương trình và kế hoạch thực hiện mục tiêu; có tính chủ động, sáng tạo và linh hoạt trong việc điều hành, phối hợp, huy động mọi lực lượng; có tính liên tục, tính tổ chức, tính thống nhất. Muốn vậy bộ máy nhà nước phải ổn định, thống nhất từ trung ương đến địa phương; hệ thống pháp luật phải đồng bộ và hoàn thiện phù hợp với yêu cầu thực tế khách quan.
Quản lý nhà nước về văn hóa Quản lý nhà nước về văn hóa là sự tác động liên tục, có tổ chức, có chủ đích của Nhà nước bằng hệ thống pháp luật và bộ máy nhằm phát triển văn hóa, điều chỉnh hoạt động của mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực văn hóa và liên quan. Nội hàm quản lý nhà nước về văn hóa và các thành tố cấu thành hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa bao gồm một số vấn đề: - Chủ thể quản lý nhà nước về văn hóa là nhà nước, được tổ chức thống nhất từ trung ương đến địa phương, quyền quản lý được phân cấp từ cấp trung ương đến cấp cơ sở (xã, phường). Quản lý nhà nước về văn hóa ở cấp xã thì UBND xã là chủ thể quản lý nhà nước. Công chức văn hóa - xã hội xã được giao nhiệm vụ quản lý nhà nước về văn hóa giúp UBND xã là chủ thể quản lý nhà nước về văn hóa trên địa bàn xã.
8 - Khách thể quản lý nhà nước về văn hóa là văn hóa và các cơ quan, tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực văn hóa hoặc có liên quan đến lĩnh vực văn hóa. Văn hóa theo nghĩa cụ thể là: các hoạt động văn hóa và các giá trị văn hóa (di sản văn hóa vật thể và phi vật thể). - Quản lý nhà nước về văn hóa là giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. - Quản lý nhà nước về văn hóa là hiến pháp, luật và các văn bản quy phạm pháp luật khác.
Công cụ quản lý là hệ thống luật và các văn bản có tính pháp quy. Hai tác giả Phan Hồng Giang và Bùi Hoài Sơn đã đưa ra khái niệm: Quản lý văn hóa là công việc của Nhà nước được thực hiện thông qua việc ban hành, tổ chức thực hiện, kiểm tra và giám sát việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực văn hóa, đồng thời nhằm góp phần phát triển kinh tế, xã hội của từng địa phương nói riêng, cả nước nói chung [16, tr. Từ những trích dẫn nêu trên có thể hiểu rằng công tác quản lý văn hóa là công việc của cơ quan chính quyền Nhà nước ở bốn cấp thông qua các công việc, nhiệm vụ cụ thể và Nhà nước quản lý văn hóa bằng các công cụ pháp luật vì mục tiêu gìn giữ các giá trị văn hóa trong quá trình phát triển cộng đồng và quốc gia trên mọi phương diện. Mục đích quản lý nhà nước về văn hóa là giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.
Cơ sở pháp lý của quản lý nhà nước về văn hóa là hiến pháp, luật và các văn bản quy phạm pháp luật khác. Bởi vậy, quản lý nhà nước có những 9 đặc điểm: mang tính quyền lực đặc biệt, tính tổ chức cao; có mục tiêu chiến lược,chương trình và kế hoạch thực hiện mục tiêu; có tính chủ động, sángtạo và linh hoạt trong việc điều hành, phối hợp, huy động mọi lực lượng; có tính liên tục, tính tổ chức, tính thống nhất. Muốn vậy bộ máy nhà nước phải ổn định, thống nhất từ trung ương đến địa phương; hệ thống pháp luật phải đồng bộ và hoàn thiện phù hợp với yêu cầu thực tế khách quan. Di sản văn hoá Theo Luật Di sản văn hóa năm 2001 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 có quy định về DSVH, DSVH phi vật thể, DSVH vật thể như sau: DSVH bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.
Tại Điều 4, Luật Di sản văn hóa Việt Nam đã định nghĩa: Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan; có giá trị lịch sử văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng; không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác[33] Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia [33]. Như vậy, di sản văn hóa ở nước ta là thành quả quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước của các thế hệ người Việt Nam qua hàng nghìn năm lịch sử. Cán bộ văn hóa - xã hội các cấp cần đọc kỹ Luật Di sản văn hóa để biết về một số khái niệm liên quan đến di sản như di sản văn hóa 10 phi vật thể, di sản văn hóa vật thể, di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia. Quản lý di sản văn hoá Từ các khái niệm Quản lý có thể khái quát và đưa ra một khái niệm về quản lý di sản văn hoá như sau: Quản lý di sản văn hoá là sự định hướng, tạo điều kiện tổ chức điều hành việc bảo vệ, giữ gìn các di sản văn hóa, làm cho các giá trị của di sản văn hóa được phát huy theo chiều hướng tích cực, phục vụ nhu cầu hưởng thụ văn hóa của công chúng trong xã hội, phục vụ thiết thực mục tiêu xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và hội nhập quốc tế.
Luật Di sản văn hóa do Quốc hội nước CHXH chủ nghĩa Việt Nam ban hành năm 2001, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Di sản văn hóa năm 2009, việc quản lý di sản văn hóa được bao gồm: 1. Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa. Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về di sản văn hóa. Tổ chức, chỉ đạo các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về di sản văn hóa.
Tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên môn về di sản văn hóa. Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa. Tổ chức, chỉ đạo khen thưởng trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa. Tổ chức và quản lý hợp tác quốc tế về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa.
Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về di sản văn hóa [33, tr. Bảo tồn và phát huy 1. Khái niệm bảo tồn Bảo tồn văn hóa là sự bảo vệ tồn tại của văn hóa.