CHƯƠNG 1 TONG QUAN VE PHÒNG NGỪA TRANH CHAP ĐẦU TƯ QUỐC TE 1. Khái niệm, đặc điểm của tranh chấp đầu tư quốc tế 1. Khái niệm tranh chấp đầu tư quốc té Trên thế giới, năm 1924, khái niệm về “tranh chấp” lần đầu tiên được nêu ra trong vụ Mavrommatis Palestine Concessions, xét xử tại Tòa án Thường trực Công lý Quốc tế (PCIJ) — tiền thân của Toà án Công lý Quốc tế (ICJ). Theo đó, tranh chấp được hiểu là “mét sự bắt đồng về một vấn đê pháp lý hay thực té, một sự xung đột về quan điểm pháp lý hay loi ích giữa hai bén’”4 Tại Việt Nam, theo Từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học xuất bản năm 2002 thì tranh chấp là sự “dau ranh gidng co khi có ý kiến bat đồng, thường là trong van đề quyên lợi giữa hai bên.” Trên thực tế, có nhiều loại tranh chấp khác nhau và liên quan trực tiếp đến chủ đề của nghiên cứu này, nhóm tác giả tập trung vào khái niệm về “anh chấp pháp by”.
Trong công pháp quốc tế, tranh chấp pháp lý có yếu t6 quốc tế được hiểu “/v hoàn cảnh thực tế mà trong đó, các chủ thể tham gia có những quan điểm trải ngược hoặc mâu thuân nhau và có những yêu cẩu, hay đòi hỏi cụ thể trái ngược nhau. Đó là sự không thỏa thuận được với nhau về quyên hoặc sự kiện, dua đến sự mâu thuân, đối lập nhau về quan điểm pháp ly hoặc quyên giữa các bên chủ thể luật quốc tế với nhau”© Có thé thay điểm chung giữa các khái niệm “tranh chấp pháp ly” gắn với yêu tỗ quốc tế là sự bất đồng, mâu thuẫn trên cơ sở luật pháp hay thực tế về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể; đều là sự bất đồng, mâu thuẫn giữa hai hay nhiều bên trên cơ sở pháp luật liên quan đến việc giải thích, áp dụng pháp luật. Trong lĩnh vực đầu tư quốc tẾ, việc nghiên cứu và phân tích nội hàm khái niệm của “anh chấp dau tư quốc té” là vô cùng quan trọng. Trên thực tế, đã có tiền lệ Chính phủ quốc gia tiếp nhận đầu tư phản đối thâm quyền của ICSID vì cho rằng không hề có tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và quốc gia.
Một ví dụ là vụ việc công ty AGIP của Italia đã vi phạm thỏa thuận giữa họ với Chính phủ Congo. Dé đáp trả lại, Chính phủ Congo tiễn hành quốc hữu hóa công ty con của AGIP, được thành lập để tạo điều kiện liên doanh phân phối sản phẩm dau mỏ. Công ty AGIP tiễn hành khởi kiện ra trọng tài yêu cầu giải quyết nhưng chính phủ lập luận rằng không có bat kỳ tranh chấp nào phát sinh bởi vi Congo sẽ bồi thường cho AGIP khi công ty con * Phan quyết của Tòa PCIJ, Vụ Mavrommatis Palestine Concessions (Hi Lạp v. Anh), ngày 30/8/1924, tr.
Nguyên văn tiếng Anh: “A dispute is a disagreement on a point of law or fact, a conflict of legal views or of interests between two persons”. Trong bản tiếng Pháp, định nghĩa trên còn thêm từ “mâu thuẫn” (une contradiction). > Hoang Phé (1992), Tir điển Tiiéng Viét, NXB Khoa học Xã hội, tr. 6 Lê Mai Anh (2017), Giáo trình Luật quốc tế, Trường Dai học Luật Hà Nội, NXB Công an Nhân dân, tr.
6 được quốc hữu hóa.”Tuy nhiên, công ty của Italia đã phản đối lập luận này và cho rằng có tranh chấp phát sinh trước khi Chính phủ tiếp quản công ty và khoản bồi thường của chính phủ là không thỏa đáng so với thiệt hại và lợi nhuận công ty đã mắt.Š Về phía lập luận của ICSID, Hội đồng trọng tài cho răng: “Lập luận của chính phủ Congo về sự ton tại của tranh chấp là chưa chính xác. Do đó, ICSID có thẩm quyên tiếp nhận các khiếu nại của AGIP”. Vụ kiện được ICSID xếp vào loại tranh chấp hợp đồng giữa các bên. Có thê hiểu tranh chấp đầu tư quốc tế là những bất đồng, mâu thuẫn về quyền lợi hoặc nghĩa vụ giữa các chủ thé trong lĩnh vực đầu tư quốc tế.
Tranh chấp có thé là tranh chấp giữa nhà đầu tư với nhà đầu tư; tranh chấp giữa các quốc gia liên quan đến việc giải thích hoặc áp dụng các Hiệp định đầu tư quốc tế (IIA); tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và quốc gia tiếp nhận đầu tư. Nghiên cứu này tập trung vào loại tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và quốc gia tiếp nhận đầu tư, vì đây là loại tranh chấp đặc biệt, có nhiều điểm đặc trưng khác biệt so với tranh chấp pháp lý quốc tế thông thường. Tính chất đặc biệt này xuất phát từ yếu tố chủ thể do một bên trong tranh chấp là nhà nước và điều đó ảnh hưởng đến cách các bên tranh chấp xử lý xung đột cũng như lựa chọn các phương thức dé giải quyết tranh chap. Tại Việt Nam, tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và chính phủ nước tiếp nhận đầu tư (cơ quan nhà nước có liên quan) được hiểu là “về bản chất là tranh chấp theo tư pháp quốc tế.
Nhà dau tư nước ngoài là bên khởi kiện; nhà nước (chính phủ) tiếp nhận đâu tư hay cơ quan nhà nước có liên quan là bên bị kiện. Tranh chấp này phải liên quan đến khoản dau tư theo quy định của: i) pháp luật đâu tư của nước tiếp nhận đâu tu; ii) hiệp định khuyến khích và bảo hộ dau tu hay chương về đâu tư trong các hiệp định thương mai song phương/ khu vực; hoặc iii) hợp dong liên quan đến dau tư của nhà dau tư nước ngoài với cơ quan nhà nước có thẩm quyên ”.!9 Như vậy, tranh chấp đầu tư giữa nhà đầu tư nước ngoài và Chính phủ nước tiếp nhận đầu tư là sự bất đồng, mâu thuẫn về quyền hoặc nghĩa vụ giữa nhà đầu tư nước ngoài và Chính phủ. Tranh chấp phát sinh trong quan hệ đầu tư trên cơ sở pháp lý là các điều ước quốc tế mà chính phủ nước tiếp nhận đầu tư là thành viên hoặc hợp đồng, thỏa thuận giữa Chính phủ nước tiếp nhận đầu tư với nhà đầu tư nước ngoài. Đặc điểm của tranhchấp đầu tư quốc tế Tứ nhất, về nguyên don, trong tranh chấp đầu tư quốc tế, nhà đầu tư nước ngoài luôn là nguyên đơn và quôc gia tiép nhận đâu tư luôn là bị đơn.
Đôi với cá nhân và TAGIP S. People's Republic of the Congo, ICSID Case No. ARB/77/1, Phan quyét ngay 30/11/1979, doan 38. 84GIP v Congo, Tldd chú thích 7, đoạn 41.
°AGIP v Congo, Tldd chú thích 7, đoạn 42. !9Nguyễn Bá Binh (2017), Giáo trình Pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr. 7 pháp nhân, yếu tố nước ngoài dựa trên cơ sở quốc tịch của nhà đầu tư. Tuy nhiên, việc xác định quốc tịch nhà đầu tư không hè dễ dàng vì trong trường hợp pháp luật quốc gia cho phép nhà đầu tư có nhiều hơn một quốc tịch thì quốc tịch nào sẽ được chọn, hoặc trường hợp một trong số các quốc tịch của nhà đầu tư trùng với quốc gia tiếp nhận đầu tư thì lúc đó sẽ coi là nhà đầu tư trong nước hay nhà đầu tư nước ngoài.
