Khóa Luận Tốt Nghiệp Về Nguyên Tắc Cân Bằng Lợi Ích Trong Bảo Hộ Quyền Tác Giả

Luận văn tốt nghiệp nghiên cứu tốt nghiệp nguyên tắc cân bằng lợi ích trong bảo hộ quyền tác giả, điều tra thực trạng, phân tích số liệu, đề xuất biện pháp cải tiến thực tế.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật Dân Sự

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2017

55
6
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC VIẾT TẮT

1. CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC CÂN BẰNG LỢI ÍCH TRONG BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ

1.1. Tổng quan về bảo hộ quyền tác giả

1.2. Pháp luật sở hữu trí tuệ và tiến trình hài hòa hóa quyền, lợi ích giữa các chủ thể

1.3. Khái niệm và ý nghĩa của nguyên tắc cân bằng lợi ích giữa chủ thể quyền và lợi ích xã hội trong bảo hộ quyền tác giả

1.4. Khái niệm nguyên tắc cân bằng lợi ích giữa chủ thể quyền và lợi ích xã hội trong bảo hộ quyền tác giả

1.5. Ý nghĩa của nguyên tắc cân bằng lợi ích trong bảo hộ quyền tác giả

1.6. Nội dung cơ bản của nguyên tắc cân bằng lợi ích giữa chủ thể quyền và công chúng

1.7. Giới hạn các đối tượng không được bảo hộ quyền tác giả

1.8. Bảo hộ quyền tác giả trong thời hạn thích hợp

1.9. Cho phép các trường hợp sử dụng tự do tác phẩm

1.10. Sự phát triển nguyên tắc cân bằng lợi ích trong pháp luật quyền tác giả của Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: SỰ THỂ HIỆN NGUYÊN TẮC CÂN BẰNG LỢI ÍCH TRONG PHÁP LUẬT VỀ BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ TẠI VIỆT NAM

2.1. Cân bằng lợi ích trong quy định về các đối tượng không được bảo hộ quyền tác giả

2.2. Cân bằng lợi ích trong quy định về trường hợp sử dụng hạn chế quyền tác giả. Trường hợp sử dụng tác phẩm không phải xin phép, không phải trả nhuận bút, thù lao

2.3. Trường hợp sử dụng tác phẩm không phải xin phép nhưng phải trả nhuận bút, thù lao

2.4. Cân bằng lợi ích trong quy định về thời hạn bảo hộ quyền tác giả

3. CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH VỀ NGUYÊN TẮC CÂN BẰNG LỢI ÍCH VÀ ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT QUYỀN TÁC GIẢ TẠI VIỆT NAM

3.1. Thực tiễn áp dụng quy định về nguyên tắc cân bằng lợi ích trong bảo hộ quyền tác giả tại Việt Nam

3.2. Tình hình chung về việc bảo hộ quyền tác giả tại Việt Nam

3.3. Nguyên nhân của tình hình vi phạm bản quyền tại Việt Nam

3.4. Đề xuất hoàn thiện pháp luật về quyền tác giả nhằm bảo đảm nguyên tắc cân bằng lợi ích quyền tác giả tại Việt Nam

3.5. Giải pháp hoàn thiện xây dựng quy định của pháp luật. Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về bảo hộ quyền tác giả

Bảo hộ quyền tác giả là một trong những lĩnh vực quan trọng của pháp luật sở hữu trí tuệ. Quyền tác giả không chỉ bảo vệ quyền lợi của người sáng tạo mà còn đảm bảo lợi ích của xã hội trong việc tiếp cận tri thức. Theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ 2005, quyền tác giả được xác định là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo. Điều này cho thấy sự cần thiết phải cân bằng giữa quyền lợi của tác giả và lợi ích công cộng. Việc bảo hộ quyền tác giả đã xuất hiện từ hàng ngàn năm trước, với những ví dụ đầu tiên trong lịch sử La Mã. Tuy nhiên, cơ chế bảo hộ hiện đại chỉ thực sự được hình thành từ thế kỷ 18 với sự ra đời của Luật Độc quyền và Đạo luật Anne. Điều này cho thấy sự phát triển của quyền tác giả chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố như văn hóa, kinh tế và chính trị.

