Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu "Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ tại biên giới thông qua kiểm soát hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ của Hải quan Việt Nam" do nghiên cứu sinh Hứa Thị Hồng thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Vũ Thị Hải Yến và TS. Nguyễn Như Quỳnh, bảo vệ năm 2023 tại Trường Đại học Luật Hà Nội. Luận án thuộc chuyên ngành Luật Dân sự và Tố tụng dân sự (mã số 9 38 01 03), tiếp cận theo định hướng nghiên cứu khoa học pháp lý định tính kết hợp phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật và nghiệp vụ hải quan.

Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ tình hình xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) và buôn bán hàng giả qua biên giới có diễn biến phức tạp. Theo báo cáo của Phòng Thương mại Quốc tế về thực hiện các hoạt động ngăn chặn hàng giả và hàng hóa vi phạm bản quyền (ICC Bascap), Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC), hàng giả và hàng lậu tại Việt Nam tạo ra nguồn thu cho nền kinh tế ngầm, gây thất thu thuế và rủi ro sức khỏe cho người tiêu dùng. Hàng hóa giả mạo xuất hiện ở nhiều lĩnh vực (dệt may, mỹ phẩm, dược phẩm, rượu, thực phẩm, phần mềm) với công nghệ tinh vi và gia tăng trên môi trường thương mại điện tử. Đồng thời, việc Việt Nam tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP và EVFTA đặt ra các nghĩa vụ thực thi nghiêm ngặt, đòi hỏi cơ quan hải quan phải chủ động kiểm soát hàng hóa xuất khẩu (XK), nhập khẩu (NK), quá cảnh nghi ngờ giả mạo nhãn hiệu hoặc sao lậu quyền tác giả (QTG), áp dụng kỹ thuật quản lý rủi ro và tăng cường phối hợp với chủ thể quyền. Trong khi đó, khung lý luận và pháp luật Việt Nam về kiểm soát hàng hóa giả mạo về SHTT tại biên giới vẫn tồn tại mâu thuẫn giữa Luật Hải quan và Luật Sở hữu trí tuệ, thẩm quyền mặc nhiên chưa rõ ràng và hiệu quả bắt giữ vi phạm thực tế còn hạn chế.

Mục đích nghiên cứu của luận án là luận giải làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn bảo vệ quyền SHTT tại biên giới thông qua kiểm soát hàng hóa giả mạo về SHTT của Hải quan; trên cơ sở đó kiến nghị các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả kiểm soát hàng hóa giả mạo về SHTT của Hải quan Việt Nam.

Để thực hiện mục đích trên, luận án xác định 5 nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Phân tích, đánh giá tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về bảo vệ quyền SHTT tại biên giới thông qua kiểm soát hàng hóa giả mạo về SHTT của cơ quan hải quan, xác định những nội dung cần tiếp tục làm rõ;
  2. Nghiên cứu hệ thống cơ sở lý luận về bảo vệ quyền SHTT tại biên giới thông qua kiểm soát hàng hoá giả mạo SHTT;
  3. Đánh giá và so sánh pháp luật quốc tế, pháp luật của một số nước với pháp luật Việt Nam về kiểm soát hàng hoá giả mạo về SHTT của cơ quan hải quan, rút ra bài học kinh nghiệm;
  4. Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn kiểm soát hàng hóa giả mạo về SHTT của Hải quan Việt Nam, xác định các nguyên nhân và hạn chế tồn tại;
  5. Đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam và giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền SHTT tại biên giới thông qua kiểm soát hàng hoá giả mạo về SHTT của Hải quan Việt Nam.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là các vấn đề lý luận và thực tiễn hoạt động bảo vệ quyền SHTT tại biên giới thông qua kiểm soát hàng hoá giả mạo về SHTT, bao gồm: hệ thống lý thuyết về bảo vệ quyền SHTT tại biên giới; các quy định pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên (Hiệp định TRIPs, CPTPP, EVFTA, Công ước WIPO 1967) và pháp luật của một số quốc gia (Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Nhật Bản, Liên minh Châu Âu - EU, Trung Quốc); cùng thực tiễn áp dụng các biện pháp kiểm soát biên giới của Hải quan Việt Nam.

Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể:

  • Về nội dung: Tập trung vào các vấn đề lý luận và thực tiễn pháp lý về kiểm soát hàng hóa giả mạo về SHTT của cơ quan hải quan;
  • Về không gian: Hoạt động kiểm soát trong phạm vi địa bàn hải quan Việt Nam, tập trung tại các địa phương có kim ngạch xuất nhập khẩu lớn và là địa bàn trọng điểm như thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, các tỉnh Quảng Ninh, Lạng Sơn, Quảng Trị, Hà Tĩnh, Tây Ninh, Đồng Nai, Bình Dương; kết hợp nghiên cứu so sánh tại Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Nhật Bản, EU và Trung Quốc;
  • Về thời gian: Khảo sát thực tiễn hoạt động của Hải quan Việt Nam từ năm 2014 đến năm 2021, gắn liền với giai đoạn áp dụng hệ thống thông quan điện tử tự động (VNACCS/VCIS) và kết nối Cơ chế một cửa quốc gia.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án điểm lại hệ thống các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến đề tài theo từng nhóm tài liệu:

Về các công trình trong nước:

  • Đề tài nghiên cứu khoa học: Đề tài cấp Bộ Tài chính (2012) về chiến lược thực thi quyền SHTT tại biên giới của Hải quan Việt Nam do ThS. Vũ Thị Hải Yến nghiên cứu; Đề tài cấp Bộ Khoa học và Công nghệ (2015) của TS. Nguyễn Như Quỳnh về nâng cao hiệu quả cơ chế thực thi quyền SHTT đáp ứng yêu cầu hội nhập; Đề tài cấp Tổng cục Hải quan (2016) của ThS. Nguyễn Văn Thọ về nâng cao hiệu quả kiểm soát hàng giả có nguồn gốc nhập khẩu đến năm 2020; Đề tài cấp Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (2016) của TS. Nguyễn Tuấn Anh về cơ chế thực thi chống hành động xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp.
  • Sách chuyên khảo và báo cáo: Cuốn "Cẩm nang sở hữu trí tuệ" (2006) do WIPO và Cục Sở hữu trí tuệ phát hành; chuyên khảo "Quyền sở hữu trí tuệ" của Lê Nết (Đại học Quốc gia TP.HCM); "Sách trắng về các vấn đề thương mại, đầu tư tại Việt Nam" của Eurocham (giai đoạn 2012–2017).
  • Luận văn, luận án: Luận án tiến sĩ của Nguyễn Vĩnh Diện (2014) về thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài của lực lượng Công an nhân dân; Luận văn thạc sĩ của Dương Đình Công (2011), Trần Thị Thu Vân (2011), Triệu Thị Thùy Trang (2011), Phí Đình Mạnh (2014), Nguyễn Thị Huệ (2016), Hứa Thị Hồng (2011), Trần Việt Hưng (2012), Đỗ Thị Anh (2014), Đoàn Thắng (2013), Nguyễn Minh Đức (2011), Trương Thế Khanh Quỳnh (2008).
  • Bài báo khoa học và kỷ yếu: Nghiên cứu của Nguyễn Thái Mai (2004), Nguyễn Ngọc Sơn (2005), Nguyễn Hồng Bắc (2010), Vũ Thị Hồng Yến (2005), Doãn Đức Lượng và Nguyễn Minh Đức, Nguyễn Thị Thương Huyền (2008), Nguyễn Thị Huệ (2016), Nguyễn Thị Quế Anh (2014), Hứa Thị Hồng (2016), Đặng Vũ Huân (2013), Tào Thị Huệ (2014), Nguyễn Xuân Quang (2017), cùng các Kỷ yếu hội thảo khoa học của Trường Đại học Luật Hà Nội (2006), Học viện Cảnh sát nhân dân và Cục Điều tra chống buôn lậu - Tổng cục Hải quan (2015).

Về các công trình nghiên cứu nước ngoài:

  • Sách chuyên khảo: Tina Hart, Simon Clark, Linda Fazzani (2013) với "Intellectual Property Rights Law"; Kym Anderson và Bernard Hoekman (2002) với "Global Trade System"; Olivier Vrins và Marius Schneider (2012) với "Enforcement of Intellectual Property Rights Through Border Measures - Law and Practice in the EU"; Michael Blakeney (2008, 2012) với các tác phẩm về thực thi quyền SHTT và bình luận về Hiệp định Thương mại chống hàng giả (ACTA); Paul Torremans (2014) với "Research Handbook on Cross-border Enforcement of Intellectual Property"; Anne Gilson LaLonde (2006) với "Anti-Counterfeiting in the twenty first century"; Daniel C. Chow và Edward Lee (2021) với "International Intellectual Property, Problems, Cases, and Materials"; Frederick M. Abbott, Thomas Cottier, Francis Gurry (2019); Graeme Dinwoodie và các cộng sự (2008); Xuan Li và Carlos Maria Correa (2009) với "Intellectual Property Enforcement International Perspectives".
  • Giáo trình và tài liệu tổ chức quốc tế: Ấn phẩm của WIPO (2012) về thực thi quyền SHTT; Giáo trình chuẩn của Cơ quan Sáng chế Nhật Bản - JPO (2007).
  • Luận văn và bài báo quốc tế: Luận văn của Vũ Xuân Bính (2008, KDI Hàn Quốc); Gustaf Akesson (2010, Đại học Lund); bài viết của Kevin Lewis về hậu quả của hàng giả.

Khoảng trống nghiên cứu mà luận án xác định giải quyết bao gồm:

  1. Thiếu vắng một công trình xây dựng mô hình lý thuyết toàn diện, chuyên sâu về bảo vệ quyền SHTT tại biên giới thông qua kiểm soát hàng hóa giả mạo về SHTT của cơ quan hải quan;
  2. Chưa có tiêu chí phân định rõ ràng giữa hàng hoá giả mạo về SHTT với các dạng hàng hoá xâm phạm quyền SHTT khác trong nghiệp vụ kiểm soát biên giới;
  3. Chưa có công trình đánh giá hệ thống thực trạng pháp luật Việt Nam trong tương quan so sánh với các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (CPTPP, EVFTA) về thẩm quyền chủ động (mặc nhiên) và kiểm soát hàng hóa quá cảnh, xuất khẩu;
  4. Chưa có giải pháp kiểm soát hàng hóa giả mạo về SHTT gắn liền với quá trình chuyển đổi số, thông quan tự động và mô hình Hải quan thông minh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên 4 triết lý triết học pháp luật và 2 học thuyết pháp lý nền tảng để giải thích căn cứ bảo hộ và thực thi quyền SHTT:

  • Triết lý về pháp luật tự nhiên (the natural law thesis): Thừa nhận quyền chiếm hữu tài sản trí tuệ là quyền vốn có của con người (theo triết học của Hegel và John Locke), được ghi nhận trong Hiến chương Liên Hợp Quốc về Quyền con người (1948) và Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (1966);
  • Triết lý về bù đắp chi phí cho chủ thể sáng tạo (the reward thesis): Trao độc quyền trong hạn định để bù đắp chi phí, công sức mà chủ thể đã đóng góp cho xã hội (dựa trên thuyết lao động của Locke);
  • Triết lý về khuyến khích sáng tạo (the incentive thesis): Xác lập quyền độc quyền nhằm tạo động lực thúc đẩy đầu tư thời gian, trí tuệ và tài chính vào hoạt động sáng tạo mới;
  • Triết lý về công bố thông tin sáng tạo (the disclosure thesis): Trao quyền bảo hộ như một sự trao đổi khi chủ thể đồng ý công bố thông tin tài sản trí tuệ để xã hội khai thác;
  • Học thuyết cân bằng lợi ích và Nguyên tắc bảo đảm cạnh tranh lành mạnh: Bảo đảm sự hài hòa giữa quyền độc quyền của chủ sở hữu và lợi ích tiếp cận của cộng đồng, đồng thời ngăn chặn việc lạm dụng quyền SHTT để hạn chế cạnh tranh bất hợp lý trên thị trường.

Khái niệm tài sản trí tuệ và quyền SHTT trong luận án được tiếp cận theo hướng tài sản vô hình mang tính chất "hàng hóa công cộng" (theo các nghiên cứu của Thomas Jefferson, Joseph Stiglitz, Jerome Reichman, Kamil Idris, Lê Xuân Thảo), có đặc tính phi cạnh tranh (non-rivalrous) và phi loại trừ (non-excludable), dễ bị sao chép và vi phạm trên quy mô lớn.

