Chương 1 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ ĐĂNG KÝ KIỂU DÁNG CÔNG NGHIỆP 1. Khái niệm chung về đăng ký kiểu dáng công nghiệp 1. Khái niệm kiểu dáng công nghiệp Ở đâu có hoạt động nghiên cứu, sáng tạo thì ở đó xuất hiện tài sản trí tuệ. Những thành quả do trí tuệ con người tạo ra thông qua hoạt động sáng tạo được thừa nhận là tài sản trí tuệ.
Trên thế giới, khái niệm sở hữu trí tuệ không phải là một khái niệm xa lạ, nhưng ở Việt Nam, khái niệm này còn khá mới mẻ đối với đại bộ phận nhân dân. Ở các nước phát triển, luật Sở hữu trí tuệ được ban hành từ rất sớm, như luật Sở hữu trí tuệ được ban hành ở Mỹ năm 1787, ở Pháp năm 1791, ở Bỉ năm 1854, ở Nhật năm 1855, ở Nga năm 1870, ở Đức năm 1877… Cùng với quá trình phát triển kinh tế thế giới, bảo hộ sở hữu trí tuệ được coi là vấn đề đặc biệt quan trọng và là mối quan tâm hàng đầu của các quốc gia. Các hoạt động sáng tạo và kết quả của các hoạt động sáng tạo có vai trò rất lớn đối với hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, đặc biệt là đối với việc nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường. Những năm về trước, các tài sản hiện hữu như đất đai, máy móc, lao động, tiền vốn… được coi là các chuẩn mực chung để đánh giá sự giàu có và sự phát triển của doanh nghiệp.
Ngày nay, sản phẩm trí tuệ - tài sản vô hình trở thành thước đo sức mạnh và vị thế của doanh nghiệp trên thương trường. Từ cuối thế kỷ XIX, khái niệm về kiểu dáng công nghiệp đã xuất hiện, gắn liền với khái niệm về quyền sở hữu công nghiệp. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế cũng như sự phát triển của khoa học công nghệ và các sáng tạo trong kinh doanh, khái niệm về kiểu dáng công nghiệp ngày càng trở nên 5 phổ biến. Tuy nhiên, trên thế giới hiện có nhiều khái niệm khác nhau về kiểu dáng công nghiệp.
Theo định nghĩa của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO): “Kiểu dáng công nghiệp là các khía cạnh mang tính chất trang trí hay thẩm mỹ của sản phẩm. Kiểu dáng có thể bao hàm các khía cạnh ba chiều, ví như hình dạng hoặc bề mặt của sản phẩm, hoặc các khía cạnh hai chiều, ví như mẫu hoa văn, đường nét hoặc màu sắc”. Theo định nghĩa này, kiểu dáng công nghiệp có thể được hiểu theo một nghĩa rất rộng. Đầu tiên, kiểu dáng công nghiệp được xác định ở tính chất trang trí hay thẩm mỹ của nó.
Bên cạnh đó, kiểu dáng công nghiệp cũng được xác định bằng biểu hiện bên ngoài của sản phẩm như họa tiết, đường nét, màu sắc hoặc ba chiều như hình khối, kết cấu của sản phẩm. Theo pháp luật của Hoa Kỳ, một trong những nước phát triển hàng đầu về những sản phẩm sở hữu trí tuệ, thì “Kiểu dáng bao gồm các đặc tính trang trí được thể hiện hay áp dụng trong một sản phẩm. Vì kiểu dáng được thể hiện ở hình dáng bên ngoài nên các đối tượng bảo hộ kiểu dáng có thể là hình dạng của một sản phẩm, là trang trí mặt ngoài của một sản phẩm, hay là sự kết hợp giữa hình dạng và trang trí bên ngoài. Một kiểu dáng trang trí bề ngoài không thể tách rời khỏi sản phẩm mà nó trang trí và do vậy không thể tự thân tồn tại một mình được”.
