Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài - Chương 2: Những vấn đề lý luận về các tội xâm phạm sở hữu trí tuệ - Chương 3: Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam và pháp luật quốc tế, pháp luật một số quốc gia về các tội xâm phạm sở hữu trí tuệ - Chương 4: Thực tiễn áp dụng và các yêu cầu, giải pháp hoàn thiện, bảo đảm áp dụng đúng quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về các tội xâm phạm sở hữu trí tuệ. 8 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Khái quát về tình hình nghiên cứu đề tài 1. Tình hình nghiên cứu lý luận về các tội xâm phạm sở hữu trí tuệ Các công trình nghiên cứu lý luận về các tội xâm phạm SHTT rất đa dạng ở nhiều chuyên ngành với các cấp độ khác nhau, có thể được chia thành các nhóm như sau: Thứ nhất, nhóm các công trình có nội dung nghiên cứu về khái niệm, đặc điểm và các yếu tố của SHTT, quyền SHTT.
Trong các tài liệu nước ngoài, lý luận về SHTT được nhiều nhà khoa học quan tâm: Bài viết ―The philosophy of intellectual property‖ (tạm dịch: Triết lý về sở hữu trí tuệ) của tác giả Justin Hughes trên Tạp chí Georgetown Law tập 77 số 2 tháng 12 năm 1988; cuốn “Introduction to Intellectual Property Theory and Practice‖ (tạm dịch: Giới thiệu về lý thuyết và thực hành sở hữu trí tuệ) của Tổ chức WIPO năm 1997; cuốn “The Economic structute of Intellectual Property” (tạm dịch: Cơ cấu kinh tế của sở hữu trí tuệ) của tác giả William M. Landes và Richard A.Posner, nhà xuất bản Belknap của Đại học Harvard năm 2003; cuốn “Intellectual property law” (tạm dịch: Luật sở hữu trí tuệ) của tác giả L. Sherman (tái bản lần thứ 2), xuất bản bởi Đại học Oxford năm 2004; cuốn “Intellectual property law: text, cases and materials” (tạm dịch: Luật sở hữu trí tuệ: văn bản, các vụ việc và tài liệu) (tái bản lần thứ 3) của các tác giả Tanya Aplin, Jennifer Davis, xuất bản bởi Đại học Oxford năm 2017… Kết quả nghiên cứu được thể hiện trong các tài liệu này đã trình bày được sự phức tạp, phong phú của các quan điểm về khái niệm SHTT với sự đồng thuận lớn cho rằng đây là một loại sản phẩm của trí tuệ con người hoặc cho rằng đây là một loại tài sản đặc biệt. Số khác [132, tr.7615-7621] các bài nghiên cứu hoặc từ điển lại nhận định đây là một khái niệm dùng để chỉ các quy định pháp luật điều chỉnh mối quan hệ giữa chủ thể sáng tạo với các sản phẩm trí tuệ.
Các nghiên cứu cũng chỉ ra những học thuyết về sự hình thành và phát triển quyền SHTT trong khoa học, pháp lý với những: lập luận về sự làm giàu bất chính (của các vi phạm SHTT); lập luận về quyền tự nhiên (dựa trên lý thuyết về tài sản của John Locke); lập luận dựa trên lý thuyết về nhân cách; lập luận về quyền con người; lập luận theo chủ nghĩa thực dụng; lập luận về mối quan hệ 9 giữa luật và kinh tế; lập luận về vi phạm công cộng… Cùng với đó, những nội dung cơ bản về các vấn đề thuộc chuyên ngành SHTT cũng được khai thác làm rõ. Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu lý luận về SHTT đồ sộ nhất phải kể đến hệ thống giáo trình và các sách chuyên khảo như: “Giáo trình Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam” của Trường Đại học Luật Hà Nội, nhà xuất bản Công an nhân dân năm 2009; “Giáo trình Pháp luật sở hữu trí tuệ” của Khoa Luật, Đại học Huế do TS. Đoàn Đức Lương chủ biên, nhà xuất bản Chính trị quốc gia năm 2012; “Giáo trình Luật Sở hữu trí tuệ” cuarKhoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, nhà xuất bản Đại học quốc gia năm 2012; Cuốn “Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn” của Viện Khoa học Pháp lý – Bộ Tư pháp do PGS. Lê Hồng Hạnh và ThS.
Đinh Thị Mai Phương chủ biên, nhà xuất bản Chính trị quốc gia năm 2004; cuốn “Đổi mới và hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ” của TS. Lê Xuân Thảo, nhà xuất bản Tư pháp năm 2005; cuốn “Bình luận về quyền tác giả theo pháp luật Việt Nam” của Vụ pháp luật quốc tế, nhà xuất bản Tư pháp năm 2005 hay cuốn “Quyền tác giả trong không gian ảo‖ của TS. Nguyễn Thị Hồng Nhung, nhà xuất bản Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh năm 2015… Bên cạnh đó, nhiều công trình là đề tài nghiên cứu khoa học, luận án, luận văn, bài viết trên tạp chí chuyên ngành Luật SHTT cũng làm rõ các vấn đề về SHTT dưới góc độ chuyên ngành. Dưới góc độ chuyên ngành Luật SHTT, các công trình này làm sáng tỏ cơ bản những vấn đề khái niệm, đặc điểm, các nguyên tắc bảo hộ, chủ thể quyền SHTT, nội dung, thời hạn, vấn đề xác lập hợp đồng và chuyển giao quyền SHTT.
Trong đó, cuốn “Giáo trình Luật Sở hữu trí tuệ” do TS. Lê Đình Nghị - TS. Vũ Thị Hải Yến đồng chủ biên, nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam năm 2016 được đánh giá có phần nghiên cứu lý luận sâu, đa dạng các quan điểm về khái niệm SHTT cũng như quá trình hình thành và phát triển hệ thống pháp luật SHTT ở Việt Nam và trên thế giới. Điểm chung của các công trình nghiên cứu chuyên ngành này là sự khẳng định và thừa nhận quyền của chủ thể sáng tạo đối với tài sản trí tuệ mà họ tạo nên.
Đây là loại tài sản vô hình nên vấn đề sở hữu đối với chúng cũng có những đặc trưng khác biệt so với các tài sản thông thường khác. Các yếu tố cấu thành quyền SHTT như quyền tác giả, quyền liên quan, quyền SHCN, quyền đối với giống cây trồng được định nghĩa về mặt lý luận, phân tích về các đặc điểm dưới những chiều cạnh khác nhau. Từ đó, quyền SHTT là quyền đối với các sản phẩm sáng tạo trí tuệ, sử dụng và chuyển giao các đối tượng của quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền 10 tác giả, quyền SHCN, quyền đối với giống cây trồng, vật nuôi. Những nghiên cứu trên cũng luận giải và khẳng định SHTT ngày càng có vai trò quan trọng đối với hầu hết các mặt của sự phát triển kinh tế, xã hội; việc bảo hộ quyền SHTT là cần thiết nhưng quan điểm bảo hộ đến đâu phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó có sự khác biệt về quan điểm lập pháp của các dòng họ pháp luật; cơ chế điều chỉnh pháp luật về bảo hộ SHTT của các quốc gia cũng khác nhau.
