Tổng quan nghiên cứu
Dân tộc Sán Dìu tại huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang sở hữu một kho tàng di sản văn hóa phi vật thể đặc sắc, trong đó làn điệu dân ca Soọng cô giữ vai trò trung tâm trong đời sống tinh thần. Theo số liệu thống kê dân số, toàn tỉnh Bắc Giang có khoảng 24.000 người Sán Dìu, riêng địa bàn huyện Lục Ngạn quy tụ mật độ cư trú cao nhất với khoảng 26.000 đồng bào phân bố tại các xã trọng điểm như Quý Sơn với 4.104 người, Hồng Giang với 1.570 người, Nghĩa Hồ với 1.506 người và Tân Mộc với gần 1.500 người. Trải qua tiến trình di cư lịch sử từ cuối thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XVIII, cộng đồng người Sán Dìu tại Lục Ngạn đã kiến tạo nên không gian sinh hoạt văn hóa vừa kế thừa cội nguồn tộc người, vừa tiếp biến linh hoạt với môi trường trung du Bắc Bộ.
Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn xuất phát từ thực trạng mai một di sản trước sức ép của quá trình đô thị hóa và hội nhập văn hóa. Dù huyện Lục Ngạn duy trì được 9 câu lạc bộ Soọng cô với khoảng 100 người thực hành thường xuyên, nhưng phần lớn nghệ nhân am hiểu lề lối cổ đều đã cao tuổi, trong khi thế hệ trẻ ít có cơ hội tiếp cận ngôn ngữ mẹ đẻ. Mục tiêu cụ thể của công trình là hệ thống hóa diện mạo, phân tích đặc trưng thi pháp ca từ và cấu trúc không gian diễn xướng của Soọng cô từ góc nhìn văn học và văn hóa học dân gian. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào nguồn tư liệu điền dã thực tế tại Lục Ngạn năm 2022 cùng các văn bản chép tay của nghệ nhân bản địa. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thiết thực, cung cấp hệ thống cứ liệu khoa học chuẩn xác nhằm phục vụ công tác bảo tồn di sản, xây dựng chương trình giáo dục văn hóa địa phương và thúc đẩy phát triển du lịch di sản bền vững tại tỉnh Bắc Giang.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn vận dụng lý thuyết văn học dân gian kết hợp cùng thi pháp học dân gian nhằm giải mã cấu trúc thể loại, hệ thống hình tượng và nghệ thuật tổ chức ngôn từ của Soọng cô. Đồng thời, lý thuyết diễn xướng văn hóa của trường phái nhân học folklore học được sử dụng để khảo sát bài ca trong tính chỉnh thể của môi trường sinh hoạt cộng đồng, bao gồm chủ thể thực hành, bối cảnh không gian và nghi thức phụ trợ.
Các khái niệm then chốt được thao tác hóa gồm: diễn xướng dân gian, không gian văn hóa tộc người, ca từ đối đáp giao duyên và quá trình tiếp biến ngôn ngữ. Nghiên cứu xác định Soọng cô là một hiện tượng văn hóa đa tầng. Về mặt ngôn ngữ và chữ viết, văn bản chép tay Soọng cô phản ánh sự kết hợp đặc thù giữa chữ Hán cổ chiếm khoảng 60% đến 70% tự dạng và chữ Nôm Sán Dìu tự tạo nhằm ghi lại tiếng nói bản địa. Về mặt nghi lễ, các bài hát gắn chặt với chu kỳ đời người, tiêu biểu là 4 bước chính trong phong tục hôn nhân truyền thống gồm xin lá số, báo yên, ăn hỏi và lễ cưới chính thức, thể hiện triết lý âm dương hòa hợp và tinh thần cố kết cộng đồng sâu sắc.
Phương pháp nghiên cứu
Nguồn dữ liệu của luận văn được xác lập thông qua cỡ mẫu khảo sát gồm hơn 200 bài ca từ ghi chép bằng chữ Hán - Nôm và phiên âm Latinh, trích xuất từ 2 tập tài liệu chép tay quý hiếm của nghệ nhân Phan Văn Minh hoàn thành vào các năm 2018 và 2020. Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích, tập trung phỏng vấn sâu 12 nghệ nhân dân gian nòng cốt tại 9 câu lạc bộ trên địa bàn huyện Lục Ngạn, tiêu biểu như Nghệ nhân Ưu tú Trần Văn Ba và nghệ nhân Nguyễn Văn An tại thôn Trại Bèo, xã Giáp Sơn.