1.1. Khái niệm và ý nghĩa của quyền tác giả

Quyền tác giả bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản, cho phép tác giả kiểm soát việc sử dụng tác phẩm của mình. Quyền nhân thân không thể chuyển nhượng, trong khi quyền tài sản có thể được chuyển nhượng hoặc cấp phép cho người khác. Điều này cho thấy sự cần thiết phải bảo vệ quyền lợi của tác giả trong khi vẫn đảm bảo quyền lợi của xã hội. Sự phát triển của công nghệ và internet đã tạo ra nhiều thách thức trong việc bảo vệ quyền tác giả, do đó, cần có những quy định rõ ràng để đảm bảo quyền lợi của cả hai bên.

II. Pháp luật sở hữu trí tuệ và tiến trình hài hòa hóa quyền lợi ích giữa các chủ thể

Pháp luật sở hữu trí tuệ không chỉ bảo vệ quyền lợi của tác giả mà còn cần đảm bảo lợi ích của xã hội. Nguyên tắc cân bằng lợi ích giữa quyền tác giả và lợi ích công cộng là rất quan trọng trong việc xây dựng một hệ thống pháp luật hiệu quả. Việc bảo vệ quyền tác giả không nên dẫn đến sự lạm dụng quyền lợi, gây cản trở cho việc tiếp cận tri thức của công chúng. Chính vì vậy, pháp luật cần có những quy định rõ ràng về việc sử dụng tác phẩm mà không cần sự đồng ý của tác giả trong một số trường hợp nhất định, như giáo dục, nghiên cứu hoặc phê bình.

2.1. Sự cần thiết của việc hài hòa hóa quyền lợi

Việc hài hòa hóa quyền lợi giữa các chủ thể trong lĩnh vực quyền tác giả là cần thiết để đảm bảo một môi trường sáng tạo lành mạnh. Các quy định pháp luật cần phải linh hoạt và phù hợp với thực tiễn xã hội, nhằm tạo điều kiện cho việc sáng tạo và phát triển văn hóa, khoa học. Điều này không chỉ giúp bảo vệ quyền lợi của tác giả mà còn khuyến khích sự sáng tạo và phát triển kinh tế tri thức.

III. Sự phát triển nguyên tắc cân bằng lợi ích trong pháp luật về bảo hộ quyền tác giả của Việt Nam

Nguyên tắc cân bằng lợi ích trong pháp luật bảo hộ quyền tác giả tại Việt Nam đã được thể hiện rõ qua các quy định trong Luật sở hữu trí tuệ. Từ năm 2005 đến nay, nhiều sửa đổi bổ sung đã được thực hiện nhằm cải thiện hệ thống pháp luật này. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức trong việc áp dụng nguyên tắc này, đặc biệt là trong bối cảnh phát triển công nghệ và sự gia tăng các hành vi xâm phạm quyền tác giả. Cần có những giải pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật, từ đó bảo vệ quyền lợi của tác giả và đảm bảo lợi ích của công chúng.

3.1. Thực tiễn áp dụng và thách thức

Thực tiễn áp dụng nguyên tắc cân bằng lợi ích trong bảo hộ quyền tác giả tại Việt Nam gặp nhiều khó khăn. Việc vi phạm quyền tác giả vẫn diễn ra phổ biến, do nhận thức của người dân còn hạn chế và các biện pháp xử lý chưa đủ mạnh. Do đó, cần có sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng và nâng cao nhận thức của cộng đồng về quyền tác giả để bảo vệ tốt hơn quyền lợi của tác giả và lợi ích xã hội.

11/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC CÂN BẰNG LỢI ÍCH TRONG BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ 1. Tổng quan về bảo hộ quyền tác giả Trong pháp luật quốc tế, quyền tác giả đã được đề cập cách đây hàng ngàn năm. Một trong những tài liệu tham khảo đầu tiên về bảo vệ sở hữu trí tuệ cho thấy việc bảo hộ quyền tác giả đã xuất hiện vào khoảng những năm 200 TCN và sau đó là thời La Mã1. Tuy nhiên, những ví dụ này thường được cho là không điển hình vì theo như chúng ta biết, trong pháp luật La Mã không hề ghi nhận chúng.