Thứ hai, nhóm các công trình có nội dung nghiên cứu khái niệm, đặc điểm của các tội xâm phạm SHTT Lý luận về các tội xâm phạm SHTT không thể tách rời lý luận về tội phạm nói chung. Những vấn đề lý luận căn bản về tội phạm đã được không ít các nhà khoa học nghiên cứu và cho ra đời các công trình chất lượng, có thể thể kể đến như: hệ thống giáo trình nghiên cứu về Luật hình sự phần chung của các cơ sở đào tạo như cuốn “Luật hình sự Việt Nam – phần chung (giáo trình sau đại học)” của Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam – Học viện khoa học xã hội do GS. Võ Khánh Vinh (chủ biên) - nhà xuất bản Khoa học xã hội năm 2014; “Giáo trình Luật hình sự - phần chung” của Trường Đại học kiểm sát Hà Nội - nhà xuất bản Quốc gia Hà Nội năm 2017; cuốn “Tội phạm và cấu thành tội phạm” của GS. Nguyễn Ngọc Hòa – nhà xuất bản Tư pháp năm 2015; “Giáo trình Luật hình sự - phần chung” của Trường Đại học Luật Hà Nội - nhà xuất bản Công an nhân dân năm 2018; cuốn “Những vấn đề cơ bản trong khoa học Luật hình sự - Phần chung” của GS.
Lê Cảm – nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội năm 2019, “Đổi mới nhận thức một số vấn đề lý luận về tội phạm và cấu thành tội phạm‖ của PGS. Trần Văn Độ trên Tạp chí Nhân lực Khoa học xã hội, số 10/2020. Các công trình đã đưa ra những định nghĩa và đặc điểm khác nhau về tội phạm, cấu thành tội phạm nhưng đều thống thất cao độ khi xác định tội phạm có tính nguy hiểm cho xã hội, được quy định trong luật hình sự. Xét về cấu trúc, tội phạm nào cũng sẽ được tạo thành từ bốn yếu tố: khách thể của tội phạm, mặt khách quan của tội phạm, chủ thể của tội phạm và mặt chủ quan của tội phạm.
Nghiên cứu trực tiếp khái niệm các tội xâm phạm SHTT, rất ít công trình nghiên cứu khoa học của Việt Nam giải quyết nội dung này. Trong số ít các công trình đó, có thể kể đến công trình “Hoạt động phòng ngừa tội phạm về sở hữu trí tuệ ở Việt Nam theo chức năng của lực lượng cảnh sát nhân dân‖ - Luận án tiến sĩ Luật học của tác giả Lê Hoài Nam (năm 2011). Dựa trên định nghĩa tội phạm theo 11 quy định của BLHS 1999 và kết hợp với đặc điểm của quyền SHTT, tác giả đã đưa ra định nghĩa tội xâm phạm về SHTT là ―hành vi nguy hiểm cho xã hội, được quy định trong BLHS do người có đủ năng lực TNHS vì mục đích kinh doanh hoặc vụ lợi mà xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan; nhãn hiệu hàng hóa, chỉ dẫn địa lý hoặc các đối tượng sở hữu trí tuệ khác đang được bảo hộ tại Việt Nam với quy mô thương mại và đáng bị xử lý bằng hình phạt‖. Định nghĩa đã nêu được cơ bản các dấu hiệu về nội dung, hình thức cũng như hậu quả pháp lý của tội xâm phạm về SHTT.
Cùng với việc đưa ra định nghĩa tội xâm phạm SHTT, tác giả cũng có những phân tích về đặc điểm của các tội này về tính nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền SHTT đang được bảo hộ tại Việt Nam; xâm phạm trên quy mô thương mại; do người có NLTNHS thực hiện, thực hiện vì mục đích kinh doanh hoặc vụ lợi; bị xử lý hình sự. Tuy nhiên, những phân tích này còn đơn giản. Các tài liệu quốc tế cũng đề cập đến khái niệm các tội phạm SHTT nhưng thường có cách định nghĩa mang tính khái quát thực tiễn và đặc trưng pháp luật quốc tế, quốc gia sở tại riêng nên nội dung định nghĩa cũng rất khác biệt, chẳng hạn: Interpol đưa ra khái niệm “Tội phạm sở hữu trí tuệ” với giải thích đây là một thuật ngữ chung được sử dụng để mô tả một loạt các tội danh làm giả nhãn hiệu và vi phạm bản quyền.