Chương 1: Một số van đề lý luận về pháp luật bảo hộ nhãn hiệu phi truyền thống. - Chương 2: Bảo hộ nhãn hiệu phi truyền thống theo pháp luật một số quốc gia và thực trạng bảo hộ nhãn hiệu phi truyền thống ở Việt Nam, - Chương 3: Dinh hướng hoàn thiện pháp luật và giải pháp cho việc bảo hộ nhãn hiệu phi truyền thống tại Việt Nam. CHUONG 1: MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE BẢO HỘ NHAN HIỆU PHI TRUYEN THONG 1. Khái quát chung về nhãn hiệu va bảo hộ nhãn hiệu 1.
Khái quát chung về nhãn hiệu 1. Khái niệm về nhãn hiệu Trong thời kỳ cô đại con người đã biết sử dụng nhãn hiệu. Họ dùng các dau hiệu, ký tự riêng biệt dé đánh dấu những đồ vật thuộc quyền sở hữu của mình. Tại thời điểm này có rất nhiều người đã dùng miếng đồng được nung đỏ dé đánh dấu trên cô những con bò của mình nhằm phân biệt với những con bò khác.
Thương mại phát triển, hàng hóa được sản xuất gia tăng nhanh chóng dẫn đến nhu cầu phân loại các mặt hàng của những người sản xuất khác nhau. Từ đó xuất hiện các dấu hiệu riêng biệt trên hàng hóa, đánh dấu hàng hóa do ai sản xuất. Điển hình trong thời kỳ Dé chế La Mã, những người thợ rèn đã sử dụng những dấu hiệu dé đánh dấu trên những vũ khí mà minh làm ra nhằm mục đích phân biệt với các loại vũ khí của người khác. Các dấu hiệu ngày càng được sử dụng rộng rãi và phổ biến trên các loại hàng hóa khác nhau như đồ gốm, vải, vàng, bạc, đồ trang sức, gạch, đá.
Các nhãn hiệu được sử dụng trong thời kỳ này rất đơn giản, hầu hết là những ký hiệu dưới dạng các hình vẽ nhỏ hoặc các hình học cơ bản. Tuy nhiên các nhãn hiệu này cũng đã đáp ứng được những điều kiện để bảo hộ (có tính phân biệt) mặc dù chưa có luật sở hữu trí tuệ tại thời điểm lúc bấy giờ.[37] Trong thời đại nay, nền kinh tế thị trường phát triển mạnh mẽ cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ đã kéo theo sự gia tăng một số lượng lớn các nhà sản xuất cùng tạo ra một mặt hàng. Vì thé người tiêu dùng sẽ căn cứ vào nhãn hiệu để nhận biết sản phẩm của các nhà sản xuất khác nhau. Nhãn hiệu còn giúp các nhà sản xuat truyên tải thông điệp vê sản phâm với người tiêu dùng, là lời cam kết về chất lượng sản phẩm của họ.
Chất lượng hàng hóa sẽ được các nha sản xuất không ngừng nâng cao dé đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng. Chức năng cơ bản của nhãn hiệu là chỉ ra nguồn gốc, xuất xứ và dùng để phân biệt sản phẩm. Vì thể, có thể hiểu nhãn hiệu là những dấu hiệu riêng biệt của sản phẩm hoặc dịch vụ, dùng dé phan biét san pham hoặc dich vụ của nhà san xuất này với sản phẩm hoặc dịch vụ của nhà sản xuất khác. Bất kỳ những dấu hiệu nào như chữ cái, con số, hình vẽ, hình ảnh, ký tự, âm thanh, mùi vi,.
hoặc là tat cả các sự kết hợp của các yếu tố đó có sự khác biệt có khả năng phân biệt sản phẩm hay dịch vụ đều được xem là nhãn hiệu. Ngày nay, nhãn hiệu còn là công cụ quảng cáo các sản phẩm hoặc dịch vụ của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp đều chú trọng đầu tư vào nhãn hiệu của họ vì nhãn hiệu là đại diện cho bộ mặt của doanh nghiệp. Đã có rất nhiều các điều ước quốc tế điều chỉnh các vẫn đề liên quan đến nhãn hiệu như Công ước Paris 1883 hay Thoả ước Madrid.
Công ước Paris 1883 là Công ước về bảo hộ quyền sử hữu công nghiệp đầu tiên và quan trọng nhất về sở hữu công nghiệp. Công ước được chính thức ký kết vào ngày 20/03/1883 tại Paris với sự tham gia của 11 nước thành viên là Bi, Brazil, Pháp, Guatemala, Ý, Hà Lan, Bồ Đào Nha, El Salvador, Serbia, Tây Ban Nha và Thuy Sĩ. Trong Công ước Paris 1883 có quy định các van đề về nhãn hiệu như điều kiện đăng ký, sự độc lập của việc bảo hộ một nhãn hiệu tại các nước khác nhau, nhãn hiệu nỗi tiếng,. Hệ thống Madrid là hệ thống đăng ký quốc tế về nhãn hiệu thiết lập con đường nộp đơn đăng ký quốc tế nhãn hiệu mà các nước thỏa thuận hình thành.
Có thé thay rằng Công ước Paris 1883 và Hệ thống Madird là những điều ước quốc tế đầu tiên quy định về bảo hộ nhãn hiệu. Tuy nhiên 2 điều ước quốc tế này chưa đưa ra một khái niệm rõ ràng thế nào là nhãn hiệu mà phải đến Hiệp định về các khía cạnh thương mại liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ (Hiệp định TRIPS) thì mới có quy định về khái niệm nhãn hiệu. Theo Điều 15 Hiệp định TRIPS quy định như sau: “Bat kỳ một dau hiệu hoặc tổ hợp các dau hiệu nào, có khả năng phân biệt hang hoá hoặc dich vụ của một doanh nghiệp với hang hoá hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp khác đêu có thể làm nhãn hiệu. Các dấu hiệu đó, đặc biệt là các từ, kế cả tên riêng, các chữ cái, chữ số, các yếu to hình học và tổ hợp các mâu sắc cũng như tô hop bất kỳ của các dấu hiệu đó phải có khả năng được đăng ký làm nhãn hiệu.
”|3] Theo khái niệm trên, có thể thấy Hiệp định TRIPS quy định về khái niệm nhãn hiệu khá rộng. Đầu tiên, nhãn hiệu phải là một dấu hiệu hoặc tổ hợp của các dấu hiệu. Thứ hai, các dấu hiệu đó phải có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hóa hoặc dịch vụ của doanh nghiệp khác. Thứ ba, các dấu hiệu đó có thê là các từ, kế cả tên riêng, các chữ cái, chữ số, các yếu tố hình học hoặc tổ hợp của các dau hiệu đây mà có khả năng được đăng ký được nhãn hiệu.
Việc quy định khái niệm về nhãn hiệu một cách khái quát và linh hoạt như này cho phép các quốc gia thành viên của Hiệp định có thé đưa ra quy định về nhãn hiệu của quốc gia mình một cách phù hợp. Luật nhãn hiệu Hoa Kỳ được quy định dựa trên đạo luật Lanham. Theo đoạn 1127 Lanham Act quy định về nhãn hiệu hàng hóa như sau: “Thuật ngữ nhãn hiệu hàng hóa bao gồm bat kỳ từ, tên gọi, biểu tượng hay hình vẽ hoặc sự kết hợp giữa chúng mà: (1) được sứ dụng boi một người, hoặc (2) được một người có ý định chân thành là sứ dụng nó trong thương mại và xin đăng ký theo quy định tại luật này dé xác định và phân biệt hàng hoá của người đó, bao gém cả các hàng hóa đặc chủng, với hàng hoá được sản xuất hoặc được bán bởi những người khác và chỉ ra nguồn gốc của hàng hoá thậm chí cả khi không xác định được nguồn sốc đó. ”[29] Theo sự giải thích về thuật ngữ nhãn hiệu này, nhãn hiệu bao gồm bat kỳ từ, tên gọi, biểu tượng hay hình vẽ hoặc sự kết hợp giữa chúng khi được một người sử dụng hoặc được một người sử dung và xin đăng ký bảo hộ.
Khái niệm này cũng đưa ra hai chức năng của nhãn hiệu là dùng để phân biệt hàng hóa của người sử dụng nhãn hiệu và chỉ ra nguồn sốc của hàng hóa. Như vậy, đặc điểm cơ bản chủ yếu của nhãn hiệu là có khả năng phân biệt được. Bất kỳ nhãn hiệu nào không có khả năng phân biệt đều không thể đăng ký là nhãn hiệu. Đây là điều kiện chung từ các Điều ước quốc tế cho đến pháp luật về đăng ký nhãn hiệu của các quốc gia thành viên và Việt Nam cũng không ngoại lệ.
Mặc dù có các quy định khác nhau về nhãn hiệu nhưng tat cả các quy định này đều giống nhau ở cách tiếp cận khái niệm theo chức năng phân biệt hàng hóa dịch vụ của nhãn hiệu. Chức năng phân biệt là chức năng cơ bản và bắt buộc dé một nhãn hiệu có thé được đăng ký bảo hộ. Khái niệm về nhãn hiệu của Việt Nam được quy định trong Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 được sửa đổi bố sung năm 2022. Tại khoản 16 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ quy định như sau: “Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cả nhân khác nhau.
” Khái niệm về nhãn hiệu của Việt Nam về cơ bản đã đáp ứng yêu cầu trong Hiệp định TRIPS. Các dấu hiệu có thé dùng dé phân biệt sản phâm của các tô chức, cá nhân khác nhau đều có thé được đăng ký bảo hộ nhãn hiệu. Chức năng của nhãn hiệu Nhãn hiệu có vai trò vô cùng quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp bởi vì nhãn hiệu có rất nhiều chức năng khác nhau. Trong khuôn khô luận văn, học viên xin nêu ra các chức năng chính của nhãn hiệu.
Thứ nhất, nhãn hiệu có chức năng phân biệt. Có thé dé dàng nhận thấy tính phân biệt của nhãn hiệu được đề cập ở hầu hết các khái niệm nhãn hiệu trong các Điêu ước quôc tê và pháp luật vê nhãn hiệu của các quôc gia trên 10 thế giới. Trong Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam cũng giải thích nhãn hiệu là “dau hiệu dùng dé phân biệt”. Như vậy, chức năng phân biệt của nhãn hiệu là chức năng quan trọng nhất và được pháp luật về sở hữu trí tuệ ghi nhận.
Chức năng này giúp cho người tiêu dùng xác định được một sản phẩm hay dịch vụ của một doanh nghiệp nham phân biệt với san phẩm hay dịch vụ tương tự do doanh nghiệp khác cung cấp. Khi sử dụng một sản phẩm hoặc một dịch vụ, người tiêu dùng sẽ ghi nhớ nhãn hiệu của sản phẩm hoặc dịch vụ đó. Nếu họ cảm thấy hài lòng sau khi sử dụng, họ thường có xu hướng sử dụng lại sản phẩm hoặc dich vụ đó vào các lần tiếp theo. Còn nếu người tiêu dùng có trải nghiệm không tốt về sản phâm hoặc dịch vụ, họ thường không sử dụng lại sản phâm hoặc dịch vụ đó.
Người tiêu dùng sẽ dựa vào nhãn hiệu dé ghi nhớ va đưa ra quyết định lựa chọn cho sản phâm hoặc dịch vụ mà họ muốn sử dụng. Thứ hai, nhãn hiệu có chức năng thông tin và chỉ dẫn về nguồn gốc của hàng hóa, dịch vụ. Nhãn hiệu được xem như một phương tiện chỉ dẫn nguồn gốc, xuất xứ một cách hiệu quả và nhanh chóng. Mỗi doanh nghiệp có một nhãn hiệu riêng biệt, từ nhãn hiệu đó người tiêu dùng biết được sản pham duoc sản xuất ở đâu va của doanh nghiệp nào.