Chương 1: Cơ sở lý luận về hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc. Chương 2: Thực trạng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc. Chương 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc. 7 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOÀN THIỆN HỆ THỐNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT VỀ BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI TÁC PHẨM ÂM NHẠC 1.
Khái quát về quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc 1. Khái niệm quyền tác giả Những tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học là những sản phẩm sáng tạo của trí tuệ có thể mang nhiều điểm khác nhau về địa lý, lịch sử, dân tộc, ngôn ngữ nhƣng đều mang đặc điểm chung đó là tính phi vật thể và khả năng dễ phổ biến, khai thác ở nhiều quốc gia. Do đó, cần thiết lập một hệ thống bảo hộ quyền tác giả đối với các tác phẩm của sáng tạo trí tuệ. Xuất phát từ nhiều góc độ khác nhau, quyền tác giả có thể đƣợc hiểu theo nhiều cách khác nhau.
Quyền tác giả là tổng hợp các quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học do chính mình sáng tạo ra hoặc sở hữu. Đó chính là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu. Nhƣ vậy, quyền tác giả đƣợc trao cho hai loại chủ thể, Tác giả và chủ sở hữu. Từ cách xem xét quyền tác giả nhƣ trên, dẫn đến việc chủ thể của quyền tác giả có thể là một trong hai loại, hoặc chủ thể bao gồm hai tƣ cách, Tác giả, chủ sở hữu tác phẩm.
Cụ thể hơn, nếu chủ thể là cá nhân thì có thể đóng vai trò là chủ sở hữu hoặc tác giả, hoặc cả hai. Còn chủ thể là tổ chức thì có quyền tác giả với tƣ cách là chủ sở hữu [35, tr. Quyền tác giả hay tác quyền là độc quyền của một tác giả cho tác phẩm của ngƣời này. Quyền tác giả đƣợc dùng để bảo vệ các sáng tạo tinh thần có tính chất văn hóa không bị vi phạm bản quyền, nhƣ các bài viết về khoa học hay văn học, sáng tác nhạc, ghi âm, tranh vẽ, hình chụp, phim và các chƣơng 8 trình truyền thanh.
Quyền này bảo vệ các quyền lợi cá nhân và lợi ích kinh tế của tác giả trong mối liên quan với tác phẩm, quyền tác giả thông thƣờng chỉ đƣợc công nhận khi sáng tạo này mới, có một phần công lao của tác giả và có thể chỉ ra đƣợc là có tính chất duy nhất [35]. Hiểu một cách đơn giản, quyền tác giả cho phép tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả đƣợc độc quyền khai thác tác phẩm, chống lại việc sao chép, trình diễn bất hợp pháp. Ví dụ: Tác giả một tác phẩm âm nhạc đƣợc làm chủ thành quả lao động trí tuệ của mình, đƣợc độc quyền công bố, hoặc cho ngƣời khác công bố tác phẩm âm nhạc của mình. Việc sao chép, phổ biến nội dung tác phẩm mà không có sự đồng ý của tác giả là xâm phạm quyền tác giả.
Công ƣớc Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật năm 1886 (Công ƣớc Berne) quy định rằng quyền tác giả đƣợc bảo hộ bao gồm quyền kinh tế và quyền tinh thần. Quyền kinh tế mà Công ƣớc Berne dành cho tác giả bao gồm [11, tr.11-14]: - Quyền sao chép và những quyền thuộc quyền này; - Quyền trình diễn và truyền phát tới công chúng một cuộc trình diễn tác phẩm kịch và âm nhạc; - Quyền phát sóng hoặc truyền phát tới công chúng bằng bất cứ phƣơng tiện vô tuyến khác; - Quyền đọc trƣớc công chúng, truyền phát bản đọc tác phẩm văn học tới công chúng; - Quyền phóng tác, cải biên, chuyển thể; - Quyền đối với tác phẩm điện ảnh; quyền hƣởng lợi ích vật chất trong việc bán lại tác phẩm; Quyền tác giả nói chung đƣợc hiểu là quyền mà pháp luật trao cho các tác giả là ngƣời sáng tạo ra tác phẩm, bao gồm quyền bộc lộ tác phẩm, quyền sao chép tác phẩm và phân phối hoặc phổ biến tác phẩm đến công chúng bằng bất kỳ phƣơng thức hoặc phƣơng tiện nào, và quyền cho phép ngƣời khác sử 9 dụng tác phẩm theo những cách thức cụ thể. Hầu hết luật quyền tác giả của các nƣớc đều phân biệt rõ giữa quyền tài sản và quyền nhân thân. Các ngoại lệ nhất định cũng đƣợc đặt ra đối với các loại hình tác phẩm đủ tiêu chuẩn bảo hộ, và đối với việc thực thi các quyền đó.
Luật Sở hữu trí tuệ và các văn bản hƣớng dẫn thi hành của Việt Nam cũng trao cho tác giả các quyền nhân thân và quyền tài sản đối với tác phẩm do chính tác giả trực tiếp sáng tạo ra. Từ khái niệm quyền tác giả, có thể suy ra đƣợc quyền tác giả là một quyền dân sự. Trong quan hệ pháp luật dân sự này, chủ thể là tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả. Khách thể hay đối tƣợng của quan hệ pháp luật dân sự về quyền tác giả là các tác phẩm văn học, khoa học, nghệ thuật.