Cơ chế bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ hiện đại được biết đến rộng rãi từ hệ thống pháp luật của Anh bắt đầu bằng Luật Độc quyền (1624) và Đạo luật Anne (1710). Tuy nhiên dù Luật Độc quyền có quy định việc bảo hộ, các tác phẩm văn học thời kỳ này vẫn chưa được bảo hộ rộng rãi. Vì vậy quy chế của Nữ hoàng Anne (1710) được các học giả thế giới thừa nhận rộng rãi là quy tắc đầu tiên của quyền tác giả hiện đại.2 Do điều kiện lịch sử, truyền thống văn hóa và điều kiện kinh tế - xã hội mà việc đề cập đến quyền tác giả giữa các nước khác nhau có những khác biệt nhất định. Ở các nước theo truyền thống pháp luật lục địa khi đề cập đến quyền tác giả (tiếng Pháp: droit d’auteur, tiếng Đức: Urheberrecht), họ thường nhấn mạnh đến khía cạnh nhân thân của quyền tác giả, trong khi các nước thuộc hệ thống luật Anh - Mỹ thường nhấn mạnh quyền thương mại trong quyền tác giả (bản quyền - copyright).

Chính vì vậy, mỗi quốc gia khác nhau lại định nghĩa quyền tác giả (hay bản quyền) với những nội dung khác nhau. Cho đến nay chưa có Công ước quốc tế nào đưa ra một định nghĩa trực tiếp và 1Trong tác phẩm của Bruce Bugbee: Sáng kiến về Bằng sáng chế và Luật Bản quyền Hoa Kỳ (Bugbee 1967) 2 Stanford Encyclopedia of Philosophy (2014), “Intellectual Property”, https://plato.edu/entries/intellectual-property/#HisIntPro – truy cập ngày 1/4/2017 6 thống nhất về quyền tác giả. Công ước Berne không đưa ra định nghĩa về quyển tác giả mà quy định rằng quyền tác giả phát sinh ngay khi tác phẩm được ấn định trên một hình thái vật chất.3 Trong pháp luật Việt Nam, quyền tác giả theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009 là “quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu”. Khái niệm này về cơ bản đã đưa ra được tiêu chí rõ ràng để xác định chủ thể có quyền tác giả là chủ thể đó phải trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm hoặc có quyền sở hữu đối với tác phẩm.

Tiếp đến, theo Điều 18 Luật sửa đổi bổ sung Luật SHTT quy định “Quyền tác giả đối với tác phẩm quy định tại luật này bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản.” Như vậy, có thể hiểu “quyền tác giả" là tổng hợp các quyền độc quyền về nhân thân và quyền tài sản của người trực tiếp tạo ra các tác phẩm văn học nghệ thuật, khoa học khi các tác phẩm đó được định hình trên một vật hữu hình và của những người có liên quan đến những tác phẩm đó.4 Tuy nhiên, chúng ta cần lưu ý rằng, việc phân chia các quyền chủ thể thành quyền nhân thân và quyền tài sản cũng chỉ mang tính tương đối bởi bất kỳ một quyền năng nào cũng đều có những nội dung về nhân thân và tài sản ở những mức độ khác nhau.“Hai phạm trù này có những mối liên hệ nhất định và không dễ dàng để phân biệt chúng, ví dụ như đối với quyền nhân thân cơ bản như quyền công bố hay công bố đầu tiên”.5 Từ việc phân tích quyền tác giả theo pháp luật quốc tế cũng như pháp luật Việt Nam, có thể thấy rõ những đặc điểm nổi bật của quyền tác giả mà 3 Khoản 2 điều 2 Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học nghệ thuật 4 ThS. Bùi Thị Thanh Hằng (2002), “Một số vấn đề pháp luật về quyền tác giả ở nước ta hiện nay”, Tóm tắt báo cáo NCKH – Tr04 5 PGS. Nguyễn Thị Quế Anh (2016), “Bảo hộ quyền tác giả theo pháp luật cộng hòa pháp trong bối cảnh phát triển của pháp luật Châu Âu và những tham chiếu nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam”, Kỷ yếu hội thảo pháp luật Việt-Pháp, Khoa Luật ĐHQGHN, tr 90 7 hầu hết các quốc gia đều ghi nhận. Thứ nhất, quyền tác giả được xác lập ngay khi tác phẩm được thể hiện dưới một hình thức nhất định (tính định hình).