Luận án đặt ra 3 nhóm câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu:

  • Nhóm 1 (Lý luận): Đặt câu hỏi và kiểm chứng các giả thuyết về nguồn gốc, bản chất pháp lý của quyền SHTT; đặc trưng biện pháp kiểm soát biên giới; tiêu chí nhận diện hàng hóa giả mạo về SHTT; mô hình lý thuyết kiểm soát biên giới của Hải quan.
  • Nhóm 2 (Thực trạng): Đặt câu hỏi và làm rõ sự không thống nhất giữa Luật Hải quan và Luật SHTT; đánh giá kết quả và các hạn chế thực tế trong thực hiện thẩm quyền, biện pháp, quy trình kiểm soát của Hải quan Việt Nam.
  • Nhóm 3 (Định hướng và Giải pháp): Xác định định hướng tương thích cam kết quốc tế (CPTPP, EVFTA) và mô hình Hải quan thông minh; đề xuất kiến nghị sửa đổi pháp luật và các giải pháp nghiệp vụ.

Phương pháp nghiên cứu được triển khai trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm:

  • Phương pháp phân tích, tổng hợp, diễn giải, quy nạp: Sử dụng xuyên suốt các chương để phân tích quy phạm pháp luật và tổng kết thực tiễn;
  • Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu quy định của pháp luật Việt Nam với Hiệp định TRIPs, CPTPP, EVFTA và pháp luật các nước (Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc);
  • Phương pháp sơ đồ hoá, mô hình hoá: Chuẩn hóa 8 sơ đồ về quy trình nghiệp vụ tiếp nhận đơn, kiểm soát trước - trong - sau thông quan, bộ tiêu chí nhận diện và hệ thống hải quan thông minh;
  • Phương pháp khảo sát thực tế và phỏng vấn chuyên gia: Khảo sát số liệu tại Tổng cục Hải quan, Cục Điều tra chống buôn lậu, các Cục Hải quan địa phương trọng điểm (Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hà Nội, TP.HCM, Hải Phòng); phỏng vấn trực tiếp cán bộ lãnh đạo, công chức hải quan chuyên trách và chuyên gia từ Cục Sở hữu trí tuệ, Thanh tra Bộ Khoa học và Công nghệ (sử dụng bộ câu hỏi phỏng vấn tại Phụ lục 7).

Nguồn tư liệu, dữ liệu nghiên cứu bao gồm: các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam; các điều ước quốc tế song phương và đa phương; báo cáo tổng kết và số liệu nghiệp vụ của ngành Hải quan giai đoạn 2014–2021; các vụ việc vi phạm thực tế (Phụ lục 6).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Những vấn đề lý luận về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ tại biên giới thông qua kiểm soát hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về quyền SHTT, bảo vệ quyền SHTT tại biên giới và kiểm soát hàng hóa giả mạo về SHTT. Tác giả phân tích các đặc thù của quyền SHTT gồm: đối tượng vô hình, căn cứ xác lập quyền (phát sinh tự động hoặc qua đăng ký), nội dung quyền tập trung vào độc quyền sử dụng và định đoạt, phạm vi bảo hộ có giới hạn về thời gian và lãnh thổ.

Luận án làm rõ khái niệm hàng hóa giả mạo về SHTT: đây là một dạng hàng giả về hình thức có mức độ xâm phạm quyền và gây nguy hại cao nhất cho chủ thể quyền và người tiêu dùng. Luận án xây dựng các tiêu chí nhận diện hàng hóa giả mạo về SHTT và phân biệt với hàng hóa xâm phạm quyền SHTT thông thường:

Tiêu chí Hàng hóa giả mạo về SHTT Hàng hóa xâm phạm quyền SHTT khác
Dấu hiệu vi phạm Sao chép nguyên vẹn, gắn nhãn hiệu trùng hoặc không thể phân biệt được với nhãn hiệu được bảo hộ; sao chép lậu tác phẩm/bản ghi QTG Sử dụng dấu hiệu tương tự gây nhầm lẫn; xâm phạm sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp
Tính chất hành vi Gian lận có chủ đích đánh lừa xuất xứ, làm giả mạo toàn bộ nhận diện Xung đột quyền, tương tự gây nhầm lẫn hoặc vi phạm phạm vi bảo hộ kỹ thuật
Mức độ xử lý Bị áp dụng các chế tài nghiêm khắc nhất (tịch thu, tiêu hủy bắt buộc, xử lý hình sự) Có thể áp dụng bồi thường thiệt hại dân sự, loại bỏ yếu tố vi phạm để lưu thông

Về mô hình lý thuyết kiểm soát, chương này khẳng định kiểm soát hàng hóa giả mạo về SHTT của Hải quan vừa mang tính chất một biện pháp thực thi pháp luật SHTT, vừa là hoạt động nghiệp vụ quản lý nhà nước về hải quan. Luận điểm cốt lõi là xác lập mô hình kiểm soát bao gồm các nguyên tắc vận hành, nội dung thẩm quyền (theo đơn yêu cầu và thẩm quyền mặc nhiên), biện pháp kiểm soát biên giới (kiểm tra, giám sát, tạm dừng làm thủ tục) và xu hướng mở rộng phạm vi kiểm soát đối với mọi loại hình xuất nhập khẩu.