Quy trình phân tích kết hợp phương pháp điền dã dân tộc học thực hiện trong tháng 01/2022 với phương pháp phân tích văn bản thi pháp học và so sánh liên vùng. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này nhằm khắc phục triệt để tính chất truyền khẩu biến thiên, đối chiếu văn bản chép tay với lời hát sống động ngoài thực địa, đồng thời làm rõ nét khu biệt giữa Soọng cô Lục Ngạn với vùng hát tại Thái Nguyên và Tuyên Quang. Quá trình xử lý dữ liệu bảo đảm tính khách quan, khoa học và phản ánh trung thực bản sắc văn hóa tộc người.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, đề tài tình yêu lứa đôi chiếm tỷ trọng áp đảo với hơn 70% dung lượng ca từ sưu tầm được. Hệ thống bài hát giao duyên được tổ chức hết sức quy củ qua chuỗi 7 chặng diễn xướng tuần tự từ lúc hoàng hôn đến rạng sáng, tiêu biểu là chùm 12 khúc ca nhớ nhung tương ứng với 12 tháng trong năm. Từng lời ca miêu tả các cung bậc cảm xúc tinh tế, gắn bó thiết tha giữa thiên nhiên đồi rừng và tâm trạng lứa đôi.
Thứ hai, nghệ thuật ca từ ghi nhận 100% tác phẩm tuân thủ nghiêm ngặt mô hình thể thơ thất ngôn tứ tuyệt chịu ảnh hưởng từ thơ Đường, kèm theo một số biến thể 3-7-7-7 đặc trưng trong nghi thức mời trầu, mời rượu. Khảo sát âm luật chỉ ra trên 85% các bài hát sử dụng độc vận vần bằng gieo ở các câu một, hai và bốn, kết hợp nhịp điệu chẵn 2/2/3 hoặc 4/3 khoan thai, tạo điều kiện thuận lợi cho lối ngâm vịnh không cần nhạc cụ đệm.
Thứ ba, chức năng luân lý và phản ánh đời sống nông nghiệp chiếm khoảng 25% đến 30% tư liệu. Nổi bật là hệ thống 12 bài ca hái chè phản ánh chuẩn xác quy luật thời tiết và thời vụ sản xuất qua 4 mùa xuân, hạ, thu, đông. Đồng thời, 100% các cuộc hát đối đáp đều khởi đầu bằng nghi thức hát chúc phúc các bậc cao niên và gia chủ, minh chứng cho truyền thống tôn kính tổ tiên và đạo lý uống nước nhớ nguồn của người Sán Dìu.
Thảo luận kết quả
Nguyên nhân tạo nên diện mạo độc đáo của Soọng cô Lục Ngạn bắt nguồn từ ký ức lịch sử di cư và phương thức cư trú làng bản khép kín. Việc nhắc đến địa danh Quảng Đông trong khúc hát tháng Mười thể hiện ý thức hướng về cội nguồn sâu xa. Trong khi đó, địa hình đồi bãi trù phú tại Lục Ngạn tạo điều kiện để các đồi chè, vườn cây trở thành không gian lao động và giao lưu tình cảm tự nhiên của nam nữ thanh niên.
Khi so sánh với các nghiên cứu tại Thái Nguyên và Tuyên Quang, Soọng cô tại Lục Ngạn thể hiện tính ổn định cao hơn về mặt văn bản hóa nhờ công sức ghi chép, dịch thuật bền bỉ của các nghệ nhân địa phương. Nếu vùng Tuyên Quang chủ yếu lưu truyền qua trí nhớ với quy mô sinh hoạt xóm lẻ, thì Lục Ngạn đã xây dựng được mạng lưới 9 câu lạc bộ cấp xã hoạt động có tổ chức. Dữ liệu này có thể được trực quan hóa tối ưu thông qua biểu đồ tròn thể hiện cơ cấu chủ đề ca từ (72% Tình yêu đôi lứa, 16% Đạo lý gia đình, 12% Lao động sản xuất) và bảng ma trận đối chiếu 7 chặng diễn xướng tương ứng với khung thời gian thực từ 19 giờ tối hôm trước đến 6 giờ sáng hôm sau, làm nổi bật nhịp điệu sinh hoạt văn hóa thâu đêm đặc trưng của đồng bào.
