Chương 1, Phần 8 về Thương mại dịch vụ, đầu tư và thương mại dịch vụ, ‘thể nhân của Liên minh châu Âu’ là cá nhân mang quốc tịch của một quốc gia thành viên của Liên minh châu Âu theo quy đinh pháp luật của quốc gia đó và ‘thể nhân của Việt Nam’ là cá nhân mang quốc tịch Việt Nam theo quy định pháp luật của Việt Nam (điểm a). Khái niệm pháp nhân được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm bất kỳ chủ thể pháp lý được thành lập hoặc tổ chức theo quy định pháp luật hiện hành nhằm mục đích lợi nhuận hay bất kỳ mục đích nào khác và thuộc sở hữu của tư nhân hay chính phủ, trong đó bao gồm các doanh nghiệp, quỹ tín thác, công ty hợp danh, liên doanh, tự doanh hoặc hiệp hội (điểm b). Như vậy, có thể thấy pháp nhân là các thực thể được tạo ra theo quy định của pháp luật mà không phụ thuộc vào tên gọi của chúng. Việc xác định quốc tịch của pháp nhân được dựa trên tiêu chí nơi pháp nhân thành lập.
Cụ thể, ‘pháp nhân của Liên minh châu Âu’ hoặc ‘pháp nhân của Việt Nam’ là pháp nhân được thành lập theo quy định pháp luật của quốc gia thành viên của Liên minh châu Âu hoặc của Việt Nam tương ứng và tham gia vào các hoạt động kinh doanh tương ứng trong lãnh thổ của Liên minh châu Âu và của Việt Nam (điểm c). Chỉ có những thể nhân, pháp nhân thỏa mãn các tiêu chí nêu trên mới có thể được sử dụng cơ chế Hội đồng tài phán về đầu tư để giải quyết các tranh chấp liên quan đến các khoản đầu tư mà mình đã thực hiện tại quốc gia tiếp nhận đầu tư. Ngoài ra, cần lưu ý là EVFTA cũng như các FTA khác mà Việt Nam là thành viên có quy định phòng ngừa hiện tượng thủ đắc quốc tịch của một quốc gia thành viên để được áp dụng các quy định về giải quyết tranh chấp về đầu tư. Người ta gọi đây là hiện tượng treaty shopping.
Cụ thể, pháp nhân chỉ được coi là có quốc tịch của quốc gia thành viên Hiệp định nếu: (i) “thuộc sở hữu” của các thể nhân hoặc pháp nhân của một trong các quốc gia thành viên Liên minh châu Âu và của Việt Nam nếu các thể nhân của quốc gia thành viên đó hoặc một quốc gia thành viên nào đó hoặc của Việt Nam tương ứng là chủ sở hữu thụ hưởng của nhiều hơn 50 18 phần trăm số vốn góp vào pháp nhân đó; hoặc (ii) “bị kiểm soát” bởi các thể nhân hoặc pháp nhân của một trong các quốc gia thành viên Liên minh châu Âu và của Việt Nam nếu các thể nhân hoặc pháp nhân đó có đủ thẩm quyền bổ nhiệm phần lớn các giám đốc hoặc bằng cách nào khác để điều hành các hoạt động của pháp nhân này một cách hợp pháp. Như vậy, quốc tịch của thể nhân, pháp nhân phải là quốc tịch thực chất và gắn bó với quốc gia thành viên của hiệp định. Chỉ khi đã xác định được một chủ thể là nhà đầu tư được bảo vệ và đã thực hiện khoản đầu tư được bảo vệ thì khi đó mới có thể áp dụng các quy định về ISDS trong hiệp định về đầu tư. Nguồn luật điều chỉnh hoạt động giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế Hoạt động giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế phải tuân theo các quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục xét xử.