Chương 2. Thực trạng pháp luật và thực tiễn kiểm soát hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ của Hải quan Việt Nam

Chương 2 phân tích thực trạng pháp luật và đánh giá số liệu thực tiễn hoạt động của Hải quan Việt Nam giai đoạn 2014–2021.

Về thực trạng quy định pháp luật:

  • Thẩm quyền kiểm soát: Luật Hải quan 2014 và Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009, 2019) đã quy định cơ chế kiểm tra, giám sát và tạm dừng làm thủ tục hải quan. Tuy nhiên, thẩm quyền kiểm soát hàng hóa quá cảnh và hàng hóa xuất khẩu giả mạo về SHTT chưa có sự đồng bộ;
  • Thẩm quyền mặc nhiên (ex-officio): Pháp luật Việt Nam chưa trao quyền chủ động đầy đủ cho cơ quan hải quan trong việc tạm dừng làm thủ tục hải quan mà không có đơn yêu cầu từ trước của chủ thể quyền, tạo khoảng cách so với cam kết tại Điều 18.76 Hiệp định CPTPP và Điều 12.60 Hiệp định EVFTA;
  • Quy trình kiểm soát: Quy trình tiếp nhận, xử lý đơn yêu cầu và quy trình kiểm soát hàng hóa giả mạo về SHTT phân chia giữa giai đoạn trong thông quan (Chi cục Hải quan thực hiện) và ngoài thông quan (lực lượng Kiểm soát Hải quan, Cục Điều tra chống buôn lậu thực hiện) còn chồng chéo, thời hạn tạm dừng 10 ngày (gia hạn tối đa 10 ngày) trong một số trường hợp giám định phức tạp là chưa đủ.

Về thực tiễn thi hành giai đoạn 2014–2021:

  • Tiếp nhận và xử lý đơn đăng ký: Số lượng đơn đăng ký kiểm soát hàng hóa XNK về SHTT gửi đến cơ quan hải quan tăng dần qua các năm nhưng tập trung chủ yếu vào nhãn hiệu của các tập đoàn nước ngoài lớn;
  • Kết quả phát hiện, bắt giữ: Luận án phân tích số liệu các vụ việc vi phạm về hàng hóa giả mạo SHTT do lực lượng hải quan phát hiện, thu giữ;
  • Nguồn thông tin phát hiện: Đa số các vụ việc bắt giữ xuất phát từ nguồn tin trinh sát của lực lượng kiểm soát hải quan và thông tin do chủ thể quyền cung cấp; việc phát hiện tự động qua phân tích rủi ro trong hệ thống thông quan điện tử còn tỷ lệ thấp;
  • Công tác phối hợp: Phối hợp liên ngành (Ban Chỉ đạo 389 Quốc gia, Quản lý thị trường, Công an, Thanh tra Khoa học và Công nghệ) và hợp tác quốc tế (WCO, Interpol, Hải quan các nước đối tác) đã triển khai nhưng chia sẻ dữ liệu còn mang tính vụ việc, chưa có hệ thống liên thông trực tuyến.

Hệ thống bảng biểu và sơ đồ tổng hợp trong Chương 2 phản ánh chi tiết các nội dung này:

  • Bảng 1: So sánh đăng ký kiểm soát hàng hoá giả mạo về SHTT tại biên giới Việt Nam và một số nước;
  • Bảng 2: So sánh hoạt động kiểm soát hàng hoá giả mạo về SHTT trong thông quan với kiểm soát ngoài thông quan;
  • Bảng 3: Kết quả tiếp nhận và xử lý Đơn đăng ký kiểm soát hàng hoá XNK về SHTT;
  • Bảng 4: Kết quả phát hiện, bắt giữ các vụ việc vi phạm về hàng hoá giả mạo về SHTT của Hải quan giai đoạn 2014 – 2021;
  • Bảng 5: Số liệu bắt giữ hàng hoá giả mạo về SHTT của Hải quan thống kê theo nguồn phát hiện giai đoạn 2014 – 2021;
  • Bảng 6: Hệ thống thông tin nghiệp vụ về thực thi quyền SHTT của Hải quan;
  • Sơ đồ 1 đến 5: Quy trình tiếp nhận đơn và các quy trình kiểm soát trước thông quan, trong thông quan, sau thông quan và của lực lượng kiểm soát hải quan; Sơ đồ 7: Cơ cấu tổ chức của Hải quan Việt Nam về kiểm soát hàng hoá giả mạo về SHTT.

