Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ âm nhạc học với đề tài "Kèn đồng trong hòa tấu thính phòng và giao hưởng tại thành phố Hồ Chí Minh", mã số chuyên ngành 62 21 02 01, được tác giả Hoàng Ngọc Long thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Minh Cầm tại Nhạc viện Thành phố Hồ Chí Minh, bảo vệ năm 2021.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong tiến trình hội nhập quốc tế và phát triển văn hóa, bên cạnh âm nhạc truyền thống, âm nhạc cổ điển phương Tây (thính phòng - giao hưởng) đã xác lập vị trí trong đời sống văn hóa nghệ thuật tại Việt Nam. Trong cấu trúc dàn nhạc thính phòng và giao hưởng, bộ kèn đồng đóng vai trò nền tảng về âm lượng, hòa âm và màu sắc âm sắc. Tuy nhiên, từ những năm 90 của thế kỷ XX, qua các dự án hợp tác biểu diễn âm nhạc giao hưởng quốc tế với sự tham gia của các nhạc trưởng nước ngoài như Fukumura, Meter Colin, Oliver, thực tế đã bộc lộ hạn chế rõ rệt của các nhạc công dàn nhạc Việt Nam nói chung và nhạc công kèn đồng nói riêng về kỹ năng hòa tấu.

Thực trạng đào tạo tại các cơ sở âm nhạc chuyên nghiệp trong nước tồn tại xu hướng tập trung chủ yếu vào kỹ năng độc tấu, trong khi kỹ năng hòa tấu dàn nhạc chưa được quan tâm tương xứng. Đồng thời, âm nhạc đương đại thế giới đòi hỏi các kỹ thuật biểu diễn mới (kỹ thuật mở rộng) và khả năng xử lý tiết tấu, màu sắc phức tạp. Tại Thành phố Hồ Chí Minh, mặc dù nghệ thuật biểu diễn giao hưởng đạt nhiều kết quả, việc nghiên cứu có hệ thống để giải quyết các vấn đề về âm chuẩn, tiết tấu, kỹ năng nghe nhìn và bổ sung kỹ thuật diễn tấu kèn đồng hiện đại vẫn là một khoảng trống học thuật chưa có công trình nào khảo sát toàn diện.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu được xác định từ góc nhìn âm nhạc học nhằm làm rõ các vấn đề liên quan đến các nhạc khí kèn đồng thuộc biên chế dàn nhạc giao hưởng phương Tây và nghệ thuật hòa tấu thính phòng - giao hưởng của các nhạc khí này tại Thành phố Hồ Chí Minh trên ba phương diện: biểu diễn, sáng tác và đào tạo.

Giả thuyết nghiên cứu

Luận án xây dựng ba giả thuyết nghiên cứu chính:

  1. Lịch sử văn hóa âm nhạc dân tộc tác động đến nghệ thuật hòa tấu thính phòng - giao hưởng tại Việt Nam. Nghệ thuật hòa tấu thính phòng - giao hưởng nói chung, các nhạc khí kèn đồng nói riêng, với tư cách một tiểu cấu trúc, là một hệ thống bao gồm nhiều yếu tố có mối quan hệ chặt chẽ, với những đặc điểm riêng gắn liền với nghệ thuật biểu diễn, sáng tác khí nhạc.
  2. Quá trình tiếp xúc, tiếp thu có chọn lọc các kỹ thuật sáng tác, biểu diễn âm nhạc từ các nền âm nhạc tiên tiến nước ngoài đã làm thay đổi các phương thức sáng tác, biểu diễn của bộ kèn đồng trong hòa tấu thính phòng - giao hưởng.
  3. Nội dung, chương trình đào tạo có vai trò và ảnh hưởng trực tiếp đến kỹ thuật biểu diễn, khả năng tiếp thu, truyền đạt nội dung tư tưởng và nghệ thuật trong hòa tấu thính phòng - giao hưởng.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Bốn nhạc khí kèn đồng thuộc biên chế chính thức của dàn nhạc giao hưởng cổ điển phương Tây gồm: horn (kèn Pháp/cor), trumpet, trombone và tuba trong nghệ thuật hòa tấu thính phòng - giao hưởng tại Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Phạm vi không gian: Tập trung vào các đơn vị biểu diễn chuyên nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh gồm Nhà hát Giao hưởng - Nhạc, Vũ kịch TP. Hồ Chí Minh (HBSO), Dàn nhạc giao hưởng Nhạc viện TP. Hồ Chí Minh, các Đoàn Quân nhạc; và hai cơ sở đào tạo chính quy là Nhạc viện TP. Hồ Chí Minh cùng Trường Đại học Văn hóa - Nghệ thuật Quân đội (cơ sở tại TP. Hồ Chí Minh).
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát tiến trình từ năm 1975 đến thời điểm thực hiện luận án (năm 2021).
  • Giới hạn nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu kèn đồng trong hình thức trình diễn hòa tấu (thính phòng và giao hưởng), không nghiên cứu thể loại tác phẩm sáng tác dành riêng cho độc tấu thuần túy.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả đã điểm luận và phân loại các tài liệu nghiên cứu liên quan theo các nhóm ngôn ngữ và chuyên đề cụ thể:

Các nghiên cứu trong nước (tiếng Việt)

  • Về nhạc khí và phối khí dàn nhạc: Sách Các nhạc khí trong dàn nhạc giao hưởng (1983) của Hồng Đăng phân tích âm vực, màu sắc âm thanh, kỹ thuật diễn tấu độc tấu và hòa tấu của 5 nhạc cụ bộ đồng (horn, trumpet, cornet, trombone, tuba). Sách Âm nhạc mới Việt Nam – Tiến trình và thành tựu (2000) của nhóm tác giả Tú Ngọc và Âm nhạc Thính phòng Giao hưởng Việt Nam - Sự hình thành và phát triển (2001) của Nguyễn Thị Nhung hệ thống hóa lịch sử phát triển khí nhạc thính phòng, giao hưởng Việt Nam.
  • Về nghệ thuật biểu diễn và đào tạo kèn gỗ, giao hưởng: Luận án tiến sĩ của Nguyễn Phúc Linh (1997) nghiên cứu phương pháp biểu hiện của kèn gỗ giao hưởng trong tác phẩm Việt Nam; Luận án tiến sĩ của Ngô Hoàng Linh (2008) về sự hình thành phát triển âm nhạc giao hưởng Việt Nam và nghệ thuật biểu diễn dàn nhạc; Luận án tiến sĩ của Phạm Ngọc Doanh (2011) về nghệ thuật biểu diễn kèn dăm kép tại Việt Nam; Luận án tiến sĩ của Ngô Phương Đông (2011) về đào tạo âm nhạc thế kỷ XX cho kèn Hautbois tại Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam.
  • Về chuyên ngành kèn đồng: Luận văn thạc sĩ của Đoàn Ngọc Nam (1998) về đào tạo kèn horn trong Quân nhạc; Luận văn thạc sĩ của Trần Quang Yển (2012) về nâng cao hiệu quả giảng dạy chuyên ngành trumpet bậc trung học tại Học viện Âm nhạc Huế.

Các công trình nghiên cứu nước ngoài và tài liệu dịch

  • Lịch sử và nghệ thuật diễn tấu kèn hơi: Công trình Духовые инструменты в истории музыкальной культуры (1973) của S. Usov khảo sát lịch sử kèn hơi từ thời tiền sử đến thế kỷ XX, chỉ ra bước ngoặt kỹ thuật thế kỷ XIX khi kèn horn và trumpet bán cung ra đời, nâng cao vị thế bộ đồng trong các tác phẩm của Berlioz, Wagner, Liszt.
  • Nghệ thuật phối khí: Công trình phối khí kinh điển của Hector Berlioz (1844/1845) miêu tả tính năng biểu cảm của từng nhạc cụ; Sách Những vấn đề của nghệ thuật phối dàn nhạc (1972) của Ma-Rin Gô-Lê-Mi-Nốp (Tô Hải dịch, NXB Văn Hóa, 2 tập) phân tích âm lượng, hòa âm bộ đồng và sự pha trộn âm sắc giữa bộ đồng với các bộ khác trong dàn nhạc giao hưởng.
  • Phương pháp sư phạm kèn hơi: Sách Phương pháp luận giảng dạy nhạc cụ kèn hơi (1976) của Dikov (Cửu Vĩ dịch) cung cấp cơ sở phương pháp luận về kỹ thuật hơi, khẩu hình, đánh lưỡi, ngón bấm và nhảy quãng.
  • Tài liệu chuyên khảo về hòa tấu thính phòng kèn đồng: Các công trình của Raymond David Burkhart (2016) về hòa tấu thính phòng kèn đồng, Ken Jimens (2011) về sự tiến hóa của nhạc khí kèn đồng và kỹ thuật viết cho dàn nhạc từ cuối thời kỳ Cổ điển đến cuối thời kỳ Lãng mạn.
Nhóm công trình Tác giả tiêu biểu Nội dung chính liên quan
Nhạc khí & Phối khí Việt Nam Hồng Đăng (1983), Tú Ngọc (2000), Nguyễn Thị Nhung (2001) Cấu tạo âm vực bộ đồng, tiến trình phát triển khí nhạc giao hưởng Việt Nam.
Luận án chuyên ngành Kèn hơi VN Nguyễn Phúc Linh (1997), Ngô Hoàng Linh (2008), Phạm Ngọc Doanh (2011), Ngô Phương Đông (2011) Lịch sử dàn nhạc, biểu diễn kèn dăm kép, hautbois, kèn gỗ thế kỷ XX.
Lịch sử kèn hơi thế giới S. Usov (1973), H. Berlioz (1844), R. D. Burkhart (2016), Ken Jimens (2011) Sự phát triển cấu tạo van piston, slide, vai trò kèn đồng từ Cổ điển đến Đương đại.
Sư phạm & Kỹ thuật kèn hơi Dikov (1976), Ma-Rin Gô-Lê-Mi-Nốp (1972) Kỹ thuật phát âm, lấy hơi, đánh lưỡi và nguyên lý phối hòa âm cho bộ đồng.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Các công trình đã công bố chủ yếu nghiên cứu lịch sử khí nhạc tổng quát, kỹ thuật độc tấu kèn gỗ, hoặc đào tạo kèn đồng ở phạm vi quân nhạc/trung học tại các địa phương khác. Chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về nghệ thuật hòa tấu thính phòng và giao hưởng của bộ kèn đồng tại địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, gắn kết chặt chẽ giữa thực tiễn biểu diễn, tác phẩm sáng tác của các nhạc sĩ địa phương và chương trình đào tạo chuyên nghiệp.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khái niệm và khung phân tích