Ngoài ra, liên quan đến nội dung vụ tranh chấp, cơ quan giải quyết tranh chấp sẽ phải áp dụng luật điều chỉnh hoạt động đầu tư quốc tế. a) Nguồn luật điều chỉnh tố tụng Khi tranh chấp được đưa ra giải quyết tại Hội đồng trọng tài quốc tế, một loạt các quy tắc về thủ tụng trọng tài được sử dụng để điều chỉnh thủ tục trọng tài đối với hội đồng trọng tài và các bên tranh chấp. Các quy tắc tố tụng được sử dụng phổ biến hiện này là quy tắc trọng tài của Trung tâm quốc tế về giải quyết tranh chấp đầu tư (ICSID Rules of Procedure for Arbitration Proceedings - Quy tắc trọng tài ICSID) và quy tắc trọng tài của Ủy ban Liên Hợp Quốc về Luật Thương mại quốc tế UNCITRAL (UNCITRAL Arbitration Rules – thường được gọi tắt là Quy tắc trọng tài UNCITRAL). Các quy tắc này được áp dụng đối với thủ tục thành lập và hoạt động của Hội đồng trọng tài, quy trình tố tụng trọng tài, việc lựa chọn nhân chứng, đánh giá chứng cứ.
Đối với trọng tài vụ việc (trọng tài ad-hoc), pháp luật áp dụng đối với tố tụng trọng tài (lex arbitri) là pháp luật của địa điểm trọng tài (lex situs) cho dù Hội đồng trọng tài và các bên có thể thỏa thuận địa điểm tổ chức phiên xét xử ở nơi khác. Ví dụ, trong vụ tranh chấp McKenzie kiện Chính phủ Việt 19 Nam, Hội đồng trọng tài đã quyết định địa điểm trọng tài tại London nhưng các phiên xét xử tổ chức tại Hồng Kông. Do vậy, pháp luật của Anh sẽ được áp dụng đối với vụ việc trọng tài. b) Nguồn luật điều chỉnh nội dung tranh chấp Nguồn luật điều chỉnh nội dung tranh chấp chính là nguồn luật điều chỉnh hoạt động đầu tư quốc tế.
Nguồn luật điều chỉnh hoạt động đầu tư quốc tế bao gồm điều ước quốc tế, tập quán quốc tế, nguyên tắc chung của pháp luật và các nguồn bổ trợ như quyết định xét xử và học thuyết của chuyên gia có uy tín. Ngoài ra, do hoạt động đầu tư được tiến hành trên lãnh thổ một quốc gia nhất định nên còn chịu sự điều chỉnh của hệ thống văn bản pháp luật của quốc gia tiếp nhận đầu tư, đặc biệt các quy định về hình thức, thủ tục, trình tự đầu tư. Khái quát về tranh chấp đầu tư quốc tế giữa nhà đầu tư nước ngoài và Nhà nước tiếp nhận đầu tư 1. Khái niệm tranh chấp đầu tư quốc tế Dưới góc độ pháp lý, tranh chấp là mâu thuẫn giữa quyền lợi giữa hai hoặc nhiều bên, phát sinh khi một bên đưa ra khẳng định về quyền lợi của mình trong đơn kiện chống lại bên kia và nộp lên cơ quan có thẩm quyền thụ lí vụ việc.
Từ điển Thuật ngữ Pháp Việt giảng nghĩa “tranh chấp” (Litige) là “vụ tranh chấp khi mà một người không được hưởng một quyền hay lợi ích hợp pháp của mình bằng thỏa thuận và dự định đưa vụ việc ra Tòa án yêu cầu phân xử. Thuật ngữ, mặc dù rất rộng, nhưng đồng nghĩa với vụ kiện” (Nhà pháp luật Việt Pháp, 2009, tr. Tranh chấp đầu tư quốc tế được định nghĩa là tranh chấp phát sinh giữa quốc gia tiếp nhận đầu tư với quốc gia khác, hoặc tranh chấp phát sinh giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà nước tiếp nhận đầu tư (Dolzer & Schreuer, 2012, tr. Trong phạm vi bài viết, nhóm nghiên cứu sẽ chỉ đề cập đến tranh chấp đầu tư quốc tế phát sinh giữa nhà đầu tư nước ngoài với quốc gia tiếp nhận đầu tư.