Nội dung là các quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả. Tóm lại, Quyền tác giả là tổng hợp các quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả đƣợc pháp luật quy định đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học do chính mình sáng tạo ra hoặc sở hữu. Khái niệm về tác phẩm âm nhạc Từ điển Luật học có đƣa ra khái niệm “tác phẩm” là “sản phẩm sáng tạo trong các lĩnh vực văn học, nghệ thuật, khoa học đƣợc thể hiện dƣới hình thức và bằng phƣơng tiện nào đó, không phân biệt nội dung, giá trị và không phụ thuộc vào bất kỳ thủ tục nào”. Đại từ điển Tiếng Việt có ghi lại khái niệm “Tác phẩm” là “công trình do nghệ sĩ, các nhà văn hóa, khoa học tạo nên” [37, tr.
Khoản 7 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009 có định nghĩa: “Tác phẩm là sản phẩm sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học thể hiện bằng bất kỳ phƣơng tiện hay hình thức nào”. Từ đây ta có thể rút ra rằng trƣớc hết “tác phẩm âm nhạc” là “Sản phẩm sáng tạo trong lĩnh vực nghệ thuật” [37, tr. 10 Từ điển thuật ngữ quyền tác giả, quyền liên quan có đề cập: “Tác phẩm âm nhạc đƣợc hiểu chung là một loại hình tác phẩm nghệ thuật, đƣợc bảo hộ quyền tác giả. Tác phẩm âm nhạc bao gồm tất cả các kết hợp âm thanh (tổ hợp) có hoặc không có lời (lời thơ hoặc lời nhạc kịch), đƣợc trình diễn bằng các nhạc cụ có hoặc không có giọng hát”.
Theo giải nghĩa về tác phẩm âm nhạc – “musical work” trong từ điển tiếng anh thì có thể hiểu tác phẩm đƣợc coi là tác phẩm âm nhạc nếu chứa đựng nốt nhạc và lời hát (nếu có) trong một tác phẩm âm nhạc. Tác phẩm âm nhạc có thể thể hiện dƣới nhiều dạng khác nhau, có thể là một phần hoặc toàn bộ bản nhạc hay đƣợc ghi lại trong đĩa nhạc. Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới WIPO đã định nghĩa về “tác phẩm âm nhạc” nhƣ sau: “Bất kỳ tác phẩm nào bao gồm âm thanh hoặc chỉ chứa các ký tự âm nhạc ngay cả khi không bao gồm lời hay bất kỳ hành động nào nhằm mục đích đƣợc hát, nói hay biểu diễn với âm nhạc thì đƣợc coi là tác phẩm âm nhạc. Tác phẩm âm nhạc” đã đƣợc mô tả nhƣ là “một tác phẩm âm thanh đƣợc sáng tạo một cách trừu tƣợng để có thể biểu diễn qua âm thanh ngay cả khi không có lời”.
Tác phẩm âm nhạc là một trong những đối tƣợng bảo hộ của Công ƣớc Berne, tại Điều 2 Công ƣớc Berne đã quy định thuật ngữ: “Các tác phẩm văn học nghệ thuật bao gồm (…) các bản nhạc có lời hay không lời, (…). Tại Điều 12 Nghị định 100/2006/NĐ-CP ngày 21/09/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hƣớng dẫn thi hành một số điều của Bộ Luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả, quyền liên quan có định nghĩa tác phẩm âm nhạc là “tác phẩm đƣợc thể hiện dƣới dạng nốt trong bản nhạc hoặc các ký tự âm nhạc khác có hoặc không có lời, không phụ thuộc vào việc trình diễn hay không trình diễn”. Tuy nhiên, tác phẩm âm nhạc thƣờng phải thông qua giọng hát, hay nhạc cụ thì mới có thể truyền trƣớc công chúng, vẫn đƣợc xem là tác phẩm âm nhạc và bảo hộ theo nguyên tắc luật định. Khái niệm về quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc 1.
Tác giả âm nhạc Tác giả âm nhạc là ngƣời trực tiếp tạo ra toàn bộ hoặc một phần tác phẩm âm nhạc, đƣợc thể hiện dƣới dạng nốt trong bản nhạc hoặc các ký tự âm nhạc khác có hoặc không có lời, không phụ thuộc vào việc trình diễn hay không trình diễn. Hay có thể nói rằng nếu tác phẩm âm nhạc là kết quả sáng tạo trực tiếp của cá nhân nào đó thì cá nhân đó đƣợc coi là tác giả của tác phẩm âm nhạc đó. Những ngƣời đề xuất ý kiến, làm công việc hỗ trợ, đóng góp ý kiến hoặc cung cấp tƣ liệu cho ngƣời khác sáng tạo ra một tác phẩm âm nhạc thì không đƣợc công nhận là tác giả của tác phẩm âm nhạc. Tác phẩm âm nhạc đƣợc sáng tác phải là kết quả sáng tạo trực tiếp của tác giả tạo ra tác phẩm âm nhạc đó.
Tại từ điển Luật học Việt Nam có định nghĩa “tác giả” là ngƣời trực tiếp sáng tạo ra toàn bộ hoặc một phần tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học.