CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC CÂN BẰNG LỢI ÍCH TRONG BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ 1. Tổng quan về bảo hộ quyền tác giả Trong pháp luật quốc tế, quyền tác giả đã được đề cập cách đây hàng ngàn năm. Một trong những tài liệu tham khảo đầu tiên về bảo vệ sở hữu trí tuệ cho thấy việc bảo hộ quyền tác giả đã xuất hiện vào khoảng những năm 200 TCN và sau đó là thời La Mã1. Tuy nhiên, những ví dụ này thường được cho là không điển hình vì theo như chúng ta biết, trong pháp luật La Mã không hề ghi nhận chúng.
Cơ chế bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ hiện đại được biết đến rộng rãi từ hệ thống pháp luật của Anh bắt đầu bằng Luật Độc quyền (1624) và Đạo luật Anne (1710). Tuy nhiên dù Luật Độc quyền có quy định việc bảo hộ, các tác phẩm văn học thời kỳ này vẫn chưa được bảo hộ rộng rãi. Vì vậy quy chế của Nữ hoàng Anne (1710) được các học giả thế giới thừa nhận rộng rãi là quy tắc đầu tiên của quyền tác giả hiện đại.2 Do điều kiện lịch sử, truyền thống văn hóa và điều kiện kinh tế - xã hội mà việc đề cập đến quyền tác giả giữa các nước khác nhau có những khác biệt nhất định. Ở các nước theo truyền thống pháp luật lục địa khi đề cập đến quyền tác giả (tiếng Pháp: droit d’auteur, tiếng Đức: Urheberrecht), họ thường nhấn mạnh đến khía cạnh nhân thân của quyền tác giả, trong khi các nước thuộc hệ thống luật Anh - Mỹ thường nhấn mạnh quyền thương mại trong quyền tác giả (bản quyền - copyright).
Chính vì vậy, mỗi quốc gia khác nhau lại định nghĩa quyền tác giả (hay bản quyền) với những nội dung khác nhau. Cho đến nay chưa có Công ước quốc tế nào đưa ra một định nghĩa trực tiếp và 1Trong tác phẩm của Bruce Bugbee: Sáng kiến về Bằng sáng chế và Luật Bản quyền Hoa Kỳ (Bugbee 1967) 2 Stanford Encyclopedia of Philosophy (2014), “Intellectual Property”, https://plato.edu/entries/intellectual-property/#HisIntPro – truy cập ngày 1/4/2017 6 thống nhất về quyền tác giả. Công ước Berne không đưa ra định nghĩa về quyển tác giả mà quy định rằng quyền tác giả phát sinh ngay khi tác phẩm được ấn định trên một hình thái vật chất.3 Trong pháp luật Việt Nam, quyền tác giả theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009 là “quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu”. Khái niệm này về cơ bản đã đưa ra được tiêu chí rõ ràng để xác định chủ thể có quyền tác giả là chủ thể đó phải trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm hoặc có quyền sở hữu đối với tác phẩm.
