CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN - TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ THỰC TRẠNG DẠY HOÀ ÂM Ở HỌC VIỆN ÂM NHẠC QUỐC GIA VIỆT NAM 1.1 Cơ sở lý luận Hòa âm là một môn học quan trọng trong chương trình đào tạo âm nhạc chuyên nghiệp tại các Học viện âm nhac, Nhạc viện. Từ trình độ trung cấp đến đại học, từ các chuyên ngành biểu diễn đến các chuyên ngành Sáng tác - Chỉ huy - Âm nhạc học, ở mỗi cấp học, mỗi chuyên ngành, học sinh - sinh viên được tiếp cận với các kiến thức, các kỹ năng thực hành hòa âm khác nhau. Môn Hòa âm giúp cho học sinh - sinh viên có thể hiểu về cấu trúc hình thức của tác phẩm, sự sắp xếp các dạng hợp âm trong các điệu thức khác nhau và những nguyên lý kết hợp các hợp âm theo chiều dọc và chiều ngang cũng như vị trí các hợp âm trong tác phẩm âm nhạc v.v… Qua đó có thể hiểu thêm về quan điểm thẩm mỹ, phong cách sáng tác của tác giả. Chúng ta biết rằng âm nhạc là một bộ môn nghệ thuật được biểu hiện bằng âm thanh.
Những yếu tố quan trọng của âm nhạc đó là: giai điệu, hòa âm, tiết tấu, âm sắc, tốc độ và cường độ v.v… Trong âm nhạc phương Tây, hòa âm là yếu tố nổi bật nhất và được phát triển cao nhất. Hòa âm là một phương tiện biểu hiện rất quan trọng trong việc diễn tả nội dung của một tác phẩm âm nhạc. Hòa âm còn đóng góp trong việc hình thành hình thức tác phẩm âm nhạc. Hòa âm giúp cho việc phân chia tác phẩm thành những phần, những giai đoạn hoàn thiện cùng mối liên hệ giữa chúng với nhau.
Trong tác phẩm âm nhạc, hòa âm luôn luôn liên quan chặt chẽ với các yếu tố âm nhạc khác đặc biệt là với giai điệu. 10 Cùng với giai điệu, hòa âm là một trong những lĩnh vực chịu nhiều sự thay đổi do ảnh hưởng của thời đại, của bản sắc dân tộc và phong cách sáng tác của từng nhạc sĩ. Do vậy hòa âm là một lĩnh vực có lịch sử phát triển, biến đổi rất phong phú và phức tạp. Trong lịch sử phát triển của hòa âm, kể từ khi nhạc sĩ J.
Rameau (1683 -1764) đúc kết thành những nguyên lý mang tính khoa học cho đến nay, ngôn ngữ hòa âm đã có rất nhiều thay đổi. Do ở mỗi giai đoạn, mỗi trường phái âm nhạc, luôn đòi hỏi cần có sự đổi mới về các phương tiện thể hiện nghệ thuật âm nhạc cho phù hợp với nội dung, với yêu cầu của xã hội đương thời. Đặc biệt, nền âm nhạc Châu Âu cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã có nhiều trào lưu, nhiều trường phái, nhiều khuynh hướng sáng tác cũng như quan điểm nghệ thuật, quan điểm thẩm mỹ xuất hiện. Các nhà soạn nhạc ở giai đoạn này đều lao vào để tìm kiếm mọi khả năng biểu hiện ở mức độ tối đa của ngôn ngữ hòa âm… [24/tr.121] Hòa âm ở thế kỷ XX có nhiều khuynh hướng mới, nhiều thủ pháp mới hoàn toàn xa rời những nguyên tắc hòa âm của những thế kỷ trước.