Đề xuất và khuyến nghị
Thứ nhất, tiến hành số hóa toàn diện kho tàng ca từ Soọng cô. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Giang cần phối hợp cùng Ủy ban nhân dân huyện Lục Ngạn triển khai dự án ghi âm, ghi hình và phiên âm Latinh hóa 100% các tập tài liệu chép tay cổ. Mục tiêu cụ thể là hoàn thành xuất bản 1 tuyển tập song ngữ chuẩn xác gồm 300 bài dân ca trước quý IV/2025 nhằm làm tài liệu lưu trữ vĩnh viễn.
Thứ hai, đưa di sản Soọng cô vào chương trình giáo dục phổ thông địa phương. Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Lục Ngạn giữ vai trò chủ trì, chỉ đạo các trường trung học cơ sở và trung học phổ thông tại 5 xã trọng điểm gồm Quý Sơn, Giáp Sơn, Hồng Giang, Nghĩa Hồ, Tân Mộc thành lập các câu lạc bộ dân ca học đường. Mục tiêu đặt ra là tiếp cận trên 4.500 học sinh, tổ chức ít nhất 2 buổi ngoại khóa trải nghiệm thực tế mỗi học kỳ, hoàn thành trong giai đoạn 2024 đến 2026.
Thứ ba, thiết lập cơ chế đãi ngộ và không gian truyền dạy cho nghệ nhân dân gian. Hội Văn nghệ dân gian tỉnh Bắc Giang cần lập hồ sơ đề nghị công nhận danh hiệu Nghệ nhân Ưu tú cho tối thiểu 5 nghệ nhân cao tuổi tiêu biểu tại địa phương. Đồng thời, chính quyền huyện cần cấp kinh phí hỗ trợ thường xuyên từ 1,5 đến 2,0 triệu đồng mỗi tháng cho các nghệ nhân chủ nhiệm để duy trì lớp dạy hát miễn phí tại nhà văn hóa thôn từ năm 2025.
Thứ tư, tích hợp diễn xướng Soọng cô vào chuỗi du lịch sinh thái nông nghiệp Lục Ngạn. Hiệp hội Du lịch tỉnh Bắc Giang liên kết với các hợp tác xã du lịch miệt vườn xây dựng không gian biểu diễn dân ca thực cảnh phục vụ du khách trong mùa thu hoạch vải thiều và lễ hội hoa quả. Chỉ tiêu đề ra là đạt tối thiểu 60 buổi diễn mỗi năm, gia tăng thu nhập trực tiếp cho các câu lạc bộ thêm 20% mỗi mùa du lịch trong giai đoạn 2025 đến 2027.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nhóm giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên chuyên ngành Văn học, Văn hóa học, Ngôn ngữ học: Luận văn cung cấp khung phương pháp nghiên cứu liên ngành hiện đại cùng hệ thống tư liệu điền dã năm 2022 nguyên bản, hỗ trợ đắc lực cho các đề tài nghiên cứu thi pháp dân ca và văn hóa các dân tộc nhóm ngôn ngữ Hán - Tạng tại miền núi phía Bắc.
Nhóm cán bộ quản lý văn hóa và cơ quan hoạch định chính sách cấp tỉnh, huyện: Các nhà quản lý có thể sử dụng dữ liệu thống kê về 26.000 dân cư Sán Dìu và thực trạng 9 câu lạc bộ tại Lục Ngạn để làm luận cứ thực tiễn xây dựng đề án bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
Nhóm nghệ nhân dân gian và ban chủ nhiệm các câu lạc bộ Soọng cô: Nguồn văn bản 200 bài ca từ đã được phiên âm, dịch nghĩa và chú giải điển tích chuẩn xác đóng vai trò như tập giáo trình chuẩn mực phục vụ công tác truyền dạy hát cho các thế hệ học viên kế cận.
Nhóm doanh nghiệp lữ hành và nhà phát triển du lịch cộng đồng: Các đơn vị kinh doanh du lịch có thể khai thác kịch bản diễn xướng 7 chặng và nét độc đáo của nghi lễ cưới hỏi để dàn dựng các sản phẩm du lịch trải nghiệm văn hóa bản địa khác biệt tại huyện Lục Ngạn.
Câu hỏi thường gặp
Hát Soọng cô của người Sán Dìu có điểm gì khác biệt so với các làn điệu dân ca khác ở Bắc Giang?
