Chương 1: Một số van đề khái quát về bảo hộ chồng lắn giữa nhãn hiệu và kiêu dáng công nghiệp. Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo hộ chồng lấn giữa nhãn hiệu và kiểu dáng công nghiệp. 8 Chương 3: Một sô kién nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu qua thực thi pháp luật về bảo hộ chồng lắn giữa nhãn hiệu và kiêu dang công nghiệp. CHUONG 1: MOT SO VAN ĐÈ KHÁI QUAT VE BẢO HO CHONG LAN GIỮA NHAN HIỆU VA KIEU DANG CONG NGHIỆP 1.
Khái quát về nhãn hiệu và cơ chế bảo hộ nhãn hiệu 1. Khái niệm nhãn hiệu “Nhãn hiệu” không phải là một thuật ngữ xa lạ với mọi người. Nhãn hiệu hàng hóa đã có từ thời cô đại. Cách đây 3000 năm, những người thợ thủ công Ấn Độ đã chạm khắc chữ ký của mình trên các tác phẩm nghệ thuật trước khi gửi hàng tới Iran.
2000 năm trước, người Trung Quốc đã bán hàng hóa mang nhãn hiệu của mình tại Địa Trung Hải. Cùng thời gian đó, hàng ngàn nhãn hiệu đồ gốm La Mã đã được sử dụng. Nhờ việc kinh doanh phát đạt thời Trung Cô, việc sử dụng những dấu hiệu để phân biệt hàng hóa của các thương gia và nhà sản xuất khác nhau đã khá phát triển!. Ngày nay, nhãn hiệu đã phát triển thành dấu hiệu phân biệt sản pham, dịch vụ do các doanh nghiệp khác nhau sản xuất, cung ứng và trở thành một tài sản có giá trị lớn trong kinh doanh.
Nhìn vào một nhãn hiệu, người tiêu dùng có thé biết và lựa chọn được những sản phẩm, dịch vụ có chất lượng hoặc đã từng quen sử dụng. Nó thê hiện uy tín của nhà sản xuất, nhà cung ứng dịch vụ trên thị trường, đồng thời góp phần to lớn vào việc chiếm lĩnh thị trường của doanh nghiệp”. Dưới góc độ pháp lý, thuật ngữ “nhdn hiệu” được sử dụng lần đầu tiên trong một văn bản pháp luật quốc tế về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp là Công ước Paris. Tuy nhiên, Công ước Paris chưa đưa ra khái niệm nhãn hiệu mà chỉ quy định các điều kiện bảo hộ đối tượng sở hữu công nghiệp.
Hiệp định TRIPS là điều ước quốc tế đầu tiên đưa ra khái niệm nhãn hiệu tại khoản 1 Điều 15: “Bá: kì một dau hiệu hoặc một tô hợp dấu hiệu nào có khả năng phán biệt hàng hóa, dich vụ của một doanh nghiệp với hàng hóa, dich vụ của các doanh nghiệp khác đều có thé làm nhãn hiệu. Các dấu hiệu đó, đặc biệt là các từ, ké cả tên riêng, các chữ cái, chữ sỐ, các yếu tô hình họa và tổ hợp các màu sắc cũng như tô hợp bat kì của các dấu hiệu đó phải có khả năng được đăng ký là nhãn hiệu hàng hóa. ” : WIPO (2004), WIPO Intellectual Property Handbook: Policy, Law and Use, tr. ? Đỗ Ngọc Thanh (2004), Bao hộ nhãn hiệu hàng hóa theo hiệp định thương mai Việt Nam — Hoa Ky, Luan văn Thạc sĩ luật hoc, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr.
10 Còn theo WIPO thì: “Nhãn hiệu là dấu hiệu để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác. Nhãn hiệu được bảo hộ quyên sở hữu trí tuệ”. Ở Việt Nam, khái niệm “nhdn hiệu” đã được quy định tại khoản 16 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11 ngày 29/11/2005 (sửa đổi, bố sung các năm 2005, 2009, 2019, 2022) như sau: “Nhdn hiệu là dấu hiệu dùng dé phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau. ” Nhãn hiệu có nhiều chức năng khác nhau, nhưng tựu trung lại đều hướng tới bốn mục tiêu cơ bản: Mor /à, nhãn hiệu là công cụ “đánh dau” những hang hóa, dich vu xuat phat từ cùng một nguồn sản xuất.