Tiếp đến, theo Điều 18 Luật sửa đổi bổ sung Luật SHTT quy định “Quyền tác giả đối với tác phẩm quy định tại luật này bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản.” Như vậy, có thể hiểu “quyền tác giả" là tổng hợp các quyền độc quyền về nhân thân và quyền tài sản của người trực tiếp tạo ra các tác phẩm văn học nghệ thuật, khoa học khi các tác phẩm đó được định hình trên một vật hữu hình và của những người có liên quan đến những tác phẩm đó.4 Tuy nhiên, chúng ta cần lưu ý rằng, việc phân chia các quyền chủ thể thành quyền nhân thân và quyền tài sản cũng chỉ mang tính tương đối bởi bất kỳ một quyền năng nào cũng đều có những nội dung về nhân thân và tài sản ở những mức độ khác nhau.“Hai phạm trù này có những mối liên hệ nhất định và không dễ dàng để phân biệt chúng, ví dụ như đối với quyền nhân thân cơ bản như quyền công bố hay công bố đầu tiên”.5 Từ việc phân tích quyền tác giả theo pháp luật quốc tế cũng như pháp luật Việt Nam, có thể thấy rõ những đặc điểm nổi bật của quyền tác giả mà 3 Khoản 2 điều 2 Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học nghệ thuật 4 ThS. Bùi Thị Thanh Hằng (2002), “Một số vấn đề pháp luật về quyền tác giả ở nước ta hiện nay”, Tóm tắt báo cáo NCKH – Tr04 5 PGS. Nguyễn Thị Quế Anh (2016), “Bảo hộ quyền tác giả theo pháp luật cộng hòa pháp trong bối cảnh phát triển của pháp luật Châu Âu và những tham chiếu nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam”, Kỷ yếu hội thảo pháp luật Việt-Pháp, Khoa Luật ĐHQGHN, tr 90 7 hầu hết các quốc gia đều ghi nhận. Thứ nhất, quyền tác giả được xác lập ngay khi tác phẩm được thể hiện dưới một hình thức nhất định (tính định hình).
Pháp luật không thể bảo hộ cho những “ý tưởng”, những suy nghĩ vô định ở trong trí óc một người. Để có thể được bảo vệ, mọi ý tưởng phải được thể hiện dưới dạng vật chất và có thể cảm nhận bằng các giác quan. Thứ hai, tác phẩm được bảo hộ phải có tính nguyên gốc, tức là không sao chép, bắt chước tác phẩm khác. Điều đó không có nghĩa là ý tưởng của các tác phẩm phải hoàn toàn mới và yêu cầu một trình độ sáng tạo cao, mà có nghĩa là ít nhất hình thức sáng tạo tác phẩm phải do chính tác giả sáng tạo ra.
Như vậy các đối tượng của quyền tác giả (thông thường được thừa nhận rộng rãi bao gồm: tác phẩm văn học, tác phẩm âm nhạc, tác phẩm nghệ thuật, bản đồ và các bản vẽ kỹ thuật, tác phẩm nhiếp ảnh, tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính và các sản phẩm đa phương tiện 6) được bảo hộ tự động ngay khi được định hình, tức được bảo hộ mà không cần thực hiện việc đăng ký. Điều này có nghĩa là chủ thể của quyền tác giả (tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả) có độc quyền trong việc sử dụng và khai thác tác phẩm dưới sự bảo hộ của pháp luật. Mọi hành vi sao chép, trích dẫn, công bố hay phổ biến tác phẩm nhằm mục đích thương mại mà không có sự đồng ý của chủ thể quyền đều bị coi là xâm phạm quyền tác giả. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, pháp luật cho phép sao chép, trích đoạn một phần của tác phầm vì mục đích cá nhân phi thương mại (các trường hợp sử dụng hạn chế).
Pháp luật sở hữu trí tuệ và tiến trình hài hòa hóa quyền, lợi ích giữa các chủ thể Không giống với quyền sở hữu tài sản hữu hình sớm được nhân loại ý thức được từ thời cổ đại. Quá trình hình thành phát triển của quyền sở hữu trí 6 WIPO (2004), “Những điều chưa biết về sở hữu trí tuệ”, truy cập ngày 1/4/2017, http://www.int/export/sites/www/sme/en/documents/guides/translation/secrets_of_ip_vi.pdf , tr67 8 tuệ lâu dài và phức tạp hơn rất nhiều. Thậm chí, dù các học giả có tìm thấy những bằng chứng chứng minh tư duy về quyền sở hữu tài sản trí tuệ xuất hiện từ thời cổ đại, cũng vẫn có sự nhập nhằng khó phân tách của nó với quyền sở hữu tài sản nói chung, rằng ở thời kỳ cổ đại, khoa học pháp lý nói riêng vẫn còn nằmtrong khối tri thức triết học và triết học về sở hữu trí tuệ đa số bắt nguồn từ triết học về quyền sở hữu7. Phải mất nhiều thế kỷ sau đó, loài người – với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, kỹ thuật, đặc biệt là công nghệ in ấn, mới dần ý thức sâu sắc và đấu tranh mạnh mẽ để bảo hộ quyền sở hữu đối với tài sản sở hữu trí tuệ.