Như vậy, đặc tính quan trọng nhất của kiểu dáng công nghiệp là các đặc tính trang trí. Theo pháp luật Hoa kỳ, điểm mấu chốt của kiểu dáng công nghiệp là nhất thiết phải gắn liền với sản phẩm mà nó trang trí, nghĩa là không có dạng kiểu dáng công nghiệp tự thân tồn tại một mình. Theo pháp luật Việt Nam, từ trước khi có Luật Sở hữu trí tuệ, Bộ luật dân sự 1995 đã quy định: “Kiểu dáng công nghiệp là hình dáng bên ngoài của sản phẩm, được thể hiện bằng đường nét, hình khối, màu sắc hoặc sự kết hợp 6 những yếu tố đó, có tính mới đối với thế giới và dùng làm mẫu để chế tạo sản phẩm công nghiệp hoặc thủ công nghiệp”. Hiện nay, tại khoản 13 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ có quy định: “Kiểu dáng công nghiệp là hình dáng bên ngoài của sản phẩm được thể hiện bằng hình khối, đường nét, màu sắc hoặc sự kết hợp những yếu tố này”.
Theo định nghĩa này, có thể hiểu, kiểu dáng công nghiệp đơn thuần là hình dáng bên ngoài của sản phẩm, hay là hình dáng bên ngoài của sản phẩm kết hợp với họa tiết, là hình dáng bên ngoài của sản phẩm kết hợp với màu sắc, hoặc là hình dáng bên ngoài của sản phẩm kết hợp cả họa tiết, màu sắc. Như vậy, với tư cách là một đối tượng của sở hữu trí tuệ, kiểu dáng công nghiệp chỉ để cập đến các khía cạnh thẩm mỹ hoặc hình dáng bên ngoài của sản phẩm chứ không thể hiện các đặc điểm kỹ thuật hoặc chức năng bên trong của sản phẩm. Cách định nghĩa này của pháp luật Việt Nam cũng có nét tương đồng với định nghĩa của các nước trên thế giới khi khẳng định kiểu dáng công nghiệp là hình dáng bên ngoài của sản phẩm và luôn gắn liền với sản phẩm. Mặc dù kiểu dáng công nghiệp không đề cập đến các đặc điểm kỹ thuật hoặc chức năng của sản phẩm, tuy nhiên, kiểu dáng công nghiệp có vai trò vô cùng quan trọng đối với sản phẩm, vì nó là cái nhìn đầu tiên của người tiêu dùng về sản phẩm.
Do đó, ngoài chức năng phân biệt hình dáng, màu sắc giữa các sản phẩm cùng loại, kiểu dáng công nghiệp còn có chức năng thẩm mỹ, hấp dẫn thị hiếu người tiêu dùng thông qua những hình dáng và màu sắc đặc trưng riêng của sản phẩm đó. Hình dáng bên ngoài của sản phẩm cũng là yếu tố quan trọng trong việc góp phần nâng cao tiện ích của sản phẩm, giúp cho sản phẩm được sử dụng thuận lợi và phổ biến. Kiểu dáng công nghiệp luôn luôn mang tính thẫm mỹ, làm cho sản phẩm đẹp hơn, kích thích thị hiếu của người tiêu dùng muốn mua hàng nhiều hơn, qua đó làm tăng lợi nhuận cho nhà sản xuất. 7 Điểm mấu chốt trong khái niệm về kiểu dáng công nghiệp là kiểu dáng công nghiệp ít nhất phải có khả năng áp dụng công nghiệp để sản xuất ra các sản phẩm, tái tạo bằng phương pháp công nghiệp hay thủ công nghiệp (vì vậy mới gọi là kiểu dáng công nghiệp).
Nếu không có yếu tố này thì không phải là kiểu dáng công nghiệp mà là sự sáng tạo nghệ thuật (thuộc bản quyền tác giả). Tuy nhiên, trong định nghĩa về kiểu dáng công nghiệp thì các yếu tố như tính mới, tính sáng tạo và khả năng áp dụng không phải là điều kiện tiên quyết để xác định thế nào là kiểu dáng công nghiệp, mà đó chỉ là điều kiện để một đối tượng được bảo hộ với danh nghĩa là kiểu dáng công nghiệp. So sánh với các đối tượng khác của sở hữu công nghiệp như nhãn hiệu và sáng chế thì kiểu dáng công nghiệp có những điểm khác biệt cơ bản. Chức năng quan trọng nhất của nhãn hiệu là chức năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau.
Có thể hiểu rằng bất kỳ dấu hiệu nào đáp ứng được khả năng phân biệt sản phẩm, dịch vụ này với sản phẩm, dịch vụ khác đều được đăng ký là nhãn hiệu. Trong khi đó, một hình dáng bên ngoài của sản phẩm nếu được tạo ra một cách dễ dàng đối với người có trình độ trung bình thuộc lĩnh vực tương ứng thì lại không được bảo hộ như một kiểu dáng công nghiệp. Như vậy, rõ ràng, tính sáng tạo trong kiểu dáng công nghiệp được đề cao hơn so với nhãn hiệu. Mặt khác, nhãn hiệu có thể gắn với hàng hóa hoặc dịch vụ; còn kiểu dáng công nghiệp thì phải gắn liền với một sản phẩm nhất định vì đó là “hình dáng bên ngoài của sản phẩm”.
Giống như kiểu dáng công nghiệp, sáng chế cũng là những sản phẩm của hoạt động sáng tạo do con người tạo ra. Tuy nhiên, trong khi kiểu dáng công nghiệp chỉ gắn liền với hình dáng bên ngoài của một sản phẩm nhất định thì sáng chế lại là giải pháp kỹ thuật. Sáng chế có thể thể hiện dưới dạng sản phẩm hoặc một quy trình được tạo ra bằng cách ứng dụng các quy luật tự nhiên. Như vậy, kiểu dáng công nghiệp và sáng chế thuộc hai lĩnh vực hoàn 8 toàn khác nhau.
Trong khi kiểu dáng công nghiệp chú trọng đến tính thẩm mỹ của sản phẩm và có thể nhìn thấy bằng cảm quan, thì sáng chế lại là yếu tố kỹ thuật bên trong của sản phẩm. Kiểu dáng công nghiệp không thể tách rời khỏi sản phẩm, còn sáng chế có thể là quy trình, nên có thể tồn tại không phụ thuộc vào sản phẩm. Vai trò của kiểu dáng công nghiệp trong hệ thống bảo hộ sở hữu trí tuệ Kiểu dáng công nghiệp thường là yếu tố hữu hình đầu tiên của sản phẩm tạo ra sự hấp dẫn đối với người tiêu dùng. Ngoài những đặc điểm chức năng bên trong của sản phẩm là yếu tố quyết định thị hiếu của người tiêu dùng thì cũng không thể phủ nhận vai trò quan trọng của kiểu dáng công nghiệp đối với doanh thu của sản phẩm.
Điều này đặc biệt đúng trong trường hợp đối với nhiều sản phẩm có cùng chức năng thì sản phẩm nào có kiểu dáng đẹp, bắt mắt hơn sẽ dễ dàng thu hút người tiêu dùng hơn. Tuy nhiên, trong các đối tượng được bảo hộ của Luật Sở hữu trí tuệ thì kiểu dáng công nghiệp cũng là một trong những bộ phận dễ bị đánh cắp nhất và cũng thường xuyên bị bắt chước nhất. Vì vậy, việc bảo hộ kiểu dáng công nghiệp có vai trò vô cùng to lớn, không chỉ đối với doanh nghiệp, với người tiêu dùng mà còn với cả xã hội. Vai trò của việc bảo hộ kiểu dáng công nghiệp đối với xã hội: “Sở hữu trí tuệ” là một thuật ngữ mang nghĩa rộng, được dùng để mô tả sự sáng tạo của tư duy.
Sự sáng tạo này là tài sản vô hình mà pháp luật cần phải bảo hộ thông qua việc trao cho tác giả của sự sáng tạo ấy một số quyền nhất định, nhằm khuyến khích những sáng tạo hữu ích có lợi cho toàn xã hội. Ở nước ta, sự sáng tạo ấy đã có từ rất lâu, nhưng việc bảo hộ sự sáng tạo đó mới thực sự được triển khai từ những năm đầu của thập kỷ 80 của thế kỷ 20.