  • Nguyên lý âm học kèn đồng: Âm thanh được tạo ra bởi sự rung động của cột không khí bên trong ống kèn kết hợp với sự rung động của đôi môi nhạc công qua miệng thổi (búp kèn). Cao độ thay đổi dựa trên chuỗi âm bồi tự nhiên kết hợp với việc thay đổi chiều dài ống kèn thông qua hệ thống van (van piston đứng, van quay ngang) hoặc bộ phận thanh trượt (slide).
  • Hòa tấu thính phòng (Chamber Music): Âm nhạc biểu diễn bởi nhóm từ 2 đến 10 nhạc công trong không gian phòng hòa nhạc, mỗi người đảm nhận một bè độc lập. Các hình thức chuẩn mực của bộ đồng gồm tam tấu (trio: trumpet, horn, trombone), tứ tấu (quartet) và ngũ tấu (brass quintet: 2 trumpet, horn, trombone, tuba).
  • Hòa tấu giao hưởng (Symphonic Music): Âm nhạc do toàn bộ dàn nhạc giao hưởng thể hiện, trong đó bộ đồng giữ vai trò hợp âm nền (pedal), gia tăng âm lượng trong các đoạn tutti cao trào, liên kết âm sắc giữa bộ gỗ và bộ dây, đồng thời đảm nhận các đoạn độc tấu giai điệu.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp lịch sử: Khảo sát tiến trình hình thành và biến đổi cấu tạo của các nhạc cụ kèn đồng từ thời kỳ tự nhiên đến hiện đại; quá trình du nhập kèn đồng vào đời sống âm nhạc tôn giáo, quân nhạc và dàn nhạc giao hưởng tại Việt Nam trước và sau năm 1975.
  • Phương pháp nghiên cứu âm nhạc học (phân tích, so sánh): Phân tích tổng phổ các tác phẩm giao hưởng, thính phòng của thế giới và của các nhạc sĩ Thành phố Hồ Chí Minh; so sánh đặc điểm kỹ thuật diễn tấu cổ điển với các kỹ thuật mở rộng thế kỷ XX.
  • Phương pháp phỏng vấn chuyên gia: Phỏng vấn trực tiếp các giảng viên, nhạc trưởng, nghệ sĩ biểu diễn kèn đồng tại Nhạc viện TP. Hồ Chí Minh và Nhà hát Giao hưởng - Nhạc, Vũ kịch TP. Hồ Chí Minh nhằm thu thập dữ liệu thực tế về thực trạng đào tạo và kỹ năng hòa tấu.

Nguồn tư liệu

  • Tổng phổ các tác phẩm thính phòng, giao hưởng có sử dụng kèn đồng của các tác giả thế giới và các nhạc sĩ tại Thành phố Hồ Chí Minh đã công diễn hoặc xuất bản.
  • Giáo trình giảng dạy, chương trình đào tạo chuyên ngành kèn đồng tại Nhạc viện TP. Hồ Chí Minh và Trường Đại học Văn hóa - Nghệ thuật Quân đội.
  • Các tư liệu lịch sử, sách chuyên khảo âm nhạc học, tài liệu khảo sát điền dã tại các làng nghề làm kèn và dàn kèn tôn giáo (Phạm Pháo, Bùi Chu - Nam Định; Đồng Nai).

Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1: KÈN ĐỒNG VÀ THỂ LOẠI HÒA TẤU THÍNH PHÒNG - GIAO HƯỞNG

Chương 1 (40 trang) tập trung trình bày đặc điểm cấu tạo, nguyên lý hoạt động, lịch sử phát triển của các nhạc khí kèn đồng trong dàn nhạc phương Tây và tiến trình du nhập vào Việt Nam.

1. Nguyên lý hoạt động và biên chế bộ kèn đồng

Kèn đồng tạo âm thanh qua rung động cột không khí và môi. Các nhạc cụ chia thành hai nhóm cơ chế chính:

  • Kèn van (Valve instruments): Bao gồm horn, trumpet, tuba, cornet, flügelhorn, euphonium. Sử dụng 3 đến 4 van (piston hoặc van quay) để thay đổi chiều dài lưu thông khí trong ống kèn, giúp chuyển đổi cao độ bán âm.
  • Kèn trượt (Slide instruments): Tiêu biểu là trombone, sử dụng ống trượt hình chữ "U" (slide) trượt trên rãnh để thay đổi chiều dài thân kèn, cho phép diễn tấu liền mạch các cao độ bán âm và kỹ thuật glissando đặc thù.

Biên chế kèn đồng chuẩn trong dàn nhạc giao hưởng gồm 4 loại nhạc cụ chính: horn, trumpet, trombone và tuba.

Nhạc khí Cơ chế thay đổi cao độ Âm vực & Tính chất âm sắc Vai trò chính trong dàn nhạc giao hưởng
Horn (Cor) Hệ thống van (3-4 van quay/piston) Rộng (khoảng 4 quãng tám); âm vực giữa mềm mại, trữ tình; âm cực cao/thấp khó phát âm. Cầu nối âm sắc giữa bộ gỗ và bộ dây; chơi âm nền kéo dài (pedal), hòa âm và giai điệu trữ tình.
Trumpet 3 van piston (hoặc van quay) Âm cao nhất bộ đồng; tươi sáng, đanh thép, rực rỡ, tính kim loại rõ rệt. Giai điệu kêu gọi, thúc giục, nét nhạc trang nghiêm, kịch tính, đi đỉnh cao trào tutti.
Trombone Thanh trượt (slide) di động Âm trung và trầm; rắn rỏi, dũng mãnh, uy lực; có ưu thế tuyệt đối về kỹ thuật glissando. Bè hòa âm trầm-trung, đoạn kịch tính xung đột, kết hợp tăng cường độ âm thanh cho dàn nhạc.
Tuba 3-4 van piston/quay, búp kèn lớn Kích thước lớn nhất, âm trầm nhất; âm thanh dày, sâu sắc, đĩnh đạc, nặng nề. Giữ bè trầm nền tảng cho bộ đồng và toàn bộ dàn nhạc, đi quãng tám với trombone bass.

2. Đặc điểm kèn đồng trong lịch sử hòa tấu phương Tây

  • Thế kỷ XVIII: Thời kỳ kèn tự nhiên (natural trumpet, natural horn). Kèn chưa có van nên phụ thuộc vào chuỗi âm bồi, hạn chế chuyển điệu. Kỹ thuật bịt tay (hand-stopping) trên kèn horn giúp tạo một số nốt bán âm nhưng làm thay đổi âm sắc. Nhạc cụ chỉ đóng vai trò đệm hòa âm, giữ nhịp hoặc tutti kết chương. Beethoven tạo bước ngoặt khi đưa 3 trombone (alto, tenor, bass) vào Giao hưởng số 5, sau đó là Giao hưởng số 6 và số 9, xác lập vị trí thường trực của trombone trong dàn nhạc.
  • Thế kỷ XIX ("Kỷ nguyên kèn đồng"): Năm 1818, Heinrich Stolzel phát minh hệ thống van bấm (valve), giải phóng kèn horn và trumpet khỏi giới hạn âm bồi, cho phép chơi thang âm bán cung (chromatic) linh hoạt. Kèn tuba ra đời thay thế kèn ophicleide cồng kềnh (Berlioz lần đầu sử dụng tuba trong Symphonie Fantastique). Các nhà soạn nhạc Hector Berlioz, Richard Wagner, Gustav Mahler, Richard Strauss mở rộng biên chế bộ kèn đồng lên quy mô lớn (Mahler dùng tới 10 trumpet và 10 horn trong Giao hưởng số 2). Johannes Brahms duy trì biên chế hàn lâm cổ điển với 4 horn và 2 trumpet. Victor Ewald (1860-1935) đặt nền móng cho thể loại ngũ tấu đồng hiện đại với 4 bản ngũ tấu kinh điển.
  • Thế kỷ XX: Sự xuất hiện của các trường phái Ấn tượng (Debussy, Ravel), Vô điệu tính (Atonal) và Âm nhạc quy luật (Serialism) đòi hỏi người diễn tấu kèn đồng phải kiểm soát định âm phức tạp bằng khẩu hình và tai nghe. Các tác phẩm của Béla Bartók (Ông quan thần thánh), Stravinsky, Penderecki, Hindemith, Roger Bobo khai thác triệt để các kỹ thuật mở rộng (sourdine, nốt bịt, glissando, frullato, đa âm) và phức hợp tiết tấu.