Hai /à, nhãn hiệu đem lại cho người tiêu dùng sự đảm bảo về chất lượng các sản phẩm có nguồn gốc mà họ tin tưởng. Ba jà, nhãn hiệu cho phép nhà sản xuất phân biệt hàng hóa, dịch vụ của họ với các đối thủ cạnh tranh khác. Bon /à, nhãn hiệu giúp thúc đây sự phát triển của các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu”. Cơ chế bảo hộ nhãn hiệu * Nguyên tắc bảo hộ: Pháp luật sở hữu trí tuệ bảo hộ độc quyên nội dung ý tưởng sáng tạo của nhãn hiệu.
Mọi hành vi của chủ thé khác sử dụng những dau hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu đang được pháp luật bảo hộ độc quyền đều bị coi là hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu, kế cả hành vi sử dung đó là vô tình hay cô tình, biết đến hay chưa biết đến sự tôn tại từ trước của nhãn hiệu đang được bảo hộ. Độc quyền nhãn hiệu chỉ thu hẹp trong phạm vi nhãn hiệu của những loại sản pham ma chủ sở hữu nhãn hiệu yêu cầu bảo hộ. Tuy nhiên, nếu một nhãn hiệu được công nhận là nhãn hiệu nỗi tiếng thì phạm vi bảo hộ của nó có thé mở rộng với mọi loại sản phẩm. * Điều kiện bảo hộ: Một dau hiệu muốn được được bảo hộ là nhãn hiệu phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật quốc gia.
Nhìn chung, có hai loại điều kiện: Một là, nhãn hiệu phải độc đáo hoặc có khả năng phân biệt các sản phẩm khác nhau.int/trademarks/en/ (truy cập ngày 29/01/2023). * Sau đây gọi là Luật sở hữu trí tuệ. > Trường Dai học Luật Hà Nội (2021), Giáo trinh Luật Sở hữu trí tué, NXB. Công an nhân dân, Hà Nội, tr.
6 Nguyễn Phan Diệu Linh (2015), Sự giao thoa giữa cơ chế bảo hộ tác phẩm mỹ thuật ứng dụng với bảo hộ kiểu dáng công nghiệp và nhãn hiệu, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr. lãi Một nhãn hiệu, dé thực hiện được chức năng của nó, phải có khả năng phân biệt, nếu không, nó sẽ không thé giúp người tiêu dùng nhận ra hàng hóa, dịch vụ mà mình muốn tìm hoặc lựa chọn. Việc xem xét liệu một nhãn hiệu có khả năng phân biệt hay không phụ thuộc vào hiểu biết của người tiêu dùng. Một dấu hiệu được coi là có khả năng phân biệt đối với hàng hóa mang dấu hiệu đó khi dấu hiệu này được những người tiêu dùng nhận ra như dấu hiệu xác định hàng hóa có nguồn gốc xuất phát từ một cơ sở kinh doanh nhất định.
Khả năng phân biệt của một dấu hiệu không tuyệt đối và bất biến. Phụ thuộc vào chủ thể sử dụng nhãn hiệu hoặc bên thứ ba, khả năng phân biệt của nhãn hiệu có thé được xây dựng, phát triển hay thậm chi bị đánh mat. Hai là, nhãn hiệu không được có những đặc tinh gây hiểu lầm hoặc vi phạm trật tự công cộng và đạo đức xã hội. Vì lợi ích của công chúng, các nhãn hiệu có nguy cơ lừa dối vé tính chat, chất lượng, các đặc tính khác hay về xuất xứ địa lý của hàng hóa đều không đủ điều kiện đăng ký.