Chương 3. Định hướng, kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm soát hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ của Hải quan Việt Nam

Chương 3 đưa ra các định hướng, kiến nghị lập pháp và giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi nghiệp vụ:

Định hướng hoàn thiện pháp luật:

  1. Đáp ứng yêu cầu thực thi các cam kết quốc tế trong các FTA thế hệ mới (CPTPP, EVFTA, ACTA);
  2. Phù hợp với thực tiễn chuyển đổi số của ngành Hải quan hướng tới xây dựng mô hình Hải quan thông minh.

Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật:

  • Hoàn thiện thẩm quyền kiểm soát: Bổ sung rõ ràng thẩm quyền của cơ quan hải quan trong việc kiểm soát, xử lý hàng hóa quá cảnh và hàng hóa xuất khẩu giả mạo về SHTT;
  • Quy định chi tiết thẩm quyền mặc nhiên (ex-officio): Cho phép cơ quan hải quan chủ động tạm dừng làm thủ tục hải quan khi có căn cứ nghi ngờ hàng hóa giả mạo về SHTT trong quá trình kiểm tra, giám sát mà không phụ thuộc vào việc đã có đơn yêu cầu từ trước;
  • Hoàn thiện quy trình, thủ tục kiểm soát: Chuẩn hóa thời hạn tạm dừng, thủ tục nộp bảo lãnh tài chính hoặc chứng từ bảo đảm của chủ thể quyền; thống nhất biện pháp chế tài xử lý tang vật vi phạm (tiêu hủy hoặc loại bỏ yếu tố vi phạm không thể phục hồi).

Giải pháp nghiệp vụ nâng cao hiệu quả kiểm soát:

  • Thiết lập Bộ tiêu chí nhận diện hàng hoá giả mạo về SHTT (Sơ đồ 6) gồm 3 nhóm:
Nhóm tiêu chí Nội dung tiêu chí cụ thể
Nhóm tiêu chí về khai hải quan Mặt hàng khai báo chung chung; tên hàng không phù hợp mã số HS; đơn giá khai báo thấp bất thường so với hàng chính hãng; khai sai xuất xứ hoặc tuyến đường vận chuyển vòng vo qua nhiều nước trung chuyển
Nhóm tiêu chí trên hồ sơ hải quan Doanh nghiệp mới thành lập; doanh nghiệp từng có lịch sử vi phạm pháp luật hải quan/SHTT; chứng từ vận tải, hóa đơn thương mại thiếu thông tin ủy quyền chính thức từ chủ sở hữu nhãn hiệu
Nhóm tiêu chí về hàng hoá thực tế Bao bì đóng gói sơ sài, sai quy cách; chất lượng in ấn, màu sắc, phông chữ trên nhãn mác không sắc nét; chất liệu sản phẩm kém chất lượng; thiếu tem phụ hoặc tem chống giả đạt chuẩn
  • Xây dựng Hệ thống thông tin nghiệp vụ về thực thi quyền SHTT của Hải quan: Số hóa toàn bộ cơ sở dữ liệu về đơn đăng ký bảo hộ, mẫu hàng thật - hàng giả, danh bạ chủ thể quyền và lịch sử vi phạm của doanh nghiệp (kết nối trực tiếp với Cục Sở hữu trí tuệ);
  • Ứng dụng mô hình Hải quan thông minh (Sơ đồ 8, Phụ lục 5): Tích hợp thuật toán phân tích rủi ro tự động nhận diện dấu hiệu vi phạm SHTT ngay tại khâu đăng ký tờ khai điện tử;
  • Tăng cường hợp tác và năng lực tổ chức: Kiện toàn tổ chức bộ máy chuyên trách tại Cục Điều tra chống buôn lậu và các Cục Hải quan địa phương; tổ chức các chương trình đào tạo nghiệp vụ phân biệt hàng thật - hàng giả; thiết lập cơ chế phối hợp định kỳ và chia sẻ dữ liệu trực tuyến với chủ thể quyền và các cơ quan hải quan quốc tế.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới về lý luận và thực tiễn:

Về phương diện lý luận:

  • Luận giải hệ thống lý luận về bảo vệ quyền SHTT tại biên giới thông qua kiểm soát hàng hoá giả mạo về SHTT của cơ quan hải quan;
  • Phân tích và chỉ rõ các đặc trưng của biện pháp kiểm soát biên giới so với các biện pháp dân sự, hành chính, hình sự khác;
  • Làm rõ nội hàm khái niệm hàng hoá giả mạo về SHTT, đưa ra các tiêu chí xác định và phân biệt với hàng hoá xâm phạm quyền SHTT thông thường;
  • Xây dựng mô hình lý thuyết kiểm soát hàng hoá giả mạo về SHTT tại biên giới của cơ quan hải quan (nguyên tắc, thẩm quyền, biện pháp, quy trình và xu hướng điều chỉnh pháp luật).

Về phương diện pháp lý và thực tiễn:

  • Phân tích, đánh giá toàn diện các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về kiểm soát biên giới trong tương quan so sánh với các FTA thế hệ mới (CPTPP, EVFTA) và pháp luật các quốc gia phát triển;
  • Làm sáng tỏ thực trạng áp dụng pháp luật của Hải quan Việt Nam giai đoạn 2014–2021 qua các số liệu thống kê, hồ sơ vụ việc thực tế và khảo sát phỏng vấn chuyên gia;
  • Xây dựng hệ thống giải pháp đồng bộ gồm: các kiến nghị lập pháp cụ thể (hoàn thiện thẩm quyền mặc nhiên, xử lý hàng quá cảnh, xuất khẩu); thiết lập Bộ tiêu chí nhận diện hàng hóa giả mạo SHTT 3 nhóm; đề xuất mô hình bài toán nghiệp vụ kiểm soát trong hệ thống Hải quan thông minh.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Phạm vi dữ liệu thực tiễn tập trung trong giai đoạn 2014–2021 (thời kỳ vận hành hệ thống thông quan điện tử VNACCS/VCIS);
  • Khảo sát thực tế chủ yếu thực hiện tại các Cục Hải quan địa phương trọng điểm (Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Quảng Trị, Hà Tĩnh, Tây Ninh, Đồng Nai, Bình Dương);
  • Nghiên cứu so sánh quốc tế tập trung vào một số đối tác chính có trao đổi thương mại và cơ chế hợp tác chặt chẽ với Việt Nam (Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc).

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Đánh giá thực tiễn thi hành Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi năm 2022 và các văn bản hướng dẫn thi hành mới ban hành liên quan đến biện pháp kiểm soát tại biên giới;
  • Nghiên cứu chuyên sâu về các phương thức kiểm soát hàng hóa giả mạo về SHTT trong các giao dịch thương mại điện tử xuyên biên giới và loại hình chuyển phát nhanh, bưu chính quốc tế;
  • Đánh giá hiệu quả thực tế của việc ứng dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI) và dữ liệu lớn (Big Data) trong mô hình Hải quan thông minh để nhận diện hàng giả mạo SHTT.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo đối với nhiều nhóm đối tượng:

  • Đối với cơ quan quản lý và lập pháp: Các kiến nghị tại Chương 3 và Phụ lục 8 là tài liệu tham khảo cho Quốc hội, Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính (Tổng cục Hải quan), Bộ Khoa học và Công nghệ trong việc rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật Hải quan, Luật Sở hữu trí tuệ và các văn bản dưới luật nhằm nội luật hóa đầy đủ các cam kết CPTPP, EVFTA;
  • Đối với lực lượng thực thi Hải quan: Bộ tiêu chí nhận diện hàng hóa giả mạo về SHTT (Sơ đồ 6) và mô hình kiểm soát theo Hải quan thông minh (Phụ lục 5) có thể ứng dụng trực tiếp vào công tác thiết lập tiêu chí quản lý rủi ro và quy trình kiểm tra thực tế hàng hóa tại các Chi cục và lực lượng Kiểm soát Hải quan;
  • Đối với giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học ngành luật: Luận án cung cấp hệ thống tài liệu chuyên khảo về lý luận bảo vệ quyền SHTT tại biên giới, các bảng biểu so sánh luật học quốc tế và nguồn tài liệu tham khảo đa dạng;
  • Đối với các tổ chức đại diện sở hữu công nghiệp và chủ thể quyền: Tài liệu hướng dẫn quy trình, hồ sơ mẫu đăng ký kiểm soát hàng hóa XNK giả mạo về SHTT (Phụ lục 3) giúp các doanh nghiệp nâng cao hiệu quả phối hợp bảo vệ thương hiệu tại biên giới Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án phân biệt hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ với hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ khác dựa trên những đặc điểm cốt lõi nào?
Luận án xác định hàng hóa giả mạo về SHTT là dạng vi phạm nghiêm trọng nhất, đặc trưng bởi hành vi sao chép y nguyên, gắn nhãn hiệu trùng hoặc không thể phân biệt được với nhãn hiệu được bảo hộ, hoặc sao chép lậu toàn bộ tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả nhằm đánh lừa nguồn gốc xuất xứ. Trong khi đó, hàng hóa xâm phạm quyền SHTT khác bao gồm các hành vi sử dụng dấu hiệu tương tự gây nhầm lẫn, hoặc vi phạm các đối tượng sở hữu công nghiệp có tính kỹ thuật (sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp).