3. Quá trình hình thành và phát triển kèn đồng tại Việt Nam trước 1954

Kèn đồng du nhập vào Việt Nam qua hai con đường chính:

  1. Các giáo sĩ Cơ Đốc giáo (từ thế kỷ XVI): Thành lập các đội kèn đồng nhà thờ để cử hành nghi lễ phụng vụ, sau đó lan tỏa ra sinh hoạt cộng đồng.
  2. Dàn quân nhạc của quân đội viễn chinh Pháp (cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX): Tuyển mộ và đào tạo nhạc công người Việt, biểu diễn tại các công viên, vườn hoa, nhà kèn (như đội nhạc lính Khố xanh trực thuộc Tòa Khâm sứ Huế và Tòa Thống sứ Bắc Kỳ do Camille Parmentier chỉ huy).

Luận án ghi nhận các địa phương có phong trào kèn đồng phát triển mạnh:

  • Làng Phạm Pháo (xứ đạo Bùi Chu, Hải Hậu, Nam Định): Có truyền thống làm kèn đồng thủ công độc nhất tại Việt Nam, với 70% hộ dân làm nghề, khoảng 200 đội kèn và hơn 1.000 người diễn tấu thành thạo. Tòa Giám mục Bùi Chu lưu giữ cây kèn trumpet lớn có chiều dài 5,5 m, nặng 300 kg, đường kính loa 1,25 m.
  • Tỉnh Đồng Nai: Tập trung hơn 50 đội nhạc kèn giáo xứ (Hố Nai, Kiệm Tân, Tân Mai, Tam Hiệp, Dốc Mơ, Đức Long), nhiều đội có quy mô trên 70 nhạc công, khả năng huy động tới 1.500 nhạc công kèn tham gia các hội thi hòa tấu.

CHƯƠNG 2: KÈN ĐỒNG TRONG BIỂU DIỄN, SÁNG TÁC VÀ ĐÀO TẠO THÍNH PHÒNG - GIAO HƯỞNG TẠI TP. HỒ CHÍ MINH

Chương 2 (40 trang) phân tích thực trạng hoạt động của kèn đồng tại Thành phố Hồ Chí Minh trên cả ba bình diện thực tiễn.

1. Kèn đồng trong nghệ thuật biểu diễn

  • Biểu diễn không chuyên: Hoạt động mạnh mẽ trong các giáo xứ tôn giáo, các đội kèn phục vụ nghi lễ hiếu hỉ, sinh hoạt cộng đồng và lễ hội văn hóa quần chúng.
  • Biểu diễn chuyên nghiệp: Tập trung tại Nhà hát Giao hưởng - Nhạc, Vũ kịch TP. Hồ Chí Minh (HBSO), Dàn nhạc giao hưởng Nhạc viện TP. Hồ Chí Minh và các Đoàn Quân nhạc lực lượng vũ trang. Các đơn vị này đã dàn dựng và biểu diễn nhiều tác phẩm giao hưởng cổ điển, lãng mạn và đương đại thế giới cũng như tác phẩm Việt Nam. Tuy nhiên, kỹ năng hòa tấu đồng bộ, độ hòa quyện âm sắc và kiểm soát âm chuẩn giữa các bè kèn đồng trong dàn nhạc vẫn còn nhiều hạn chế khi biểu diễn các tác phẩm quy mô lớn.

2. Kèn đồng trong sáng tác của các nhạc sĩ TP. Hồ Chí Minh

  • Các nhạc sĩ tại TP. Hồ Chí Minh đã khai thác bộ kèn đồng trong các tác phẩm khí nhạc thính phòng và giao hưởng, kết hợp thang âm điệu thức âm nhạc truyền thống dân tộc Việt Nam với kỹ thuật hòa âm, phối khí phương Tây.
  • Kèn horn thường được khai thác ở tính chất giai điệu trữ tình, êm ả mang âm hưởng dân ca; trumpet được sử dụng cho các chủ đề hào hùng, tính chiến đấu, kêu gọi; trombone và tuba giữ bè nền hòa âm, tạo kịch tính trong các cao trào tác phẩm.
  • Tuy nhiên, việc ứng dụng các thủ pháp sáng tác đương đại và kỹ thuật mở rộng cho kèn đồng trong các tổng phổ của nhạc sĩ trong nước vẫn còn ở mức độ dè dặt so với trào lưu khí nhạc thế giới.

