CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE FDI VÀ TANG TRƯỞNG KINH TE Tăng trưởng kinh tế trong mỗi thời kỳ được thé hiện bởi một hệ thống đặc trưng phù hợp với nội dung, mục tiêu của các quốc gia. Để đạt được các chỉ tiêu tăng trưởng trong các chiến lược phát triển kinh tế, các quốc gia luôn luôn tìm cách khai thác và tổ chức các nguồn lực hiệu quả nhất. Trong đề tài, chương này thực hiện tổng quan các ly thuyết về tăng trưởng, từ đó thấy được các nhân tố có ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế Việt Nam 1. Khái niệm về tăng trưởng kinh tế Tăng trưởng kinh tế được xem là một trong những vấn đề quan trọng nhất trong nghiên cứu nền kinh tế của 1 nước.
Hầu hết các nhà kinh tế đều thống nhất với nhau rằng tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập hay sản lượng được tính cho toàn bộ nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm). Sự gia tăng được thê hiện ở quy mô tăng trưởng, còn tốc độ tăng trưởng được sử dụng với ý nghĩa so sánh tương đối và phản ánh sự gia tăng nhanh hay chậm giữa các thời kỳ. Thu nhập của nền kinh tế có thé biểu hiện đưới dạng hiện vật hoặc giá trị. Thu nhập băng giá trị phản ánh qua các chỉ tiêu tong sản phâm quốc nội (GDP), tổng thu nhập quốc dân (GNI) và được tinh cho toàn thé nền kinh tế hoặc tính bình quân trên đầu người.
Mối quan hệ giữa phát triển và tăng trưởng là mối quan hệ hỗ trợ, bổ sung cho nhau, trong đó vẫn đảm bảo nguyên tắc tăng trưởng kinh tế là một yếu tố quan trọng của phát triển. Do lường tác động và chất lượng tăng trưởng kinh tế 1. Các chỉ tiêu do lường tang trưởng kinh tế Thước đo tăng trưởng kinh tế thường được xác định theo các chỉ tiêu sau: - _ Tổng giá trị sản xuất (GO), - _ Tổng sản phẩm quốc nội (GDP), - _ Tổng thu nhập quốc dân (GNI), - Thu nhập quốc dân (NI), - Thu nhập quốc dân khả dụng (NDI), - Thu nhập bình quân đầu người. Tổng giá trị sản xuất (GO): là tổng gia tri sản phẩm vật chất và dịch vụ được tạo ra ở trên phạm vi lãnh thô của một quốc gia trong một thời kỳ nhất định Tổng sản phẩm quốc nội (GDP): là tổng giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ cuối cùng do kết quả hoạt động kinh tế trên phạm vi lãnh thổ của một quốc gia tạo nên trong một thời kỳ nhất định.
Tổng thu nhập quốc dân (GNI): GNI được hình thành từ GDP tiếp cận theo góc độ thu nhập và được điều chỉnh theo con số chênh lệch thu nhập nhân tố với nước ngoài: GNI= GDP + chênh lệch thu nhập nhân tổ với nước ngoài Thu nhập quốc dân (ND: là phan giá trị sản phẩm vật chất và dich vụ mới sáng tạo ra trong một khoảng thời gian nhất định. NI chính là tong thu nhập quốc dân GNI sau khi đã loại trừ đi khâu hao vôn cô định của nên kinh tê Thu nhập quốc dân sử dụng (NDI): là phần thu nhập của một quốc gia dành cho tiêu dùng trong một thời kỳ. Thu nhập bình quân đầu người: (GDP/người, GNI/ngudi). Chỉ tiêu này phản ánh tăng trưởng kinh tế có tính đến sự thay đổi dân số.
Quy mô và tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người là những chỉ báo quan trọng phản ánh mức sống dân cư. Sự gia tăng liên tục của chỉ tiêu này là dấu hiệu thé hiện sự tăng trưởng bền vững của một quốc gia. Thu nhập bình quân đầu người còn được sử dụng trong việc so sánh mức sống dân cư giữa các quốc gia với nhau. Vì thế, các chỉ tiêu trên được sử dụng làm thước đo cho sự thay đôi trong kinh tê va còn được sử dụng đê xác định mục tiêu phân dau của quôc gia.
Theo các nhà kinh tế, có ba nhóm chỉ tiêu đánh giá chất lượng tăng trưởng kinh tế: chuyển dịch cơ cấu, hiệu quả kinh tế, khả năng cạnh tranh của nên kinh tế. Nhóm các chỉ tiêu phản ánh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế Cơ cấu kinh tế được hiểu là tương quan giữa các bộ phận trong tổng thé kinh tế, thé hiện môi quan hệ hữu cơ và sự tác động qua lại cả vê sô lượng và chât lượng giữa các bộ phận với nhau. Các mối quan hệ này được hình thành trong những điều kiện kinh tế — xã hội nhât định luôn luôn vận động và hướng vào những mục tiêu cụ thê. Nêu các thước đo tăng trưởng phản ánh sự thay đổi về lượng thì xu thế chuyên dịch cơ cấu kinh tế là thê hiện mặt chất trong quá trình phát triển.
Sự chuyền dich cơ cấu kinh tế có thé được thé hiện trong: e Cơ cấu ngành kinh tế: về lý thuyết, cơ cấu ngành kinh tế thé hiện cả mặt định lượng và định tính. Mặt định lượng chính là quy mô va tỷ trọng trong GDP, lao động, vốn của mỗi ngành trong tông thé kinh tế quốc dân. Mặt định tinh thé hiện vị trí và tam quan trọng của mỗi ngành trong hệ thống kinh tế quốc dân. e Cơ cấu vùng kinh tế: sự phát triển kinh tế được thé hiện ở cơ cấu vùng kinh tế theo góc độ thành thị và nông thôn.