Vì lý do đó, chúng tôi cho rằng việc đưa những kiến thức hòa âm ở thế kỷ XX vào chương trình giảng dạy môn hòa âm trong HVANQHVN là rất cần thiết. Việc làm này sẽ giúp cho sinh viên có những kiến thức cơ bản về hòa âm trong giai đoạn hiện đại. Giúp các em có thể hiểu và xử lý các tác phẩm âm nhạc thế kỷ XX có hiệu quả hơn. Tuy nhiên, như trên chúng tôi đã trình bày, ngôn ngữ hòa âm ở thế kỷ XX rất phức tạp và phong phú vì có nhiều trường phái, nhiều khuynh hướng sáng tác khác nhau, dẫn đến có rất nhiều thủ pháp phát triển mới, kết hợp cùng lúc các dạng điệu thức với nhau và ra đời nhiều dạng cấu tạo hợp âm không sắp xếp theo qui luật quãng ba như cấu tạo hợp âm chồng quãng bốn, cấu tạo hợp âm chồng quãng hai và nhiều dạng hợp âm thêm nốt v.v…Với 11 thời lượng dành cho môn hòa âm rất khiêm tốn, mặt bằng chung về kiến thức hòa âm của sinh viên còn thấp, vì vậy chúng tôi khi viết luận án này đã phải lựa chọn trong những phần kiến thức hòa âm thế kỷ XX những nội dung nổi bật vừa đơn giản, dễ hiểu, nhưng thể hiện được những điểm đặc trưng của hòa âm ở giai đoạn này để đưa vào chương trình giảng dạy.
Chúng tôi hy vọng những nghiên cứu và thử nghiệm của mình sẽ góp phần vào việc đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo môn Hòa âm trong HVANQG VN.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu về hoà âm thế kỷ XX 1.1 Sách và các công trình nghiên cứu ở nước ngoài Có thể nói trên thế giới, sách hoà âm thì vô cùng phong phú và phần nhiều các sách thường đề cập đến kiến thức hoà âm cổ điển. Để phù hợp với đề tài nghiên cứu, chúng tôi có cơ hội được tiếp cận với một số tài liệu có liên quan đến hoà âm thế kỷ XX và đây cũng là những tư liệu quí giúp chúng tôi có thể cập nhật được những vấn đề chuyên môn trong giai đoạn hiện nay. Theo chúng tôi tìm hiểu, hiện nay trên thế giới tài liệu đã xuất bản dưới dạng sách giáo khoa hòa âm thế kỷ XX được sử dụng ở nhiều trường âm nhạc là: - Cuốn Hoà âm thế kỷ XX - Twentieth-Century Harmony do Vincent Persichetti biên soạn (Nhà xuất bản W.Norton &Company, 1961) dày 279 trang. Đây là một trong những cuốn hòa âm phần nào đã đúc kết một cách khoa học về đặc điểm ngôn ngữ hòa âm nửa đầu âm nhạc thế kỷ XX.
Tác giả Vincent Persichetti còn được nhiều người biết đến là cuốn lý thuyết hòa âm thế kỷ XX của ông với tiêu đề Twentieth-Century Harmony Creative Aspects and Practice. Chúng tôi sẽ trình bày nội dung chi tiết hơn trong chương 2 của luận án. Ngoài ra còn một số công trình sau: - Cuốn Lý thuyết hoà âm - Theory of Harmony của Arnold 12 Schönberg (người dịch Roy E.Carter), Nxb University of California Press Berkeley Los Angeles, in lần đầu tiên vào năm 1911 và tái bản năm 1949, sau này cuốn sách tiếp tục được Nxb London - Faber and Faber xuất bản vào năm 1962. Cuốn sách nặng về giải thích lý thuyết.
Sách dày 441 trang, bao gồm 22 chương, được giới thiệu đến các vấn đề như trình bày hệ thống lý thuyết (Theory or System of Presentation), phương pháp dạy hòa âm (The Method of Teaching Harmony), thuận & nghịch (Consonance and Dissonance), điệu thức trưởng và các hợp âm Diatonic (The Major Mode and the Diatonic Chords), điệu thức thứ (The Minor Mode), sự nối tiếp các hợp âm (Connection of chords), các loại kết - kết ngắt (Cadences - Deceptive Cadences), chuyển điệu (Modulation), hợp âm át phụ và các hợp âm không thuộc Diatonic đến từ các điệu thức nhà thờ (Secondary Dominants and other Non-Diatonic Chords derived from the Church Modes), mối quan hệ với các hợp âm hạ át thứ (Relationship to the Minor Sub-Doninant), hòa âm kinh thánh (Chorale Harmonization), thang âm toàn cung và mối liên quan đến những hợp âm năm và sáu bè (The Whole-Tone Scale and Related five and six-part chords). Trong quyển này nhạc sĩ Arnold Schönberg đã dành 23 trang nằm trong hai chương cuối cùng XXI và XXII để giới thiệu về cấu trúc hợp âm chồng theo quãng bốn (Chords contructed in Fourths) (trang 399 - 410) và những hợp âm với sáu nốt hay nhiều nốt hơn nữa (Chords with six or more tones) (trang 411- 422). - Cuốn Cấu trúc âm nhạc vô điệu tính - The structure of Atonal Music của Allen Forte (New Haven and London Yale University Press, 1973). Bao gồm 224 trang, được chia thành hai phần: phần thứ nhất, tác giả đã đưa ra cái nhìn tổng thể về những âm thanh và mối tương quan giữa các cao độ (Pitch- Class Set and Relation) và phần thứ hai là những âm thanh phức tạp (Pitch- Class Set Complexes).
