Mở đầu” của luận văn: “chương trình giảng dạy nhạc cụ truyền thống tại trường ĐHVHNTQĐ phần lớn được xây dựng từ nền tảng chương trình giảng dạy của trường Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam" nên nhìn chung, khung chương trình đào tạo của trường ĐHVHNTQĐ không khác nhiều so với HVÂNQGVN. Tại trường HVÂNQGVN, chương trình đào tạo được ấn định như sau: - Đối với học sinh TC (6 năm) + Năm thứ nhất và năm thứ hai: giải quyết các kỹ thuật tay phải và tay trái, ứng dụng trên các bài dân ca Bắc – Trung – Nam.và các ca khúc thiếu nhi chuyên soạn. 17 + Năm thứ ba: tiếp tục học thêm các kỹ thuật rung, vỗ, vuốt – những kỹ thuật được sử dụng trong các làn điệu Chèo, học sinh được làm quen dần với phong cách Chèo, các ca khúc và sáng tác mới. + Năm thứ tư: củng cố các kỹ thuật đã học, ứng dụng trong một số bài bản nhỏ của nhạc Huế, cùng các ca khúc và sáng tác mới.
+ Năm thứ năm: hoàn thiện các kỹ thuật trên đàn Bầu, học kỹ thuật vê và gảy 2 chiều, làm quen với phong cách nhạc Tài tử – Cải lương, song song với các điệu Lý của Nam Bộ. + Năm thứ sáu: là năm tốt nghiệp nên học sinh được ôn luyện tổng hợp các kỹ thuật và các bài bản cổ của cả 3 phong cách, cùng với các tác phẩm tiêu biểu viết cho đàn Bầu phù hợp với trình độ TC. - Đối với học sinh Đại học (4 năm) + Năm thứ nhất: học phong cách Chèo và tác phẩm được sáng tác dựa trên chất liệu Chèo. + Năm thứ hai: học phong cách Huế và các tác phẩm mới cùng chất liệu.
+ Năm thứ ba: học phong cách Tài tử – Cải lương với các tác phẩm mới cùng chất liệu. + Năm thứ tư: năm tốt nghiệp, sinh viên được ôn luyện tổng hợp các bài bản cổ và các tác phẩm mới để lựa chọn ra các bài tiêu biểu và phù hợp đối với trình độ tốt nghiệp. Đối với cả 2 chương trình giảng dạy thì 3 phong cách nhạc cổ đều được sắp xếp theo thứ tự: Chèo – Huế – Tài tử Cải lương, và 4 năm ĐH thì chương trình học của cả 2 trường hầu như giống nhau. Tuy nhiên, so với HVÂNQGVN có chương trình đào tạo bậc TC là 6 năm, thì 4 năm học TC tại ĐHVHNTQĐ là chặng đường rất gian nan và thử thách.
Trong 2 năm đầu, tại HVÂNQGVN, học sinh được chú tâm học riêng về các kỹ thuật của đàn Bầu, và có 5 năm để nâng cao dần mức độ khó và hoàn thiện tất cả các kỹ thuật của đàn Bầu song song với các phong cách nhạc cổ. Trong khi đó tại ĐHVHNTQĐ, học sinh chỉ có 1 năm để tập trung học riêng về 18 các kỹ thuật cơ bản của đàn Bầu và 2 năm tiếp theo để hoàn thiện toàn bộ kỹ thuật song song với các phong cách nhạc cổ là Chèo và Huế. Chưa kể, tuyển sinh bắt đầu từ độ tuổi 14 – 17 tuổi là một thách thức rất lớn đối với trường ĐHVHNTQĐ, bởi ở tuổi này, xương học sinh hầu như đã cứng cáp, mất rất nhiều thời gian mà cũng rất khó để uốn nắn cho học sinh những kỹ thuật cơ bản cần sự mềm mại. Vì vậy, người giảng viên cần tìm ra phương pháp giảng dạy, phương pháp truyền đạt phù hợp với học viên nhất, kết hợp với giáo trình giảng dạy phù hợp với chương trình giảng dạy của trường ĐHVHNTQĐ.
