Chương I: Bảo hộ quyền SHCN trong Tư pháp quốc tế và ảnh hưởng của hội nhập và toàn cầu hoá đến các xu hướng phát triển của bảo hộ quyền SHCN 1. Khái niệm quyền SHCN và các đối tượng SHCN 1.1 Khái niệm quyền SHCN a. Sở hữu trí tuệ Một khái niệm cơ bản về SHTT là: một tài sản phi vật chất phát sinh từ một ý tưởng nào đó, được nhận biết như là ý tưởng ấy và giá trị của nó được căn cứ vào ý tưởng này và ý tưởng đó ra đời từ nỗ lực tri thức của một người và chứa đựng yếu tố 5 mới lạ (Justin Hughes, Triết học sở hữu trí tuệ[34]). Nói chung, SHTT đề cập đến sản phẩm hệ quả của một tư tưởng chứ không phải chính tư tưởng đó.
Tài sản SHTT là thông tin mang giá trị nội tại từ những ý tưởng sáng tạo, đồng thời SHTT cũng là thông tin có giá trị thương mại. Tài sản trí tuệ về bản chất là vô hình nhưng nói chung được chứa đựng trong một hình thái vật chất hữu hình nhất định: giấy, CD, vi mạch điện toán. Giống như tài sản hữu hình, quyền SHTT cho phép chủ sở hữu có quyền không cho người khác tiếp cận hoặc sở hữu tài sản của mình Cũng như các đối tượng tài sản khác, tài sản SHTT, một loại tài sản vô hình, có nội hàm tương đồng với tài sản hữu hình nhưng bên cạnh đó có những đặc tính riêng biệt xuất phát từ đối tượng sở hữu đặc thù là sản phẩm của trí tuệ con người, mang tính phi vật chất. Tài sản SHTT mang một số đặc tính của tài sản vô hình: - Không hao mòn về vật lý, chỉ có thể bị lạc hậu (trừ nhãn hiệu hàng hoá, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại) - Không hạn chế về lượng người sử dụng - Có thể bán hoặc cho nhiều người sử dụng cùng một lúc Tại hội nghị ngoại giao Stockholm, ngày 14.1967, một Công ước đã được ký kết để thành lập WIPO, tổ chức này đã trở thành một cơ quan đặc biệt của Liên hợp quốc, tạo cơ cấu ổn định và lâu dài cho việc bảo hộ quyền SHTT trên toàn thể giới.
Một thành công rất lớn của Công ước thành lập WIPO là đã đưa ra được một đinh nghĩa về SHTT được chấp nhận trên trường quốc tế và được ghi nhận tại Công ước theo đó quyền SHTT bao gồm các quyền liên quan đến các đối tượng sau: - Các tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học; - Các trình diễn của các nghệ sĩ biểu diễn, các dấu hiệu ghi âm, phát thanh và truyền hình; - Các sáng chế trong mọi lĩnh vực đời sống con nguời; - Các phát minh khoa học; - Các kiểu dáng công nghiệp; - Nhãn hiệu hàng hoá, nhãn hiệu dịch vụ, tên thương mại và các chỉ dẫn; - Bảo hộ chống cạnh tranh không lành mạnh; và 6 - Tất cả các quyền khác được tạo thành từ hoạt động trí tuệ trong các lĩnh vực công nghiệp, khoa học, văn học hay nghệ thuật [55, Đ2] Định nghĩa của WIPO về SHTT là rất rộng. Nó quá rộng để có thể bao quát được hết những tiến bộ công nghệ mới đặt ra các vấn đề về SHTT trong những lĩnh vực mà không ai có thể tưởng tượng đựoc tới trong thời điểm ra đời Công ước. Có thể nói không quá rằng cùng với tốc độ phát triển của những tiến bộ công nghệ và khoa học kỹ thuật đã khiến cho luật SHTT phát triển nhanh nhất và trở thành lĩnh vực luật pháp năng động nhất hiện nay. Luật SHTT phải cố gắng theo kịp với sự phát triển không ngừng trong toàn bộ các ngành công nghiệp mới như công nghệ sinh học, truyền vệ tinh, kỹ thuật di truyền học cũng như các bước nhảy vọt về công nghệ thông tin, tiếp thị và nghệ thuật.
Những sức ép về kinh tế có nghĩa là đã có và tiếp tục có sức ép kết nạp các đối tượng mới vào thế giới SHTT và sự bảo hộ mà nó yêu cầu. Do vậy, bất cứ một sự mô tả nào về cái có chứa luật SHTT có thể nhanh chóng trở nên lạc hậu. Trong Hiệp định TRIPS, một trong những điều ước quốc tế quan trọng nhất về SHTT, thuật ngữ “sở hữu trí tuệ” [54. Đ1] có nghĩa là tất cả các đối tượng SHTT nêu tại các Mục từ 1 đến 7 của Phần II, trong đó Mục 1 đề cập đến bản quyền và các quyền có liên quan, Mục 2 đề cập đến Nhãn hiệu hàng hoá, Mục 3 đề cập Chỉ dẫn địa lý, Mục 4 đề cập đến Kiểu dáng công nghiệp, Mục 5 đề cập Sáng chế, Mục 6 liên quan đến Bố trí thiết kế Mạch tích hợp và Mục 7 đề cập đến Thông tin bí mật.
Thuật ngữ SHTT bao gồm hai khái niệm là sở hữu công nghiệp và quyền tác giả (hay còn gọi là bản quyền). Quyền sở hữu công nghiệp có quan hệ mật thiết với bản quyền và có nhiều đặc điểm chung với bản quyền. Tuy nhiên, giữa hai khái niệm này có những điểm phân biệt khá rõ ràng với nhau, đặc biệt là các đối tượng của quyền SHCN và bản quyền. Sở hữu công nghiệp có thể hiểu đơn giản là những quyền pháp lý liên quan đến SHTT sử dụng trong công nghiệp hay buôn bán.
Quyền SHCN thường được áp dụng đối với các đối tượng là kết quả của hoạt động sáng tạo kỹ thuật (sáng chế, giải pháp hữu ích, thiết kế bố trí mạch tích hợp, giống cây trồng mới) hoặc của hoạt động sáng tạo mỹ thuật ứng dụng (kiểu dáng công nghiệp) hay hoạt động sáng tạo trong thương mại (nhãn hiệu hàng hoá, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại, thông tin bí mật). Các đối tượng của quyền SHCN chủ yếu xuất hiện trong lĩnh vực kinh tế, khoa học công nghệ. Kết quả là SHCN sẽ không bao gồm bản quyền, có thể hiểu như là quyền đối với các tác phẩm nghệ thuật chứ không phải là quyền về công nghiệp. 7 Quyền tác giả bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học.
Luật quyền tác giả nhằm mục đích bảo hộ sáng tạo trí tuệ trong những lĩnh vực văn học, âm nhạc và nghệ thuật. Bổ sung vào việc bảo hộ các tác phẩm văn học, nghệ thuật và âm nhạc của chính các tác giả là bảo hộ quyền kề cận, tức là các quyền nảy sinh từ bản quyền, có liên quan trực tiếp đến bản quyền và có liên quan đến những đối tượng thể hiện các tác phẩm văn học, nghệ thuật, đó chính là việc trình diễn của các nghệ sĩ biểu diễn, các dấu hiệu ghi âm, phát thanh và truyền hình b. Quyền sở hữu công nghiệp Mặc dù các nước có chính sách bảo hộ SHCN đưa ra khái niệm khác nhau về quyền SHCN nhưng nhìn chung quyền SHCN được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa khách quan, chế định quyền SHCN là tồng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình chiếm hữu, sử dụng và định đoạt các đối tượng SHCN được Nhà nước bảo hộ. Theo nghĩa chủ quan, quyền SHCN là các quyền dân sự cụ thể của các chủ sở hữu trong việc chiếm hữu sử dụng và định đoạt các đối tượng SHCN [15].
Theo Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp [9, Đ1.2], “Đối tượng bảo hộ sở hữu công nghiệp bao gồm sáng chế, mẫu hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá, nhãn hiệu dịch vụ, tên thương mại, chỉ dẫn nguồn gốc hoặc tên gọi xuất xứ và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh”. Thêm vào dó, tại Công ước Paris [9, Đ1.3] quy định ”sở hữu công nghiêp phải được hiểu theo nghĩa rộng nhất và sẽ áp dụng không chỉ cho công nghiệp và thương mại theo đúng nghĩa của chúng mà còn cho nông nghiệp và các ngành công nghiệp chiết xuất, khai thác và cho tất cả các sản phẩm tự nhiên hoặc được sản xuất như nho, hạt ngũ cốc, lá thuốc lá, hoa quả, gia súc, các khoáng sản, nước khoáng, bia, hoa và bột mì”. Ngoài đặc tính của loại tài sản vô hình, quyền SHCN còn có một số đặc điểm như: - Quyền SHCN mang tính không gian và lãnh thổ tuyệt đối, tức là quyền SHCN phát sinh trên cơ sở pháp luật nước nào thì chỉ có hiệu lực trong phạm vi lãnh thổ nước đó, nếu điều ước quốc tế mà nước đó tham gia không quy định khác - Quyền SHCN (không kể các quyền nhân thân) bị giới hạn về mặt thời gian. Đặc điểm này thể hiện ở các quyền tài sản của quyền SHCN chỉ được bảo hộ 8 trong một khoảng thời gian nhất định khi chủ sở hữu các quyền SHCN trả tiền cho sự bảo hộ đó.
Khoảng thời gian nhất định để bảo hộ là khoảng thời gian hợp lý để chủ sở hữu các quyền SHCN khai thác bù đắp được những chi phí vật chất và tinh thần khi sáng tạo sản phẩm. - Quyền SHCN được xác lập bằng một hình thức nhất định theo quy định của pháp luật. Đó có thể là việc nộp đơn và cấp văn bằng bảo hộ như đối với một số đối tượng như sáng chế, giải pháp hữu ích, nhãn hiệu hàng hoá, v. hoặc việc đáp ứng một số tiêu chuẩn bảo hộ nhất định do pháp luật quy định như tên thương mại, thông tin bí mật, chỉ dẫn địa lý.
- Thêm vào đó, quyền SHCN còn có đặc điểm quan trọng là bảo hộ độc quyền khai thác của chủ đối tưọng SHCN. Tuy nhiên, cần nhìn nhận việc bảo hộ độc quyền theo hướng cân bằng quyền lợi và nghĩa vụ của chủ sở hữu quyền và công chúng, bao gồm cả các đối thủ cạnh tranh và người tiêu dùng. Trong quá trình này, nhà nước đóng vai trò quản lý và quy định các quyền và nghĩa vụ của các bên một cách hợp lý, vừa thúc đẩy sự sáng tạo, chống cạnh tranh không lành mạnh, phát triển sản xuất kinh doanh đồng thời tránh tình trạng độc quyền, lũng đoạn thị trường của một bộ phận chủ sở hữu quyền. Với những đặc điểm như trên, việc phân tích và đánh giá quyền SHCN phải được nhìn nhận dưới những góc độ phù hợp, không thiên lệch hay phiến diện.2 Quyền sở hữu công nghiệp trong Tư pháp quốc tế Tư pháp quốc tế là một bộ môn khoa học pháp lý độc lập và là một ngành luật độc lập bao gồm các nguyên tắc và quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ dân sự - kinh tế - thương mại, hôn nhân và gia đình, lao động và một số vấn đề tố tụng dân sự có yếu tố nước ngoài [14, 13].