Cuốn sách này chủ yếu nêu vấn đề về lý thuyết và rất 13 ít có thực hành. - Cuốn Chức năng cấu trúc hoà âm - Structural Fuctions of Harmony của Arnold Schönberg (Nxb faber and faber in Great Britain, in lần đầu tiên vào năm 1954 và tái bản năm 1983). Bao gồm 201 trang, được chia thành mười hai chương, đề cập đến các nội dung như chức năng cấu trúc của hoà âm (Structural Functions of Harmony), những nguyên tắc cơ bản của hoà âm (Principles of Harmony), các sự thay thế và phạm vi (Substitutes and Regions), các phạm vi trong giọng thứ (Regions in Minor), sự chuyển dịch (Transformations), hoà âm vô định (Vagrant Harmonies), sự hoán đổi của giọng Trưởng và Thứ (Interchangeability of Major and Minor), kết quan hệ gần (Indirect but Close Relations), phân loại mối quan hệ (Classification of Relationship), điệu tính mở rộng (Extended Tonality). - Cuốn Hoà âm của Đức - Der Musikalischer Satz 14.
Jahrhundert Rhythmik Harmonik Kontrapunktik Klangkomposition Jazzarrangerment Minimal-Music do Walter Salmen & Norbert J.Schneider biên soạn (Copyright 1987 - Nhà xuất bản Edition Helbling Inbruck). Giáo trình này được dùng phổ biến ở CHLB Đức. Trong quyển sách này tác giả chia làm ba phần, có mười chín chương, bao gồm 290 trang. Phần thứ nhất (chương I và chương II) giới thiệu các vấn đề cơ bản trong âm nhạc, hợp âm ba chính, ba phụ và các thể đảo, hợp âm bảy và các thể đảo v.v… Phần thứ hai (từ chương III đến chương IX), giới thiệu âm nhạc phức điệu từ thế kỷ XIV-XIX, cách viết phức điệu hai, ba bè và viết hợp xướng bốn bè nhà thờ, hoà âm trưởng thứ thế kỷ XVIII - XIX, biến âm, chuyển điệu v.v… Phần thứ ba giới thiệu về âm nhạc thế kỷ XX, (từ chương X đến XIX), trong đó chương X (trang 187 - 204) đề cập đến một số vấn đề hoà âm sau năm 1900 như cấu tạo chồng nhiều âm theo các quãng bốn, quãng năm, quãng hai và các hợp âm ngoài cấu trúc quãng ba v.v… được mở rộng hơn so với sách hoà âm cổ điển, điệu thức 14 Pentatonic, Diatonic, Chromatic, các dạng tiết tấu mới và ký hiệu chỉ dẫn mới trong âm nhạc v.v… Ngoài ra, còn giới thiệu âm nhạc Dodecaphone, âm nhạc Serialitaet, âm nhạc Aleatorik, âm nhạc điện tử (Elektronische Musik), âm nhạc giảm thiểu (Minimal-Musik), âm nhạc Mikrotoene, hoà âm nhạc Jazz.
Giáo trình này tôi được học từ những năm 1997-1998 tại Hoch Schueler Fuer Musik Koeln. Khi học về phần hoà âm thế kỷ XX, chúng tôi được tiếp cận bằng cách nghe nhiều các tác phẩm hiện đại (Neuer Musik), nhìn các bản phổ rất lạ và trực tiếp được thầy giáo chuyên ngành người Đức - Johannes Fritsch (1941-2010) giảng chi tiết về tác phẩm hiện đại và thường xuyên được tiếp cận nghe thực tế tại Feedback Studio của Thầy.