Pháp luật không thể bảo hộ cho những “ý tưởng”, những suy nghĩ vô định ở trong trí óc một người. Để có thể được bảo vệ, mọi ý tưởng phải được thể hiện dưới dạng vật chất và có thể cảm nhận bằng các giác quan. Thứ hai, tác phẩm được bảo hộ phải có tính nguyên gốc, tức là không sao chép, bắt chước tác phẩm khác. Điều đó không có nghĩa là ý tưởng của các tác phẩm phải hoàn toàn mới và yêu cầu một trình độ sáng tạo cao, mà có nghĩa là ít nhất hình thức sáng tạo tác phẩm phải do chính tác giả sáng tạo ra.

Như vậy các đối tượng của quyền tác giả (thông thường được thừa nhận rộng rãi bao gồm: tác phẩm văn học, tác phẩm âm nhạc, tác phẩm nghệ thuật, bản đồ và các bản vẽ kỹ thuật, tác phẩm nhiếp ảnh, tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính và các sản phẩm đa phương tiện 6) được bảo hộ tự động ngay khi được định hình, tức được bảo hộ mà không cần thực hiện việc đăng ký. Điều này có nghĩa là chủ thể của quyền tác giả (tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả) có độc quyền trong việc sử dụng và khai thác tác phẩm dưới sự bảo hộ của pháp luật. Mọi hành vi sao chép, trích dẫn, công bố hay phổ biến tác phẩm nhằm mục đích thương mại mà không có sự đồng ý của chủ thể quyền đều bị coi là xâm phạm quyền tác giả. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, pháp luật cho phép sao chép, trích đoạn một phần của tác phầm vì mục đích cá nhân phi thương mại (các trường hợp sử dụng hạn chế).

Pháp luật sở hữu trí tuệ và tiến trình hài hòa hóa quyền, lợi ích giữa các chủ thể Không giống với quyền sở hữu tài sản hữu hình sớm được nhân loại ý thức được từ thời cổ đại. Quá trình hình thành phát triển của quyền sở hữu trí 6 WIPO (2004), “Những điều chưa biết về sở hữu trí tuệ”, truy cập ngày 1/4/2017, http://www.int/export/sites/www/sme/en/documents/guides/translation/secrets_of_ip_vi.pdf , tr67 8 tuệ lâu dài và phức tạp hơn rất nhiều. Thậm chí, dù các học giả có tìm thấy những bằng chứng chứng minh tư duy về quyền sở hữu tài sản trí tuệ xuất hiện từ thời cổ đại, cũng vẫn có sự nhập nhằng khó phân tách của nó với quyền sở hữu tài sản nói chung, rằng ở thời kỳ cổ đại, khoa học pháp lý nói riêng vẫn còn nằmtrong khối tri thức triết học và triết học về sở hữu trí tuệ đa số bắt nguồn từ triết học về quyền sở hữu7. Phải mất nhiều thế kỷ sau đó, loài người – với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, kỹ thuật, đặc biệt là công nghệ in ấn, mới dần ý thức sâu sắc và đấu tranh mạnh mẽ để bảo hộ quyền sở hữu đối với tài sản sở hữu trí tuệ.

Các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, các sáng chế hay bất kỳ đối tượng nào của quyền SHTT được các tác giả sáng tạo nên bằng trí tuệ và sự lao động miệt mài hoặc phải bỏ ra một chi phí thích đáng để được nắm giữ quyền sở hữu, do vậy quyền sở hữu các thành quả lao động này phải thuộc về họ. Nếu nhà nước không có một cơ chế bảo hộ thích hợp quyền của chủ SHTT thì không thể khuyến khích sự sáng tạo, từ đó là sự phát triển của văn hoá, khoa học, kỹ thuật. Tuy nhiên việc sở hữu tài sản vô hình là đối tượng SHTT lại có những điểm khác biệt so với việc sở hữu tài sản hữu hình. Chủ thể nắm giữ quyền SHTT có quyền cho phép hoặc ngăn cấm các chủ thể khác sử dụng đối tượng SHTT thuộc quyền sở hữu của mình mà không cần phải chiếm hữu quyền đó trên thực tế.