Thứ hai, về bị don, trong pháp luật quốc tế, quốc gia được coi là một chủ thé đặc biệt, thê hiện ở quyền miễn trừ tư pháp. Theo nguyên tắc bình đắng về chủ quyền quốc gia, thâm phán của quốc gia không thể phán quyết chống lại quốc gia khác nếu không có sự chấp thuận của quốc gia đó. Sự giải thích này xuất phát từ nguyên tắc “nar in parem non habet juridictionnem” (những người ngang nhau không thé phán xét lẫn nhau) được ghi nhận trong luật quốc tế cô đại. Mặt khác, quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia còn thê hiện ở chỗ: tài sản của quốc gia không thê bị sai áp để bảo đảm sơ bộ cho một vụ kiện và quốc gia sẽ không bị ràng buộc bởi các phán quyết của tòa án nước ngoài chong lại quyền lợi của mình.
Chính vì vậy, dé thu hút và bảo dam lợi ích của nhà đầu tư, quốc gia thường từ bỏ một phan hay toàn bộ quyền miễn trừ tư pháp của mình. Thứ ba, về nội dung tranh chấp, khi nhà đầu tư tiến hành đầu tư vào một quốc gia, họ sẽ phải tuân theo các quy định pháp luật của quốc gia đó. Trong khi đó, quốc gia có quyên lực tối cao trong việc ban hành luật cũng như thi hành pháp luật trên toàn lãnh thổ của mình. Chính vì vậy, nội dung của tranh chấp giữa nhà đầu tư và quốc gia tiếp nhận đầu tư thường là sự vi phạm của quốc gia đối với các điều ước quốc tế về đầu tư.
Các hiệp định này thông thường đặt ra một số nghĩa vụ đối xử nhất định của quốc gia tiếp nhận đầu tư với nhà đầu tư nước ngoài. Nguyên nhân phát sinh tranh chấp đầu tư quốc tẾ Thứ nhất, số lượng hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư giữa các quốc gia tăng lên đáng kể. Vào cuối năm 2020, trên 175 quốc gia đã cùng nhau ký kết 2.902 Hiệp định đầu tư song phương (BIT).!'Bên cạnh đó, không chỉ giới hạn trong những hiệp định đầu tư song phương, đa phương mà trong các hiệp định thương mại tự do (FTA), lĩnh vực đầu tư cũng được đề cập đến thường xuyên hơn. Trên 250 FTA đã thiết lập các khuôn khổ hợp tác đầu tư nhằm khuyến khích và bảo hộ đầu tư, với những quy định tương tự như trong các BIT.!?Các hiệp định này cho phép nhà đầu tư được sử dụng các cơ chế trọng tài quốc tế dé khởi kiện trực tiếp chính phủ của nước tiếp nhận đầu tư vì những biện pháp gây ảnh hưởng đến khoản đầu tư của họ.
"Theo UNCTAD, International Investment Agreements Navigator, Investment Policy Hub, https://investmentpolicy.org/international-investment-agreements, ngày truy cập 20/2/2020. Gantz (2013), The Evolution of FTA Investment Provisions: From NAFTA to the United States - Chile Free Trade Agreement, Am. 8 Thứ hai, sự khác nhau về lợi ich giữa nha đầu tư nước ngoài và quốc gia tiếp nhận đầu tư là nguyên nhân gây ra tranh chấp trong đầu tư quốc tế. Về phía nhà đầu tư nước ngoài, khi mang tài sản sang một quốc gia khác đầu tư, họ mong muốn thu lại được lợi nhuận gấp nhiều lần so với số vốn bỏ ra ban đầu.
Số lợi nhuận kiếm được đó sẽ được chuyên về quốc gia nơi nhà đầu tư có quốc tịch. Đây là lợi ích tư nhân của nhà đầu tư. Về phía quốc gia tiếp nhận đầu tư, lợi ích quốc gia hay lợi ích công cộng nói chung được đề cao.