Bởi vậy, việc sử dụng y nguyên giáo trình của HVÂNQGVN phục vụ cho việc giảng dạy cũng chưa thực sự phù hợp, đòi hỏi phải có một giáo trình khác vừa cơ bản, vừa phong phú và đa dạng về kỹ thuật cũng như bài bản, phù hợp với mọi trình độ của học sinh trong môi trường giảng dạy của trường ĐHVHNTQĐ. Về giáo trình chúng tôi sẽ phân tích cụ thể hơn trong phần sau. Với mục tiêu đào tạo cho học sinh kiến thức âm nhạc toàn diện, trong quá trình học tập tại trường, học sinh sẽ được trang bị kiến thức âm nhạc cũng như các kỹ năng diễn tấu của cây đàn để có thể xử lý tốt các bài bản cổ cũng như các tác phẩm mới. Các phong cách truyền thống: Chèo, Huế, Tài tử – Cải lương và Tuồng được học phải được học viên nắm vững và chơi một cách bài bản, có thể đáp ứng phần lớn yêu cầu của các dàn nhạc sân khấu.
Vì vậy, tiêu chí chọn bài bản đưa vào giáo trình giảng dạy phụ thuộc vào thời lượng nhưng vẫn phải đáp ứng được mục đích đào tạo của trường đã đưa ra. Các làn điệu Chèo được dùng cho đàn Bầu ở bậc TC: + Lới lơ, Cách cú, Hề mồi, Xẩm xoan, Dương xuân, Gà rừng. Đây là các làn điệu ngắn, giai điệu hay và dễ thuộc, là bước đầu đưa học viên làm quen với âm nhạc Chèo. Đây là những làn điệu đã được rút ngắn lại chỉ học 2 trổ, hoặc các ngón kỹ thuật được soạn đơn giản, phù hợp với trình độ TC.
19 - Các làn điệu được dùng cho đàn Bầu ở bậc ĐH: + Đào liễu, Luyện năm cung, Chinh phụ, Tình thư hạ vị, Nhịp đuổi, Tò vò, Làn thảm, Sa lệch chênh. Đây là những làn điệu diễn tấu với tốc độ hơi chậm hoặc chậm, một số bài bản so với trình độ TC đã được soạn với kỹ thuật khó hơn, đầy đủ hơn (như làn điệu Đào liễu, Luyện năm cung, Nhịp đuổi được thêm vỉa, thêm trổ.), đòi hỏi các em phải xử lý nắn nót và điêu luyện chứ không chỉ dừng lại ở việc thuộc bài như ở trình độ TC Sự phân bố các làn điệu học từ TC đến ĐH về cơ bản có thể coi là hợp lý. Dĩ nhiên, giảng viên vẫn phải dựa vào trình độ tiếp thu của hssv để lựa chọn bài bản cho phù hợp. Một số làn điệu như Đào liễu, Luyện năm cung trong năm TC học sinh được học 2 trổ, hay Cấm giá, Bình thảo, lên tới ĐH thì sinh viên được học các làn điệu đủ trổ, hoặc một trích đoạn hoàn thiện (Thị Mầu lên chùa).
Ưu điểm của việc cho sinh viên học lại một cách kỹ hơn những làn điệu đã học từ bậc TC là sinh viên có thể biết được bố cục của bài, làn điệu đó có bao nhiêu trổ, mối quan hệ giữa từng trổ. Nhược điểm rất lớn chương trình học là mặc dù các phong cách truyền thống được giảng dạy nhằm giới thiệu chứ không chuyên sâu, nhưng với số lượng bài trong chương trình học như vậy vẫn còn nghèo nàn, giảng viên không có nhiều sự lựa chọn để đưa ra những làn điệu phù hợp với sở trường của hssv, ngoài ra sự lặp lại các bài bản trong 2 bậc TC và ĐH dễ gây nhàm chán cho cả người học lẫn người dạy. Thời gian cho việc học chuyên ngành là 60 tiết/ năm, 2 tiết/ tuần (học trong 15 tuần) kéo dài trong 2 học kỳ (mỗi kỳ 15 tuần = 30 tiết). Mỗi năm có 4 đợt kiểm tra chất lượng chuyên môn: 2 kỳ thi giữa học kỳ và 2 kỳ thi cuối học kỳ.
