Chương 1: Khái quát chung về bảo hộ quyền tác giả trong bối cảnh thực thi các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền tác giả trong bối cảnh thực thi các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Chương 3: Thực tiễn thực hiện pháp luật về bảo hộ quyền tác giả ở Việt Nam và kiến nghị hoàn thiện pháp luật trong bối cảnh thực thi các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. 12 CHUONG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VE BẢO HỘ QUYEN TÁC GIÁ TRONG BÓI CẢNH THỰC THỊ CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO THE HỆ MỚI 1.1 Khái quát chung về bảo hộ quyền tác giả 1.1 Khái niệm và đặc điểm quyền tác giả Đề làm rõ bản chất việc bảo hộ quyền tác giả, trước tiên cần làm rõ khái niệm về quyền tác giả và một số đặc điểm về quyền tác giả.
Theo khái niệm chung của các nước thì quyền tác giả là quyền sở hữu của cá nhân, pháp nhân đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu, thường gọi là bản quyền tác giả. Ở Việt Nam, khái niệm về quyền tác giả cũng đã được biết đến từ trước năm 1945. Dưới chế độ dân chủ, nhân dân thì quyền tác giả được coi trọng và là động lực thúc day việc tạo ra những tác phẩm có giá trị phục vụ trực tiếp cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước ngày càng phát triển trên mọi lĩnh vực. Căn cứ vào những quy định của pháp luật về quyền tác giả thì quyền tác giả được hiểu theo hai phương diện: — Về phương diện khách quan: Quyền tác gia là tng hợp các quy phạm pháp luật về quyền tác giả nhằm xác nhận và bảo vệ quyền của tác giả, của chủ sở hữu quyền tác giả, xác định các nghĩa vụ của các chủ thé trong việc sáng tạo và sử dụng các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học.
Quy định trình tự thực hiện và bảo vệ các quyền đó khi có hành vi xâm phạm. — Về phương diện chủ quan: Quyền tác giả là quyền dân sự cụ thé (quyền tài sản và quyền nhân thân) của chủ thê với tư cách là tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật, công trình khoa học và quyền khởi kiện hay không khởi kiện khi quyền của mình bị xâm phạm. 13 Quyên tác giả còn được hiểu là quan hệ pháp luật dân sự. Đó là quan hệ xã hội giữa tác giả, giữa chủ sở hữu quyên tác giả với các chủ thé khác trong xã hội thông qua tác phẩm, dưới sự tác động của quy phạm pháp luật, quan hệ giữa các tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả với các chủ thé khác được xác định.
Quyền tác giả nói chung được hiểu là quyền nhân thân và tài sản đối với một tác phâm của tác giả mà tác phẩm đó là kết quả của hoạt động sáng tạo của chính mình, như: quyền sao chép tác pham và quyền phân phối hoặc phô biến các tác phẩm đến công chúng bằng bất kỳ phương tiện nào và cũng còn được hiểu là quyền về việc cho phép người khác sử dụng các tác phẩm theo những cách thức cụ thé. Quyền tác giả cũng là một loại quyền sở hữu trí tuệ cũng giống như các loại quyền sở hữu trí tuệ khác như quyền đối với sáng chế, quyền đối với giải pháp hữu ích hay nhãn hiệu hàng hóa. Các tác phẩm văn học, nghệ thuật là đối tượng của quyên tác giả bao gồm các tác phẩm văn học như bài báo, sách, truyện., các tác phẩm nghệ thuật như bai hát, bản nhạc, bức tranh, ảnh, phim. Chủ thé của Quyền tác giả là người sáng tạo, hoặc người sở hữu tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học.
Quyền tác giả là một trong ba trụ cột của quyền sở hữu trí tuệ. Quyền tác giả là tong hợp các quy phạm pháp luật nhằm xác nhận và bảo vệ quyền của tác giả, của chủ sở hữu quyền tác giả, xác định các nghĩa vụ của các chủ thé trong viéc sang tao va su dung cac tac pham van hoc, nghé thuat, khoa học. Quyền tác giả còn bao gồm cả quyén tài sản và quyền nhân thân của chủ thé với tư cách là tác giả hoặc chủ sở hữu quyên tác gai đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật, công trình khoa học. Như vậy, quyền tác giả hay tác quyền (tiếng Anh: copyright) có thé định nghĩa là khả năng được pháp luật bảo hộ cho tác gia, chủ sở hữu tác phẩm độc quyền khai thác lợi ích vật chất và tinh thần từ các tác phẩm văn học, nghệ thuật do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu.
Tương tự cách hiểu trên, ghi nhận tại 14 Khoản 2, khoản 3 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, được sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2019 và 2022 (sau đây gọi chung là Luật Sở hữu trí tuệ) quy định: “Quyên tác giả là quyên của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu. ” Đề phân biệt quyền tác giả với các quyền sở hữu trí tuệ khác nói riêng và các quyền pháp lý nói chung thì nhất thiết phải hiểu được đặc điểm của quyền tác giả để năm được đặc trưng và bản chất của nó. Quyền tác giả có các đặc điểm sau: Thứ nhất, đối tượng của quyền tác giả luôn mang tính sáng tạo, được bảo hộ không phụ thuộc vào giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật. Đối tượng của quyền tác giả là các tác phâm van học, nghệ thuật, khoa học.