Soọng cô là thể loại dân ca đối đáp không sử dụng nhạc cụ đệm, giai điệu ngân dài tự do phụ thuộc vào hơi thở người hát. Điểm khác biệt lớn nhất nằm ở ca từ tuân thủ thể thơ thất ngôn tứ tuyệt ghi chép bằng chữ Hán - Nôm Sán Dìu, trong khi hát Quan họ hay Soong hao của người Nùng sử dụng thang âm và thể thơ khác biệt.
Vì sao văn bản hát Soọng cô cổ lại được ghi chép chủ yếu bằng chữ Hán và chữ Nôm Sán Dìu?
Do nguồn gốc lịch sử di cư từ vùng duyên hải Nam Trung Quốc, người Sán Dìu mượn khoảng 60% đến 70% tự dạng chữ Hán cổ kết hợp sáng tạo chữ Nôm bản địa để ghi âm tiếng mẹ đẻ. Các thầy cúng và nho sĩ trong làng đóng vai trò then chốt ghi chép lời ca thành sách nhằm lưu giữ qua nhiều đời.
Lề lối diễn xướng Soọng cô giao duyên diễn ra theo những chặng thời gian nào?
Một đêm hát giao duyên hoàn chỉnh diễn ra liên tục từ chập tối đến sáng hôm sau qua 7 chặng luân phiên gồm: hát mở đầu, mời gọi hát, tỏ tình lứa đôi, mời ăn đêm, hát gà gáy năm canh, đón bình minh và hát chia tay. Toàn bộ tiến trình phản ánh phép ứng xử tế nhị, mực thước giữa hai bên nam nữ.
Ý nghĩa của quy tắc bài hát đêm thứ nhất chỉ được hát lại vào đêm thứ năm là gì?
Quy tắc diễn xướng truyền thống này đòi hỏi các bên tham gia phải nắm giữ vốn liếng ca từ vô cùng phong phú và có tài ứng đối linh hoạt. Việc không lặp lại ca từ trong suốt 4 đêm liên tiếp thúc đẩy kho tàng Soọng cô liên tục phát triển, tạo nên tính đa dạng cho hàng trăm bài ca đối ứng.
Thực trạng duy trì và hoạt động của các câu lạc bộ Soọng cô tại Lục Ngạn hiện nay ra sao?
Huyện Lục Ngạn hiện duy trì 9 câu lạc bộ dân ca tại các xã như Giáp Sơn, Thanh Hải, Quý Sơn với khoảng 100 thành viên nòng cốt. Các câu lạc bộ sinh hoạt đều đặn trong các dịp nông nhàn, lễ hội mùa xuân và tích cực mở lớp truyền dạy chữ viết, lời ca cổ cho thanh thiếu niên địa phương.
Kết luận
- Công trình khẳng định Soọng cô là tài sản tinh thần vô giá, phản ánh bản sắc tâm hồn và thế giới quan của 26.000 đồng bào dân tộc Sán Dìu tại huyện Lục Ngạn.
- Luận văn hệ thống hóa và phân tích thi pháp hơn 200 bài ca từ mẫu mực, chứng minh cấu trúc thất ngôn tứ tuyệt độc vận bằng cùng nhịp điệu chẵn là đặc trưng nghệ thuật cốt lõi.
- Nghiên cứu làm sáng tỏ quy trình diễn xướng 7 bước chặt chẽ gắn liền với đời sống lao động 12 tháng và đạo lý uống nước nhớ nguồn của cộng đồng.
- Tư liệu điền dã năm 2022 cung cấp bức tranh chân thực về mạng lưới 9 câu lạc bộ, khắc phục sự trống vắng tư liệu khoa học chuyên sâu về dân ca Sán Dìu ở Bắc Giang.
- Hệ thống 4 giải pháp đề xuất mở ra lộ trình khả thi nhằm gắn kết di sản với giáo dục học đường và du lịch sinh thái bền vững.
Đóng góp lớn nhất của luận văn là công trình chuyên khảo đầu tiên giải mã toàn diện Soọng cô Lục Ngạn trên cả hai bình diện văn học và nhân học diễn xướng. Kế hoạch tiếp theo cần tập trung số hóa dữ liệu trong giai đoạn 2024 đến 2025 và áp dụng tài liệu vào trường học từ năm 2025. Các cấp chính quyền, nhà nghiên cứu và cộng đồng cần chung tay hành động thiết thực để tiếng hát Soọng cô tiếp tục ngân vang trường tồn giữa núi rừng Lục Ngạn.