+ Bậc TC: Thi giữa học kỳ: 2 bài (1 bài tập + 1 tiểu phẩm hoặc 1 bài bản) Thi cuối học kỳ: 3 bài (1 bài tập + 1 tiểu phẩm + 1 bài bản hoặc 1 nhạc cổ) 20 Thi tốt nghiệp (cuối năm thứ 4): 5 bài (3 nhạc cổ tự chọn giữa Chèo – Huế – Cải lương và 2 tác phẩm ) + Bậc ĐH: Thi giữa học kỳ: 2 bài (1 nhạc cổ + 1 tác phẩm hoặc 2 nhạc cổ) Thi cuối học kỳ: 3 bài (2 nhạc cổ + 1 tác phẩm hoặc 1 nhạc cổ + 2 tác phẩm) Thi tốt nghiệp (cuối năm thứ 4): 5 bài (đầy đủ 3 nhạc cổ theo 3 phong cách khác nhau và 2 tác phẩm). Tùy theo chương trình học mà lựa chọn bài thi, ví dụ năm thứ nhất bậc ĐH, sinh viên được học Chèo, kỳ thi cuối học kỳ sẽ tự chọn 2 làn điệu Chèo và 1 tác phẩm, hoặc 1 làn điệu Chèo và 2 tác phẩm. Năm thứ 2 bậc TC, học sinh được tiếp xúc với Chèo song song với học kỹ thuật cơ bản và các bài dân ca, kỳ thi giữa học kỳ và cuối học kỳ, học sinh được lựa chọn giữa 1 bài ca khúc, dân ca hoặc 1 làn điệu Chèo. Qua thực tế chúng tôi nhận thấy đối với trình độ TC thì kỹ thuật diễn tấu của học sinh TC năm thứ 2 còn rất hạn chế, nên học sinh thường chọn bài thi học kỳ là các bài bản ca khúc chứ không chọn thi bằng làn điệu Chèo.
b/ Học hát Chèo: Tại trường ĐHVHNTQĐ, hát Chèo chưa trở thành 1 môn học độc lập mà chỉ đơn thuần là một số tiết đầu học kỳ nằm trong số các tiết hòa tấu, bổ trợ cho bộ môn hòa tấu và không nằm trong chương trình thi học kỳ. Tùy vào sự sắp xếp của khoa mà mỗi năm học Chèo hssv sẽ được học hát Chèo 8 tiết/ 2 buổi/ 1 học kỳ. Theo chúng tôi, việc phân bổ như vậy chưa hợp lý, bởi việc học hát Chèo nếu được duy trì song song với việc học hòa tấu và nhạc cụ chuyên ngành sẽ đem lại nhiều thuận lợi hơn cho quá trình luyện tập và diễn tấu trên nhạc cụ. Điều này tạo cảm hứng, giúp sinh viên dễ thuộc, dễ tiếp thu hơn, cũng như hiểu được các kỹ thuật tinh tế của người hát để vận dụng vào nhạc cụ.
Theo Thạc sĩ Bùi Lệ Chi: “Việc nắm vững lòng bản thông qua lời ca là vô cùng cần thiết đối với một học sinh học nhạc cụ truyền thống”. Tác giả Vũ Nhật Thăng trong hội 21 thảo Nhạc viện Hà Nội khi thảo luận chủ đề: “Xướng âm cho sinh viên học nhạc cụ dân tộc” còn cho rằng: “Xướng âm dân tộc được thực hiện ở giai đoạn đầu của việc học nhạc dân tộc là hát các lòng bản…. Đó không phải là một thói quen vô lý mà là một việc làm bắt buộc để từ đó tạo khả năng cho người học nắm bắt được các tương quan cao độ với sự thay đổi quá tinh tế qua các hơi khác nhau”. Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc học hát bài bản cổ trong quá trình học đàn bài bản cổ.
c/ Học hòa tấu: Dàn nhạc Chèo hòa tấu theo một mạch chảy âm thanh thống nhất, tuy có lúc chìm, lúc nổi, lúc đối đáp, lúc đồng điệu, nương nhau cùng gắn kết. Không chỉ là việc thuộc lòng làn điệu để truyền cảm xúc vào giọng đàn của mình, nhạc công còn phải biết lắng nghe những nhạc cụ còn lại để cùng hòa điệu hòa sắc.