Việc định đoạt loại tài sản vô hình này được thực hiện thông qua sự cho phép hay cấm bất kỳ chủ thể nào khác khai thác các đối tượng SHTT. Chính vì đặc điểm này mà quyền SHTT, đặc biệt là quyền tác giả rất dễ bị xâm phạm. Điều này đòi hỏi quyền tác giả phải được pháp luật bảo hộ bằng một cơ chế thích hợp. Bảo hộ quyền tác giả chính là tạo ra môi trường pháp lý để bảo vệ quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả, chủ sở hữu SHTT, 7 Nguyễn Anh Đức (2014), “Bảo hộ quyền tác giả dưới những xâm phạm từ internet trên thế giới và Việt Nam: phân tích dưới góc độ quyền con người”, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật – ĐHQGHN, tr 09 9 thúc đẩy sự sáng tạo để phát triển nền kinh tế tri thức.

Và việc này chịu sự ảnh hưởng rất lớn từ chính sách của nhà nước đến hệ thống pháp luật và cơ chế thực thi quyền cũng như nhận thức và ý thức của xã hội. Tuy nhiên, nếu chỉ hướng tới mục đích bảo vệ các chủ thể quyền thì có thể dẫn đến sự lạm dụng độc quyền của họ và ảnh hưởng đến việc tiếp cận tri thức, tiếp cận thành quả khoa học kỹ thuật của đông đảo công chúng, chưa kể đến nếu bảo hộ quá lâu, quá rộng sẽ dẫn đến sự cản trở giao lưu văn hoá, khoa học giữa các quốc gia lẫn nhau. Đối với công chúng, ngoài các quyền cơ bản như: quyền được sống, quyền được mưu cầu hạnh phúc, tự do ngôn luận., họ còn có một quyền hết sức quan trọng và chính đáng là quyền được tiếp cận, kế thừa tri thức của nhân loại. Trong trường hợp này lợi ích của tác giả và công chúng là mâu thuẫn nhau.

Nếu tác giả, chủ sở hữu các đối tượng SHTT chỉ quan tâm đến việc thiết lập, khai thác và bảo vệ quyền sở hữu tuyệt đối của mình đối với đối tượng SHTT mà không nghĩ tới lợi ích của công chúng thì điều này sẽ trở thành rào cản cho sự khai thác các đối tượng này và tạo nên sự lạm dụng độc quyền của chủ sở hữu. Điều này cũng sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế- văn hóa của xã hội.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Khóa Luận Tốt Nghiệp Về Nguyên Tắc Cân Bằng Lợi Ích Trong Bảo Hộ Quyền Tác Giả" của Nguyễn Thị Thu Trang, dưới sự hướng dẫn của PGS. TS Nguyễn Thị Quế Anh tại Đại học Quốc gia Hà Nội, nghiên cứu sâu về nguyên tắc cân bằng lợi ích trong việc bảo vệ quyền tác giả. Bài luận này không chỉ làm rõ các khái niệm cơ bản về quyền tác giả mà còn phân tích tầm quan trọng của việc duy trì sự cân bằng giữa quyền lợi của tác giả và lợi ích của xã hội. Độc giả sẽ nhận được cái nhìn sâu sắc về cách thức luật pháp bảo vệ quyền tác giả trong bối cảnh hiện đại, cũng như những thách thức mà hệ thống pháp luật phải đối mặt.

Nếu bạn quan tâm đến các khía cạnh khác của quyền sở hữu trí tuệ và các vấn đề pháp lý liên quan, bạn có thể tham khảo bài viết "Khóa luận tốt nghiệp về vấn đề pháp lý trong bảo hộ quyền tác giả đối với NFT", nơi thảo luận về các vấn đề pháp lý nổi bật trong việc bảo vệ quyền tác giả đối với các tài sản kỹ thuật số. Ngoài ra, bài viết "Luận văn thạc sĩ luật học: Sở hữu trí tuệ trong Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - EU (EVFTA) - Quy định và Thực thi" cũng sẽ cung cấp cho bạn một cái nhìn tổng quan về các quy định và thực thi quyền sở hữu trí tuệ trong bối cảnh thương mại quốc tế. Cuối cùng, bài viết "Luận văn về bảo vệ nhãn hiệu âm thanh" sẽ mở rộng thêm cho bạn về việc bảo vệ các quyền sở hữu trí tuệ đặc biệt trong lĩnh vực nhãn hiệu âm thanh, góp phần làm phong phú thêm hiểu biết của bạn về quyền sở hữu trí tuệ.