Tác pham là thành quả lao động sáng tạo của tác giả được thé hiện dưới hình thức nhất định. Mọi cá nhân đều có quyền sáng tạo văn học, nghệ thuật, khoa học và khi cá nhân tạo ra tác phẩm trí tuệ, không phụ thuộc vảo giá trị nội dung và nghệ thuật đều có quyền tác giả đối với tác phâm [1; tr. Tác phẩm phải do tác giả trực tiếp thực hiện bằng lao động trí tuệ của mình mà không phải sao chép từ tác phẩm của người khác. Những nội dung thể hiện trong tác phẩm đi ngược lại lợi ích dân tộc, bôi nhọ vĩ nhân, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác, có nội dung trái pháp luật, đạo đức xã hội.
sẽ không được bảo hộ [2; tr. Tác phẩm sẽ được nhiều người biết đến, sử dụng nếu có nội dung phong phú và hình thức thể hiện sáng tạo được kết hợp bởi giá trị nghệ thuật, khoa học và kinh nghiệm nghề nghiệp của tác giả. Đây là đặc trưng dé nhận biết nhất của quyền tác giả Thứ hai, không phải bất kỳ đối tượng nào cũng thuộc phạm vi bảo hộ của quyền tác giả. Điều 15 Luật SHTT liệt kê nhóm các đối tượng không thuộc phạm vi bảo hộ như: tin tức thời sự, văn bản quy phạm pháp luật, quy trình, hệ thống, phương pháp hoạt động,.
Sở di chúng không được bảo hộ 15 bởi đó là các đối tượng cần được phô biến, phổ cập cho cộng đồng; giúp cộng đồng có thêm hiéu biết, thông tin cần thiết, mặt khác trên cơ sở đó tạo cơ hội sáng tạo ra những tác phẩm có thé được bảo hộ và hơn hết việc công nhận va bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của tô chức, cá nhân phải trên cơ sở bảo đảm hài hoà lợi ích của chủ thê quyền sở hữu trí tuệ với lợi ích công cộng. Thứ ba, quyền tác giả chỉ được bảo hộ về hình thức, không bảo hộ về nội dung, ý tưởng. Tức là khi một tác phẩm được định hình dưới một hình thức nhất định thì quyền tác giả phát sinh. Đây cũng là đặc thù của quyền tác giả.
Khi một cuốn sách được bảo hộ bởi quyền tác giả thì cái được bảo hộ là lời văn, cách hành văn của cuốn sách. Bản thân nội dung câu chuyện, cách xây dựng bố cục của cốt truyện là ý tưởng của cuốn sách, mặc di là phần cốt lõi của cuốn sách, song lai không được bảo hộ. Vì thế quyền tác giả phát sinh khi tác phâm được thể hiện đưới một hình thức nhất định. Pháp luật về quyền tác giả không quy định điều kiện về nội dung đối với tác pham được bảo hộ, trong khi đó quyền sở hữu công nghiệp bảo hộ nội dung của đối tượng.
Điều nay lý giải nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học có cùng nội dung nhưng có sự sáng tạo trong hình thức thé hiện đều được pháp luật bảo vệ [3; tr. Thứ tr, quyền tac giả không được bảo hộ một cách tuyệt đối. Đối với các tác phẩm đã được công bó, phổ biến và tác pham không bị cắm sao chụp thì cá nhân, t6 chức được phép sử dụng tác phẩm của người khác nếu việc sử dung đó không nhăm mục đích kinh doanh, không làm ảnh hưởng đến việc sử dụng, khai thác bình thường của tác phẩm, không xâm hại đến các quyền, lợi ích hợp pháp khác của tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả. Khi tác phẩm được công bố và cấm sao chép thì một đối tượng khác có thé được phép sử dụng tác phẩm nếu việc sử dụng sản phâm không phục vụ cho mục đích kinh doanh thu lợi nhuận, gây ảnh hưởng tiêu cực đến quyền lợi của tác giả hay 16 chủ sở hữu chăng hạn việc sử dung tác phẩm cho mục đích nghiên cứu, tuyên truyền, cổ động; sử dung tác phẩm dé phục vụ cho chính sách văn hóa, chính trị hay kinh tế đối với người dân; hoặc cá nhân đọc truyện, nghe nhạc, xem phim dé thưởng thức nghệ thuật, tăng cường hiểu biết khoa học.
Những hành vi như trên thì không bị xem là xâm phạm quyền tác giả.2 Khái niệm và đặc điểm của bảo hộ quyền tác gid Theo Từ điển Tiếng Việt thì “bảo hộ” có nghĩa là sự che chở và không dễ bị tốn thất. Như vậy, bảo hộ quyền tác giả chính là sự đảm bảo của Nhà nước đối với các tác phẩm dé các tác phẩm đó không bị xâm phạm hay ton thất bởi người khác. Thông qua các quy định của pháp luật để xác định các quyền của các chủ thé đối với tác phẩm, xác định hành vi bị coi là xâm phạm cũng như thiết lập các phương thức bảo vệ quyền của tác giả, Nhà nước thực hiện nhiệm vụ bảo hộ của mình một cách thuyết phục nhất. Ở Việt Nam, khái niệm bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ lần đầu được quy định trong Phần thứ V, Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam [4; tr.
Trước đó, những khái niệm được sử dụng thường xuyên là “bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ” và “thực thi quyền sở hữu trí tuệ”.