Các dấu hiệu mang tính chất mô tả hay chỉ dẫn xuất xứ địa lý của hàng hóa sẽ là giả mạo nếu hàng hóa đó không có tính chất như được mô tả hay không có nguồn gốc từ khu vực địa lý được chỉ dẫn. Trong những trường hợp như vậy, người tiêu dùng sẽ hiểu lầm về tính chất hay nguồn gốc địa lý của sản phâm. Bên cạnh đó, Luật về Nhãn hiệu thường từ chối đăng ký các dấu hiệu trái với đạo đức hay trật tự công cộng. Luật Mẫu cũng liệt kê các lý do từ chối tại Điều 5(1)(e) và đưa ra một số vi dụ như tranh ảnh thô tục và biểu tượng của các đảng phái chính trị bất hợp pháp.
Hai điều kiện bảo hộ nhãn hiệu nêu trên được quy định trong luật về nhãn hiệu của hầu hết các quốc gia. Chúng cũng được quy định tại Điều 64w B của Công ước Paris rằng các nhãn hiệu được bảo hộ theo Điều 64w4is A chi có thé bị từ chối đăng kí khi “không có bat cứ dấu hiệu phân biệt nào ” hoặc “trái với đạo đức, trật tự công cộng, gây nhằm cho công chúng `”. * Căn cứ xác lập quyên: Ở hầu hết các quốc gia, quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu được xác lập trên cơ sở quyết định cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan nhà nước có thầm quyền theo thủ tục đăng ký nhãn hiệu tương ứng. Tuy nhiên, ở một số nước, quyên đối với nhãn hiệu có thê phát sinh trên cơ sở sử dụng nhãn hiệu đó.
Người sử dụng đâu tiên 7WIPO, ¢ldd 1, tr. 12 sẽ được ưu tiên trong các vụ tranh chấp về nhãn hiệu chứ không phải người đầu tiên đăng ký nhãn hiệuŠ. Ngoài ra, nhãn hiệu nỗi tiếng thường được bảo hộ theo một co chế đặc biệt, không phụ thuộc vào việc đăng ký. * Thời hạn bảo hộ: Chức năng chính của nhãn hiệu là dùng dé phan biệt hang hóa, dich vụ các của tô chức, cá nhân khác nhau nên thời hạn bảo hộ của nhãn hiệu không bị hạn chế.
Song vì các lý do hành chính, luật nhãn hiệu thường quy định thời hạn của văn bằng bảo hộ nhãn hiệu và văn bang bảo hộ có thể được gia hạn khi hết thời han đó°. Khái quát về kiểu dáng công nghiệp và cơ chế bảo hộ kiểu dáng công nghiệp 1. Khái niệm kiểu dáng công nghiệp Theo nghĩa rộng, kiểu đáng công nghiệp đề cập đến hoạt động sáng tạo nhằm tạo ra hình dáng trang trí bên ngoài cho những hàng hóa được sản xuất hàng loạt, trong phạm vi giá cả có thê chấp nhận được, song vẫn hấp dẫn người tiêu dùng về thị giác và phải thé hiện chức năng kỹ thuật đã định trước một cách hiệu quả. Sự hap dẫn về thị giác là điều đáng quan tâm vì nó ảnh hưởng tới quyết định của người tiêu dùng, đặc biệt đối với những sản phâm có cùng chức năng kỹ thuật được bán trên thị trường.
Nếu tính năng kỹ thuật của sản phẩm đo các nhà sản xuất khác nhau tạo ra là tương đương thi sự hap dẫn về mặt thẳm mỹ và giá cả sẽ quyết định sự lựa chọn của người tiêu dùng!!, Chính vì vậy bảo hộ kiểu dáng công nghiệp về mặt pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc giúp các nhà sản xuất thành công trên thương trường. Các quy định bảo hộ kiểu dáng công nghiệp mang ban chất khích lệ sự sáng tạo trong sản xuất. Dé bù đắp cho việc đưa các sáng tạo thầm mỹ vào cuộc song, các chủ thé sáng tạo sẽ nhận được những lợi ích kinh tế trong giai đoạn bảo hộ độc quyền, đó là quyền ngăn cam bat kì ai sử dụng kiểu dáng công nghiệp khi chưa được phép của chủ sở hữu.