Các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, các sáng chế hay bất kỳ đối tượng nào của quyền SHTT được các tác giả sáng tạo nên bằng trí tuệ và sự lao động miệt mài hoặc phải bỏ ra một chi phí thích đáng để được nắm giữ quyền sở hữu, do vậy quyền sở hữu các thành quả lao động này phải thuộc về họ. Nếu nhà nước không có một cơ chế bảo hộ thích hợp quyền của chủ SHTT thì không thể khuyến khích sự sáng tạo, từ đó là sự phát triển của văn hoá, khoa học, kỹ thuật. Tuy nhiên việc sở hữu tài sản vô hình là đối tượng SHTT lại có những điểm khác biệt so với việc sở hữu tài sản hữu hình. Chủ thể nắm giữ quyền SHTT có quyền cho phép hoặc ngăn cấm các chủ thể khác sử dụng đối tượng SHTT thuộc quyền sở hữu của mình mà không cần phải chiếm hữu quyền đó trên thực tế.
Việc định đoạt loại tài sản vô hình này được thực hiện thông qua sự cho phép hay cấm bất kỳ chủ thể nào khác khai thác các đối tượng SHTT. Chính vì đặc điểm này mà quyền SHTT, đặc biệt là quyền tác giả rất dễ bị xâm phạm. Điều này đòi hỏi quyền tác giả phải được pháp luật bảo hộ bằng một cơ chế thích hợp. Bảo hộ quyền tác giả chính là tạo ra môi trường pháp lý để bảo vệ quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả, chủ sở hữu SHTT, 7 Nguyễn Anh Đức (2014), “Bảo hộ quyền tác giả dưới những xâm phạm từ internet trên thế giới và Việt Nam: phân tích dưới góc độ quyền con người”, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật – ĐHQGHN, tr 09 9 thúc đẩy sự sáng tạo để phát triển nền kinh tế tri thức.
Và việc này chịu sự ảnh hưởng rất lớn từ chính sách của nhà nước đến hệ thống pháp luật và cơ chế thực thi quyền cũng như nhận thức và ý thức của xã hội. Tuy nhiên, nếu chỉ hướng tới mục đích bảo vệ các chủ thể quyền thì có thể dẫn đến sự lạm dụng độc quyền của họ và ảnh hưởng đến việc tiếp cận tri thức, tiếp cận thành quả khoa học kỹ thuật của đông đảo công chúng, chưa kể đến nếu bảo hộ quá lâu, quá rộng sẽ dẫn đến sự cản trở giao lưu văn hoá, khoa học giữa các quốc gia lẫn nhau. Đối với công chúng, ngoài các quyền cơ bản như: quyền được sống, quyền được mưu cầu hạnh phúc, tự do ngôn luận., họ còn có một quyền hết sức quan trọng và chính đáng là quyền được tiếp cận, kế thừa tri thức của nhân loại. Trong trường hợp này lợi ích của tác giả và công chúng là mâu thuẫn nhau.
Nếu tác giả, chủ sở hữu các đối tượng SHTT chỉ quan tâm đến việc thiết lập, khai thác và bảo vệ quyền sở hữu tuyệt đối của mình đối với đối tượng SHTT mà không nghĩ tới lợi ích của công chúng thì điều này sẽ trở thành rào cản cho sự khai thác các đối tượng này và tạo nên sự lạm dụng độc quyền của chủ sở hữu. Điều này cũng sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế- văn hóa của xã hội.