2. Thẩm quyền mặc nhiên (ex-officio) của Hải quan theo yêu cầu của các FTA thế hệ mới (CPTPP, EVFTA) khác gì so với quy định pháp luật Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu?
Các FTA thế hệ mới như CPTPP (Điều 18.76) và EVFTA (Điều 12.60) yêu cầu cơ quan hải quan phải có thẩm quyền chủ động phát hiện, tạm dừng làm thủ tục và tiến hành các biện pháp biên giới đối với hàng hóa bị nghi ngờ giả mạo nhãn hiệu hoặc sao lậu bản quyền trên cơ sở phân tích rủi ro mà không bắt buộc phải có đơn yêu cầu từ trước của chủ thể quyền. Trong khi đó, pháp luật Việt Nam giai đoạn nghiên cứu chủ yếu quy định việc tạm dừng làm thủ tục hải quan dựa trên đơn yêu cầu và việc nộp bảo lãnh tài chính của chủ thể quyền, chưa có cơ chế thực thi thẩm quyền mặc nhiên một cách toàn diện và chi tiết.

3. Bộ tiêu chí nhận diện hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ do tác giả đề xuất gồm những nhóm nào?
Tác giả xây dựng bộ tiêu chí nhận diện gồm 3 nhóm chính (thể hiện tại Sơ đồ 6): (1) Nhóm tiêu chí về khai hải quan (tên hàng chung chung, mã HS không tương thích, đơn giá thấp bất thường, lộ trình vận chuyển bất thường); (2) Nhóm tiêu chí trên hồ sơ hải quan (lịch sử vi phạm của doanh nghiệp, thiếu chứng từ chứng minh quyền phân phối/sử dụng nhãn hiệu hợp pháp); (3) Nhóm tiêu chí về hàng hoá thực tế (chất lượng bao bì, độ sắc nét của nhãn mác, chất liệu sản phẩm, tem chống giả).

4. Khung thời gian và phạm vi không gian khảo sát thực tế của luận án được giới hạn như thế nào?
Luận án khảo sát số liệu thực tế trong giai đoạn 2014–2021, thời kỳ ngành Hải quan triển khai hệ thống thông quan điện tử tự động VNACCS/VCIS và Cơ chế một cửa quốc gia. Về không gian, luận án tập trung khảo sát tại các địa bàn hải quan trọng điểm gồm: Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Quảng Ninh, Lạng Sơn, Quảng Trị, Hà Tĩnh, Tây Ninh, Đồng Nai, Bình Dương; kết hợp so sánh quy định với Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Nhật Bản, EU và Trung Quốc.

Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Hứa Thị Hồng là công trình nghiên cứu hệ thống về phương diện pháp lý và nghiệp vụ đối với hoạt động bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ tại biên giới của Hải quan Việt Nam. Tác giả đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận, chỉ rõ các tiêu chí nhận diện hàng hóa giả mạo về SHTT, đồng thời phân tích thực trạng pháp luật và kết quả thực thi của cơ quan hải quan giai đoạn 2014–2021 trong tương quan so sánh với các FTA thế hệ mới. Các kiến nghị sửa đổi pháp luật về thẩm quyền mặc nhiên, kiểm soát hàng quá cảnh, xuất khẩu cùng giải pháp thiết lập Bộ tiêu chí nhận diện và ứng dụng mô hình Hải quan thông minh có giá trị thực tiễn phục vụ công tác hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu lực kiểm soát biên giới tại Việt Nam.