3. Kèn đồng trong công tác đào tạo

  • Cơ sở đào tạo: Nhạc viện TP. Hồ Chí Minh là trung tâm đào tạo âm nhạc hàn lâm lớn nhất phía Nam, cùng với khoa Quân nhạc thuộc Trường Đại học Văn hóa - Nghệ thuật Quân đội.
  • Thực trạng chương trình giảng dạy:
    • Khung chương trình đào tạo chuyên ngành kèn đồng tại Nhạc viện chủ yếu sử dụng các giáo trình kinh điển của Nga và Tây Âu, chú trọng tuyệt đối vào kỹ năng độc tấu (solo) và biểu diễn etude, concerto, sonata.
    • Tỷ lượng thời gian dành cho môn học hòa tấu thính phòng và thị tấu phân phổ dàn nhạc giao hưởng (orchestral excerpts) còn thấp.
    • Học sinh, sinh viên thiếu kỹ năng nghe hòa âm tổng thể, thiếu phản xạ tương tác với chỉ huy dàn nhạc và các bè nhạc cụ khác, dẫn đến bỡ ngỡ khi tham gia dàn nhạc chuyên nghiệp.

CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO KỸ THUẬT BIỂU DIỄN NHẠC KHÍ KÈN ĐỒNG TRONG HÒA TẤU THÍNH PHÒNG - GIAO HƯỞNG TẠI TP. HỒ CHÍ MINH

Chương 3 (49 trang) đề xuất hệ thống giải pháp sư phạm và kỹ thuật chuyên môn nhằm nâng cao năng lực hòa tấu kèn đồng.

1. Giải pháp trong công tác đào tạo

  • Đổi mới giáo trình: Bổ sung các tập trích đoạn phân phổ dàn nhạc giao hưởng (orchestral excerpts) chuẩn mực của các tác giả cổ điển, lãng mạn và thế kỷ XX vào chương trình thi và kiểm tra định kỳ chuyên ngành kèn đồng.
  • Đổi mới phương pháp giảng dạy:
    • Tăng cường thời lượng thực hành hòa tấu nhóm nhỏ (tam tấu, tứ tấu, ngũ tấu kèn đồng) trước khi đưa sinh viên vào dàn nhạc giao hưởng lớn.
    • Rèn luyện kỹ năng nghe bè, kiểm soát âm chuẩn (intonation) trong tập thể bè kèn đồng, kỹ năng nhìn chỉ huy và xử lý tiết tấu đồng bộ.
    • Áp dụng các phương pháp sư phạm hiện đại về điều tiết cột hơi, áp lực môi và thả lỏng cơ mặt.

2. Vận dụng các kỹ thuật mở rộng (Extended Techniques)

Luận án hệ thống hóa các kỹ thuật diễn tấu kèn đồng thế kỷ XX để đưa vào giảng dạy và ứng dụng thực tiễn:

  • Kỹ thuật xử lý phím và âm:
    • Quarter-tones (Vi âm/Một phần tư cung): Bấm nửa van hoặc điều chỉnh khẩu hình để tạo các cao độ ngoài hệ thống bình quân 12 bán âm.
    • Multiphonics (Kỹ thuật đa âm): Vừa thổi một âm qua kèn vừa hát một âm khác bằng giọng của người thổi vào búp kèn, tạo ra hai hoặc ba âm thanh cộng hưởng đồng thời.
    • Glissando: Trượt cao độ liền mạch (đặc biệt dễ thực hiện trên thanh trượt của trombone; trên trumpet/horn thực hiện bằng cách nhấn nửa phím kết hợp trượt môi).
    • Sourdine (Bộ giảm âm/Mute): Sử dụng các loại mute khác nhau (Straight mute, Cup mute, Harmon mute, Plunger mute) để thay đổi màu sắc âm sắc và cường độ.
    • Stopped notes (Nốt bịt tay): Đưa tay sâu vào loa kèn horn (hoặc dùng mute bịt) để tạo âm thanh sắc, đanh, kim loại.
  • Kỹ thuật xử lý lưỡi và búp kèn:
    • Double tonguing & Triple tonguing: Đánh lưỡi đôi (T-K), đánh lưỡi ba (T-K-T hoặc T-T-K) để diễn tấu các chuỗi nốt tốc độ cực nhanh mà đánh lưỡi đơn không đáp ứng được.
    • Frullato (Flutter-tonguing): Đánh rung đầu lưỡi (như phát âm chữ "r") hoặc rung cuống họng khi thổi hơi, tạo hiệu ứng âm thanh rung rè kịch tính.
    • Slap-tongue & Pop/Lip-buzzing: Kỹ thuật búng lưỡi hoặc rung môi không qua nhạc cụ để tạo hiệu ứng âm thanh gõ đặc biệt.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt khoa học và lý luận

  • Là công trình nghiên cứu âm nhạc học đầu tiên khảo sát một cách toàn diện, có hệ thống về nghệ thuật diễn tấu và hòa tấu của bộ kèn đồng trong thính phòng và giao hưởng tại Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1975 đến 2021.
  • Tổng hợp, phân tích các nguyên lý cấu tạo, lịch sử phát triển của 4 nhạc khí kèn đồng (horn, trumpet, trombone, tuba) trong dàn nhạc giao hưởng phương Tây và tiến trình du nhập, bản địa hóa tại Việt Nam.
  • Hệ thống hóa và định dạng các kỹ thuật diễn tấu mở rộng (extended techniques) của kèn đồng đương đại thế giới, cung cấp luận cứ khoa học để đưa các kỹ thuật này vào lý luận sáng tác và đào tạo biểu diễn khí nhạc tại Việt Nam.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Đánh giá thực trạng biểu diễn và đào tạo kèn đồng tại Thành phố Hồ Chí Minh, chỉ rõ nguyên nhân của các hạn chế về hòa tấu dàn nhạc (lệch âm chuẩn, thiếu hòa hợp âm sắc, yếu kỹ năng thị tấu phân phổ).
  • Đề xuất hệ thống giải pháp sư phạm cụ thể nhằm điều chỉnh chương trình đào tạo tại Nhạc viện TP. Hồ Chí Minh và Đại học Văn hóa - Nghệ thuật Quân đội, chú trọng cân bằng giữa kỹ năng độc tấu và kỹ năng hòa tấu dàn nhạc.
  • Cung cấp nguồn tài liệu tham khảo chuyên ngành cho các giảng viên kèn hơi, sinh viên biểu diễn, nhạc trưởng chỉ huy dàn nhạc và các nhạc sĩ sáng tác khí nhạc tại Việt Nam.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài

  • Phạm vi địa bàn và đối tượng khảo sát: Đề tài chỉ giới hạn khảo sát các đơn vị biểu diễn chuyên nghiệp và cơ sở đào tạo chính quy tại khu vực Thành phố Hồ Chí Minh, chưa mở rộng nghiên cứu so sánh đồng bộ với các cơ sở đào tạo và dàn nhạc tại miền Bắc (Hà Nội) và miền Trung (Huế).
  • Phạm vi thể loại: Luận án tập trung vào hình thức hòa tấu thính phòng và giao hưởng, chưa đi sâu phân tích toàn bộ kho tàng tác phẩm độc tấu (solo concerto, sonata) viết cho từng nhạc cụ kèn đồng đơn lẻ của các tác giả Việt Nam.
  • Số lượng tác phẩm khảo sát: Do hạn chế về nguồn tư liệu tổng phổ được xuất bản chính thức, luận án chỉ phân tích đại diện một số tác phẩm khí nhạc tiêu biểu của các nhạc sĩ hoạt động tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu so sánh nghệ thuật hòa tấu kèn đồng giữa các trung tâm âm nhạc lớn trong cả nước (Hà Nội, Huế, TP. Hồ Chí Minh).
  • Nghiên cứu chuyên sâu về phương pháp ứng dụng cụ thể từng kỹ thuật mở rộng (multiphonics, microtones, mutes) cho từng nhạc khí kèn đồng trong sáng tác tác phẩm thính phòng đương đại Việt Nam mang âm hưởng thang âm truyền thống dân tộc.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị ứng dụng thực tiễn và tham khảo học thuật cho các nhóm đối tượng:

  • Cơ sở đào tạo âm nhạc (Nhạc viện TP. Hồ Chí Minh, Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam, Học viện Âm nhạc Huế, ĐH VHNT Quân đội): Ban giám hiệu và các khoa Kèn - Gõ có thể tham khảo Chương 3 để cải tiến khung chương trình, bổ sung tài liệu trích đoạn dàn nhạc (orchestral excerpts) và môn thực hành hòa tấu nhóm kèn đồng.
  • Giảng viên và sinh viên chuyên ngành Kèn đồng: Tham khảo hệ thống bài tập kỹ thuật hơi, kỹ thuật đánh lưỡi (double/triple tonguing, frullato) và các thủ pháp xử lý âm chuẩn trong hòa tấu.
  • Nhạc sĩ sáng tác khí nhạc: Tham khảo đặc tính âm vực, khả năng hòa trộn âm sắc của 4 nhạc cụ kèn đồng và các ký hiệu kỹ thuật mở rộng hiện đại để ứng dụng vào phối khí dàn nhạc giao hưởng.
  • Nhạc trưởng và nghệ sĩ dàn nhạc giao hưởng: Nắm bắt phương pháp xử lý cân bằng âm lượng giữa bộ đồng với bộ gỗ và bộ dây trong các tác phẩm đa phong cách từ Cổ điển đến Đương đại.

Câu hỏi thường gặp

1. Kèn đồng được du nhập vào Việt Nam qua những con đường lịch sử nào?

Theo các tư liệu lịch sử âm nhạc học được luận án tổng hợp, kèn đồng du nhập vào Việt Nam qua hai con đường chính:

  • Con đường truyền giáo của các linh mục, giáo sĩ Cơ Đốc giáo (từ thế kỷ XVI), hình thành nên các ban kèn đồng phục vụ thánh lễ nhà thờ tại các xứ đạo.
  • Con đường quân đội thông qua các Dàn quân nhạc của thực dân Pháp (cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX), với các đội nhạc lính Khố xanh biểu diễn tại các nhà kèn, vườn hoa công cộng.

2. Sự khác biệt cơ bản về nguyên lý thay đổi cao độ giữa trombone và các nhạc cụ kèn đồng khác là gì?

  • Các nhạc cụ như horn, trumpet, tuba thuộc nhóm "kèn van" (valve instruments), thay đổi chiều dài cột không khí bằng cách bấm hệ thống 3 hoặc 4 van piston đứng hoặc van quay ngang.
  • Trombone thuộc nhóm "kèn trượt" (slide instruments), thay đổi chiều dài cột không khí bằng một ống trượt hình chữ "U" (slide) di động dọc thân kèn, cho phép lướt cao độ liên tục (glissando) và diễn tấu các nốt bán âm mà không cần hệ thống van bấm thông thường.

3. Nhà soạn nhạc nào đầu tiên đưa kèn trombone vào biên chế chính thức của dàn nhạc giao hưởng?

Ludwig van Beethoven là nhà soạn nhạc đầu tiên đưa 3 cây kèn trombone (alto, tenor, bass) vào biên chế dàn nhạc giao hưởng trong chương cuối của tác phẩm Giao hưởng số 5, và tiếp tục sử dụng trong Giao hưởng số 6 và Giao hưởng số 9, xác lập trombone thành thành viên thường trực của dàn nhạc giao hưởng phương Tây.

4. Hạn chế lớn nhất của các nhạc công kèn đồng Việt Nam khi tham gia các dự án giao hưởng quốc tế là gì?

Hạn chế lớn nhất được các nhạc trưởng quốc tế (như Fukumura, Meter Colin, Oliver) chỉ ra là kỹ năng hòa tấu dàn nhạc. Cụ thể gồm: khả năng kiểm soát âm chuẩn (intonation) khi ghép bè, sự hòa hợp âm sắc với các bộ nhạc cụ khác, kỹ năng thị tấu phân phổ dàn nhạc và phản xạ tương tác nhịp điệu với chỉ huy dàn nhạc, bắt nguồn từ việc đào tạo quá nghiêng về độc tấu.

5. Làng nghề kèn đồng Phạm Pháo (Nam Định) có đặc điểm gì nổi bật được nêu trong luận án?

Làng Phạm Pháo (xứ đạo Bùi Chu, Hải Hậu, Nam Định) là làng nghề làm kèn đồng thủ công duy nhất tại Việt Nam. Khoảng 70% hộ dân trong làng làm nghề chế tác, sửa chữa kèn đồng; toàn làng có khoảng 200 đội kèn với hơn 1.000 người biết diễn tấu thành thạo nhạc cụ kèn đồng.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Hoàng Ngọc Long là công trình âm nhạc học khảo sát toàn diện về kèn đồng trong nghệ thuật hòa tấu thính phòng và giao hưởng tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn từ 1975 đến 2021. Tác giả đã làm rõ cấu tạo, lịch sử tiến hóa và vai trò của 4 nhạc khí bộ đồng (horn, trumpet, trombone, tuba) trong dàn nhạc phương Tây và tiến trình phát triển tại Việt Nam. Phân tích thực trạng biểu diễn, sáng tác và đào tạo tại Thành phố Hồ Chí Minh, luận án chỉ rõ các hạn chế về kỹ năng hòa tấu và đề xuất hệ thống giải pháp đổi mới giảng dạy kết hợp vận dụng các kỹ thuật mở rộng thế kỷ XX. Công trình cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn chuyên ngành có giá trị tham khảo cho công tác đào tạo, biểu diễn và sáng tác khí nhạc tại Việt Nam.