Một xu hướng khá phổ biến của các nước đang phát triển là luôn có một lượng người thường từ nông thôn ra thành thị. Do ở nông thôn nghèo khổ, khó có công ăn việc làm ôn định nên việc di dân lên thành thị là điều đương nhiên. Mặt khác, việc thực hiện các chính sách CNH-HDH, phát triển hệ thống công nghiệp cũng làm cho ty trọng kinh tế thành thị ở các nước đang phát triển ngày càng tăng lên, tốc độ tăng dân số thành thị cao hơn so với tốc độ tăng trưởng dân số chung và đó chính là xu thế trong quá trình phát triển. Cơ cấu thành phần kinh tế: đây là dạng cơ cấu phản ánh tính chất xã hội hoá về tư liệu sản xuất và tài sản của nền kinh tế.
Ở Việt Nam hiện nay đang tồn tại 6 thành phần kinh tế: kinh tế nha nước kinh tế tập thể kinh tế cá thể - tiểu chủ - _ kinh tế tư bản tư nhân - _ kinh tế tư bản nhà nước - _ kinh tê có von dau tư nước ngoài Cơ cấu khu vực thể chế: nền kinh tế được phân chia dựa trên cơ sở vai trò các bộ phận cấu thành trong sản xuất kinh doanh và qua đó đánh giá được vị trí của mỗi khu vực trong vòng luân chuyên kinh tế và mối quan hệ giữa chúng trong quá trình thực hiện sự phát triển kinh tế. Các đơn vị thé chế trong nền kinh tế được chia thành 2 khu vực: khu vực chính phủ và khu vực tư nhân. Cơ cấu tái sản xuất: đây là cơ cau kinh tế phân chia tổng thu nhập của nền kinh tế theo tích lũy và tiêu dùng. Phần thu nhập dành cho tích lũy tăng và chiếm tỷ trọng cao là điều kiện cung cấp vốn lớn cho quá trình tái sản xuất mở rộng của nền kinh tế.
Tỷ trọng thu nhập dành cho tích luỹ ngày càng cao chính là xu thế phù hợp trong quá trình phát triên nên kinh tê của mỗi quôc gia. Các chỉ tiêu phản ảnh hiệu quả kinh tê Hiệu quả sản xuất của nền kinh tế được thê hiện dưới các góc độ: năng suất sử dụng các yếu tô đầu vào là vốn và lao động, đóng góp của TFP với tăng trưởng kinh tế. Chỉ tiêu phan ánh hiệu quả sử dung lao động — Năng suất lao động: dé tính năng suất lao động cho toàn bộ nền kinh tế, có thể đơn giản lấy GO (theo giá có định) chia cho số lao động (hoặc giờ lao động). Nếu GO bình quân trên mỗi lao động càng lớn thì năng suất lao động càng cao.
Chi tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn — Hệ số ICOR: hệ số này phản ánh hiệu quả của việc sử dụng vốn đầu tư đối tới tăng trưởng kinh tế của quốc gia Tốc độ tăng TFP và tỷ phần đóng góp của tốc độ tăng TFP: TFP là chỉ số phụ thuộc vào hai yếu tố: tiến bộ công nghệ và kỹ thuật; và hiệu quả sử dụng các yếu tô đầu 10 vào. TFP chiếm tỷ trọng cao trong đóng góp của vào tăng trưởng kinh tế sẽ đảm bảo duy trì được tốc độ tăng trưởng dài hạn và tránh được những biến động kinh tế từ bên ngoài. Tốc độ tăng TFP là chỉ tiêu phản ánh và khái quát hiệu qua sử dụng nguồn lực sản xuất, là yếu tố quan trọng dé đánh giá tinh chất phát triển và bền vững của kinh tế, là cơ sở dé phân tích hiệu quả sản xuất xã hội, đánh giá tiến bộ khoa học công nghệ, đánh giá trình độ tổ chức và quản lý sản xuất,.của mỗi ngành, mỗi địa phương hay mỗi quốc gia. Chính vi vậy, tốc độ tăng trưởng TFP và ty phần đóng góp của tốc độ tăng TFP là một trong những chỉ tiêu quan trong dé đánh giá chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế.
Các chỉ tiêu phản ánh về khả năng cạnh tranh của nền kinh tế Bao gồm: tỷ suất lợi nhuận trên vốn (ROE), tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (ROS), ty lệ xuất khẩu, tỷ lệ xuất khẩu sản phẩm sản xuất từ nguyên liệu trong nước, tỷ lệ xuất khâu nông sản qua chế biến, mức tiêu thụ điện năng dé tạo ra một đơn vi GDP, các thước đo chất lượng tăng trưởng kinh tế liên quan đến các vấn đề phúc lợi: tăng trưởng kinh tế và giải quyết việc làm, tăng trưởng kinh tế và xoá đói giảm nghèo, tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội (chi số phát triển con người HDI), tăng trưởng kinh tế và công băng xã hội; các thước đo về chất lượng tăng trưởng kinh tế liên quan đến bảo vệ và cải thiện môi trường. Mỗi quốc gia có đặc điểm riêng, nguồn lực riêng nên sự tác động của các nhân tố này đến tăng trưởng kinh tế khác nhau. Ở phần sau của đề tài sẽ làm rõ hơn vai trò của FDI đối với tăng trưởng kinh tế thông qua việc phân tích cơ sở lý thuyết và định lượng trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Lý luận về vốn FDI 1.
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Dựa vào nguôn gôc của vôn, đâu tư được chia thành đâu tư trong nước và đâu tư nước ngoài. Căn cứ vào quan hệ giữa quyên sở hữu va quyên sử dung von, dau tư được chia thành đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp.