Chương I TONG QUAN VE THUC THI QUYEN SỞ HỮU TRÍ TUỆ BANG BIEN PHAP KIEM SOAT HANG HOA XUAT KHAU, NHAP KHAU 1. KHAI NIEM THUC THI QUYEN SHTT BANG BIEN PHAP KIEM SOAT HANG HOA XK, NK 1. Khái niệm thực thi quyền SHTT Cho đến nay, pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam dù có quy định về thực thi quyền SHTT nhưng không có giải thích hay định nghĩa thế nào là thực thi quyền SHTT. Theo Từ điển tiếng Việt, “thực thi” nghĩa là thi hành, thực hiện một nhiệm vụ hay bằng hoạt động làm cho nhiệm vụ, quy định trở thành sự that’.
Thuật ngữ “thực thi quyền SHTT” được dịch theo tiếng Anh là “Enforcement of Intellectual Property Rights”. Theo Từ điển Anh-Việt, từ “Enforcement” là danh từ, nghia là “1. bắt buộc, cưỡng bách, áp ché, bat theo. Thi hành, thực thi”.
Như vậy, thực thi quyền SHTT được hiểu là thực hiện, thi hành các quyền SHTT đã được pháp luật quy định, làm cho các quyền đó trở thành hiện thực. WIPO giải thích thực thi quyền SHTT trong trường hợp khi một chủ thé quyền phát hiện quyền sở hữu trí tuệ của mình bị xâm phạm hoặc đang bị xâm phạm, họ sẽ tập trung đảm bảo rằng các quyền mà họ đạt được thông qua hệ thống sở hữu trí tuệ phải được tôn trọng. Điều này bao gồm, ngoài những điều khác, yêu cầu dừng việc sử dung trái phép, ngăn chặn hành vi xâm phạm trong tương lai, và yêu cầu bồi thường thiệt hại gây ra bởi hành vi xâm phạm. Tuy nhiên, dựa theo quy định của Hiệp định TRIPs, có quan điểm cho răng thực thi quyền SHTT “được hiểu là hoạt động của cơ quan nhà nước có thâm quyền, thông qua các thủ tục và chế tài luật định dé ngăn chặn, xử lý các hành vi xâm phạm quyền SHTT, bao đảm quyền SHTT có hiệu lực trên thực tế, Theo Hiệp định TRIPS, thực thi quyền SHTT là một khía cạnh của hoạt động bao hộ quyền SHTT.
Tại Chú thích 3 Hiệp định TRIPS, thuật ngữ “bảo hộ quyền SHTTT” được giải thích là “bảo hộ phải bao gồm các van dé ảnh hưởng đến kha năng đạt được, việc đạt được, phạm vi, việc duy trì > Viện Ngôn ngữ học,(2000, tr. * Bùi Phụng, (2002, tr. ” Xem: http://www.int/enforcement/en/faq/general/faq01.html ° Nguyễn Thái Mai, Vũ Thị Phương Lan và đ. hiệu lực và việc thực thi các quyền SHTT, cũng như các vấn đề ảnh hưởng đến việc sử dụng các quyền SHTT”.
Do quyền SHTT được pháp luật thừa nhận là một loại quyền tài sản - Tài sản trí tuệ. Do đó, về nguyên tắc, khi tài sản trí tuệ được pháp luật bảo hộ, chủ sở hữu phải tự thực thi để bảo đảm quyền, lợi ích của mình như các loại tài sản khác. Tuy nhiên, do bản chất vô hình nên tài sản trí tuệ có thé dé dang bị người khác sao chép, chiêm doạt và sử dung trái phép, không có loại tài sản nào mà việc xác lập, sử dụng, thực hiện quyền sở hữu đối với chúng phải dựa nhiều vào pháp luật, hoạt động của cơ quan thực thi pháp luật như tai sản trí tuệ. Tóm lại, theo nghĩa rộng, thực thi quyền SHTT có thê hiểu là hoạt động của chủ thể quyền SHTT, của cơ quan nhà nước và chủ thê khác có liên quan nhằm đảm bảo cho quyền SHTT được tôn trọng và thực hiện trên thực tế.
Theo nghĩa hẹp, thực thi quyền SHTT là hoạt động của cơ quan nhà nước có thầm quyền thông qua các biện pháp được pháp luật quy định đề phát hiện, xử lý hành vi xâm phạm quyền SHTT. Trong hệ thống pháp luật SHTT hiện nay, bên cạnh khái niệm thực thi quyền SHTT còn có các khái niệm liên quan cũng được đề cập đó là bảo hộ quyền SHTT và bảo vệ quyền SHTT. Bảo hộ quyền SHTT có thể hiểu là các hoạt động của Nhà nước từ việc xây dựng pháp luật quy định về điều kiện, trình tự, thủ tục xác lập, nội dung, giới hạn, duy trì, bảo vệ quyền SHTT đến việc thiết lập cơ ché thực thi quyền SHTT. Bảo vệ quyền SHTT được hiểu là các hoạt động của nhà nước, của chủ thể quyền SHTT và chủ thê khác liên quan trong việc sử dung các biện pháp không trái với quy định của pháp luật dé bảo đảm quyền SHTT, kịp thời phát hiện, ngăn chặn và xử lý các hành vi xâm phạm quyền SHTT.
Trong Luận văn này, khái niệm “bảo vệ quyền SHTT” theo pháp luật Việt Nam hiện nay được hiểu đồng nhất, tương ứng với khái niệm “thực thi quyền SHTT” - Thuật ngữ được sử dụng chủ yếu trong pháp luật quốc tế. Thực tế, trước khi ban hành Luật SHTT, một số văn bản pháp luật 'Việt Nam, văn bản hành chính và tài liệu nghiên cứu đã sử dụng thuật ngữ “thực thi quyền SHTT. “thực thi bảo hộ quyền.” hoặc “thi hành biện pháp kiểm soát biên giới”. Tuy nhiên, đặt trong bối Ý xem: Điều 50 Nghị định 154/2005/NĐ-CP; Mục III Thông tư liên tịch số 58/2003/TTLT-BVHTT-BTC; Thông tư liên tịch số 129/2004/TTLT/BTC-BKHCN.
cảnh thực tiễn pháp luật Việt Nam, thuật ngữ “thực thi quyền SHTT” thường bị hiểu nhầm với nội hàm của thuật ngữ “thực thi pháp luật? mặc dù hai thuật ngữ này có nội hàm không giống nhau. Do đó, Luật SHTT hiện nay (Phần thứ Năm) đã thống nhất sử dụng cụm từ “Bảo vệ quyền SHTT” để thay cho các thuật ngữ được sử dụng trước đó. Trong Luận văn này tác giả chọn sử dụng thuật ngữ “Thực thi quyền SHTT.” mà không sử dụng thuật ngữ “Bảo vệ quyền SHTT.” bởi biện pháp này gan liền với hoạt động dam bảo quyền SHTT giữa các quốc gia thông qua hoạt động XK, NK, đồng thời trong Luận văn tác giả cũng có đưa ra so sánh pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về van đề trên. Do đó, dé đảm bảo cách tiếp cận rộng và phù hợp với pháp luật quốc tế nên tac giả sử dụng thuật ngữ “thực thi quyền SHTT”.
Khái niệm thực thi quyền SHTT bằng biện pháp kiểm soát hàng hóa XK, NK Theo Từ dién tiếng Việt, kiểm soát có nghĩa là xem xét dé phát hiện, ngăn chặn những gi trái với quy định”. Tông cục Hải quan cho rang: “Thực thi quyền SHTT trong lĩnh vực hai quan là việc cơ quan hải quan áp dụng các biện pháp kiểm soát hàng hóa XK, NK liên quan đến SHTT theo quy định tài Điều 216, mục 2, chương XVIII, Luật SHTT; Mục 5, chương IIT Luật Hai quan và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan”. Quan điểm này xuất phát từ quy định của pháp luật thực định, thê hiện chủ thể thực thi quyền SHTT duy nhất là cơ quan hải quan mà không đề cập đến sự tham gia của chủ thé quyền SHTT. Tuy nhiên, có quan điểm khác cho rằng “thực thi quyền SHTT là việc chủ sở hữu (hoặc người được ủy quyền hợp pháp) thực hiện các quyền đối với tài sản trí tuệ theo quy định của Pháp luật (.
đó là quyền nộp đơn và quyền yêu cầu tạm dừng làm thủ tục hai quan)’”° Quan quan điểm này đề cập đến chủ thê duy nhất là chủ thé quyền SHTT mà không có sự tham gia của cơ quan hải quan. Dù vậy, cả hai quan điểm trên đều không nêu rõ được bản chat, vai trò của cả chủ thé quyền SHTT và cơ quan hải quan trong thực thi quyền SHTT. Theo tác giả, thực thi quyền SHTT bằng biện pháp kiểm soát hàng hóa XK, NK có thê hiểu là biện pháp do chủ thê quyền SHTT, cơ quan hai quan thực hiện đối với hàng hóa XK, NK nhằm phát hiện, xử lý hành vi xâm phạm quyền SHTT, đảm bảo quyền SHTT được tôn trọng trên thực tÊ. „ Viện Ngôn ngữ học, (2000, tr.
„Lông cục Hải quan, (2008), Quy trinh nghiệp vụ thực thi quyền SHTT trong lĩnh vực hải quan. '° Cục Hải quan tinh Quảng Bình, (2011), V/v góp ý dự thảo Thông tư về chong hang giả và thực thi quyền SHTT trong lĩnh vực hải quan. ĐẶC DIEM, VAI TRO CUA HOẠT ĐỘNG THỰC THI QUYEN SHTT BANG BIEN PHAP KIEM SOAT HANG HOA XK, NK 1. Đặc điểm của hoạt động thực thi quyền SHTT bang biện pháp kiểm soát hàng hóa XK, NK Thi’ nhát, chủ thé thực hiện bao gồm chủ thé quyền SHTT và cơ quan hai quan Chủ thé quyền SHTT: Quyền SHTT là quyền dân sự nên về nguyên tắc chủ thé quyền SHTT phải là chủ thê làm phát sinh hoạt động kiêm soát hàng hóa XK, NK liên quan đến SHTT tại cơ quan hải quan dé thực thi quyền sở hữu đối với tai sản trí tuệ đó.
Họ có quyền tự thực thi hoặc yêu cau cơ quan hải quan kiêm soát hàng hóa XK, NK liên quan đến SHTT dé phát hiện và xử ly hành vi xâm phạm quyền và lợi ích của mình. “Quy định về biện pháp kiểm soát biên giới của Hiệp định TRIPS là Điều 51 với quy định đình chỉ tại cơ quan hải quan việc đưa hàng hóa giả mạo nhãn hiệu hoặc xâm phạm bản quyền vào lưu thông tự do. Quy định này phải ngầm hiểu răng thủ tục đình chỉ thông quan phải được đề xuất bởi một chủ thé quyền.”" Cơ quan hải quan là cơ quan có chức năng kiểm soát, thông quan hàng hóa XK, NK đồng thời có thâm quyền áp dụng biện pháp kiểm soát hàng hóa XK, NK liên quan đến SHTT. Về nguyên tắc, cơ quan hải quan chỉ thực hiện biện pháp kiểm soát về SHTT đối với hàng hóa XK, NK khi chủ thé quyền SHTT có yêu cầu.
Thu? hai, cơ quan hải quan tiễn hành kiểm soát biên giới về SHTT tại các khu vực, địa bàn diễn ra hoạt động XK, NK Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế xuất hiện khái niệm mới là “lãnh thô kinh tế”. Địa bàn diễn ra hoạt động kiểm soát hàng hóa XK, NK nói chung và hàng hóa XK, NK liên quan đến SHTT nói riêng của cơ quan hải quan không chỉ tại một số khu vực nằm trên đường biên giới quốc gia như cửa khẩu đường bộ, đường sông biên giới. mà còn bao gồm một số khu vực trong lãnh thô quốc gia đó như khu chế xuất, khu công nghiệp, cảng hàng không. Như vậy, địa bàn diễn ra hoạt động kiêm soát hàng hóa XK, NK, hàng hóa liên quan đến SHTT của cơ quan hải quan có thé bao gồm các khu vực: Cửa khẩu đường bộ, đường sông, cảng biên, đường sắt liên vận quốc tế, cảng hàng không, bưu điện quốc tế, khu chế xuất, doanh nghiệp chế xuất, kho bảo thuế, khu bảo thuế, kho ngoại quan, khu kinh tế thương mại đặc biệt, khu thương mại - công nghiệp, trụ sở doanh !! Thomas Cottier, Pierre Véron, Thomas Dreier, Charles Gielen, Richard Hacon, (2008, tr.