Tác giả Nguyễn Minh Hằng cho rằng tranh chấp đầu tư quốc tế chính là “sự bất đồng, mâu thuẫn về quyền lợi hoặc nghĩa vụ giữa các chủ thể trong quan hệ đầu tư quốc tế” (Nguyễn Minh Hằng, 2017, tr. Như vậy, tranh chấp đầu tư quốc tế có thể là 20 tranh chấp giữa các nhà nước có liên quan đến hoạt động đầu tư (do vi phạm các quy định của điều ước quốc tế về đầu tư); tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và Nhà nước tiếp nhận đầu tư; tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư trong nước. Trong phạm vi Luận văn này, tác giả sẽ chỉ đề cập đến cơ chế giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế giữa nhà đầu tư nước ngoài với Nhà nước tiếp nhận đầu tư. Đặc điểm của tranh chấp đầu tư quốc tế Tranh chấp đầu tư quốc tế có một số đặc trưng sau đây: Thứ nhất, cơ sở pháp lý của quyền khởi kiện là hiệp định về đầu tư.
Trong tranh chấp đầu tư quốc tế giữa nhà đầu tư nước ngoài và Nhà nước tiếp nhận đầu tư, nhà đầu tư nước ngoài cho rằng Nhà nước tiếp nhận đầu tư đã vi phạm cam kết quốc tế trong hiệp định đầu tư mà quốc gia đó đã ký kết với quốc gia mà nhà đầu tư mang quốc tịch. Thông thường, các Hiệp định về đầu tư có quy định cho phép nhà đầu tư nước ngoài khởi kiện Nhà nước tiếp nhận đầu tư ra trọng tài quốc tế. Cần lưu ý rằng quyền khởi kiện này chỉ dành cho nhà đầu tư nước ngoài, chứ không dành cho nhà đầu tư trong nước. Nói cách khác, nhà đầu tư trong nước không được quyền khởi kiện Nhà nước mà mình có quốc tịch ra trọng tài.
Ngoài ra, Nhà nước cũng không được quyền khởi kiện nhà đầu tư nước ngoài ra trọng tài, tuy nhiên Nhà nước có thể, tùy theo Hiệp định về đầu tư, có quyền phản tố. Khi phát hiện thấy nhà đầu tư vi phạm các cam kết về đầu tư, thì Nhà nước sẽ sử dụng các cơ chế giải quyết trong nội luật để giải quyết (cơ chế hành chính hoặc tòa án quốc gia). Quyền khởi kiện ra trọng tài dành riêng cho nhà đầu tư nước ngoài này được giải thích bởi triết lý là hiệp định đầu tư quốc tế được ký kết giữa các chủ thể công, nhưng vì mục đích của nó là điều chỉnh quan hệ giữa nhà đầu tư mang quốc tịch của một bên và bên còn lại trong hiệp định nên nội dung của nó là những cam kết một chiều, với một bên mang nghĩa vụ là quốc gia nước sở tại và bên hưởng quyền là nhà đầu tư nước ngoài. Vì lí do này mà nhà đầu tư nước ngoài được hưởng các quyền pháp lí quốc tế mà quốc gia sở tại không có quyền hưởng và còn phải đảm bảo quyền đó được thực hiện.
21 Thứ hai, nguồn luật được áp dụng để giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế bao gồm nhiều loại, từ hiệp định đầu tư quốc tế, pháp luật nội địa quốc gia, tập quán quốc tế, các nguyên tắc chung của công pháp quốc tế tuyên bố đơn phương của quốc gia, cho đến nguồn bổ trợ như các học thuyết và án lệ. Trong các nguồn cơ bản, các hiệp định đầu tư là nguồn phổ biến nhất. Thứ ba, có sự bất cân xứng về địa vị pháp lý và quyền lực giữa các bên trong tranh chấp. Các bên trong tranh chấp đầu tư quốc tế là nhà đầu tư nước ngoài (chủ thể tư) và Nhà nước tiếp nhận đầu tư (chủ thể công).