Chương IJ: Khái quát chung về nhãn hiệu hàng hoá 1. Khái niệm nhãn hiệu hang hoá My 1. Khái niệm nhãn hiệu hang hoa 1. Các dấu hiệu cấu thành nhãn hiệu hang hoá I.
Khái niệm bao hộ nhãn hiệu hang hoá 1. Chức nang, vai trò của nhãn hiệu hang hoá trong đời sống xã hộità trong sản xuất kinh doanh Chương II: Xác lập, thực thi quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hoá theo Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ và sự tương thích của pháp luật Việt Nam 2. Tiêu chuẩn bảo hộ 2. Trình tự, thủ tục xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hoá 2.
Quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hoá 2. Các biện pháp bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hoá Chương III: Thuc trang bảo hộ nhãn hiệu hang hoá va một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá 3. Thực trạng bảo hộ nhãn hiệu hoá tại Việt Nam 3. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hoá 3.
Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu hàng hoá CHUONG I KHAI QUAT CHUNG VE BAO HO NHAN HIEU HANG HOA 1.1 Khai niệm nhấn hiệu hang hóa và bdo hộ nhãn hiệu hang hóa 1.1 Khái niệm nhấn hiệu hang hóa Trong lịch sử phát triển nhân loại, nhãn hiệu hàng hóa (NHHH) đã từng được sử dụng để phân biệt nguồn gốc của hàng hóa trong một thời gian dài. Đã có bằng chứng chứng minh rằng 4000 năm về trước thợ thủ công ở Trung Quốc, Ấn Độ và Ba Tư đã sử dụng chữ ký của mình hoặc biểu tượng để phân biệt hàng hóa. Ở La Mã, những người thợ gốm đã sử dụng hơn 100 nhãn hiệu để phân biệt sản phẩm của mình. Các thợ thủ công đã muốn sử dụng nhãn hiệu cho nhiều mục đích khác nhau bao gồm việc quảng cáo cho người sản xuất, hoặc làm bằng chứng cho việc một thương nhân sở hữu sản phẩm khi có tranh chấp xảy ra liên quan đến quyền sở hữu và là sự đảm bảo cho chất lượng sản phẩm [36, 563].
Ngày nay, nhãn hiệu đã phát triển thành dấu hiệu phân biệt sản phẩm do các doanh nghiệp khác nhau sản xuất và trở thành một quyền tài sản lớn trong kinh doanh. Nhìn vào một nhãn hiệu, người tiêu dùng có thể biết và lựa chọn được sản phẩm, dịch vụ có chất lượng hoặc đã từng quen dùng. Nhãn hiệu hàng hóa thể hiện rất rõ uy tín của nhà sản xuất/ cung cấp dịch vụ trên thương trường. Nó đóng góp rất to lớn vào việc chiếm lĩnh thị phần của doanh nghiệp.
Chính vì vậy, việc bảo hộ về mặt pháp lý một cách đầy đủ cho nhãn hiệu hàng hóa cũng phát triển mạnh mẽ, đã, đang và sẽ được các quốc gia quan tâm thích đáng. Ở Việt Nam, ngay sau khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, để bảo hộ quyền SHTT và bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với NHHH nói riêng - chúng ta đã có các văn bản pháp luật quy định về vấn đề này như: Nghị định 175 - TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 3/1/1958 về dang ký nhãn hiệu thương phẩm; Nghị định 197 HĐBT ban hành ngày 14/12/1982 kèm theo điều lệ về NHHH; Điều lệ về mua bán quyền sử dụng về NHHH và bí quyết kỹ thuật ban hành kèm theo Nghị Định số 201/HDBT ngày 28/12/1988; Pháp lệnh bao hộ quyền sở hữu công nghiệp (1990) do Hội đồng Nhà nước công bố. Có thể nói rằng, các văn bản quy phạm pháp luật trên đây - bây giờ xem xét lại tuy có những hạn chế nhưng đã đóng góp đáng kể vào việc xác lập, thực thi quyền sở hữu công nghiệp đối với NHHH ở những thời điểm lịch sử khác nhau, tạo nên một khung pháp lý cho hoạt động này phát triển. Cùng với việc chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, các văn bản pháp luật trên đây đã bộc lộ những điểm bất cập, đòi hỏi phải được thay thế.
Sau 15 năm nghiên cứu, soạn thảo và xây dựng, Bộ luật dân sự của Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được Quốc hội thông qua ngày 28/10/1995 và Chủ tịch nước ký lệnh công bố ngày 9/11/1995. Với sự ra đời của Bộ luật Dân su chúng ta đã có một văn bản quy phạm pháp luật khá đầy đủ và hoàn chỉnh để điều chỉnh các quan hệ pháp luật dân sự, trong đó có NHHH. NHHH là một trong những đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp bởi “quyền sở hữu công nghiệp là quyền sở hữu của cá nhân, pháp nhân đối với sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, NHHH, quyền sử dụng tên gọi xuất xứ hàng hóa và quyền sở hữu đối với các đối tượng khác do pháp luật quy định. Rõ ràng, quyền sở hữu công nghiệp đối với NHHH là một trong những quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân cần phải được pháp luật bao vệ.
Để có thể hiểu một cách thống nhất về NHHH va bảo hộ đây đủ về mặt pháp lý đối với nó, Bộ luật Dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành đã đưa ra khái niệm NHHH, các yếu tố cấu thành NHHH, trình tự, thủ tục xác lập quyền SHCN đối với NHHH. Điều 785 Bo luật Dan sự quy định “NHHH là những dấu hiệu dùng để phan biệt hàng hóa, dịch vụ cùng loại của các cơ sở kinh doanh khác nhau. NHHH có thể là từ ngữ, hình ảnh hoặc sự kết hợp của các yếu tố đó được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc”. Khái niệm NHHH này cũng được đưa ra trên cơ sở tiêu chuẩn bảo hộ và chức nang, mục dich của NHHH- tương tự như quy định của Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPs) và Công ước Paris năm 1883 về bảo hộ sở hữu công nghiệp (Công ước Paris).
Theo khái niệm này, NHHH phải là những dấu hiệu có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ cùng loại của các cơ sở sản xuất kinh doanh khác nhau. Tức là nó phải là những dấu hiệu có chứa đựng thông tin, mang lại cho người tiêu dùng những ấn tượng nhất định giúp họ nhận ra sản phẩm có chất lượng hoặc đã từng quen dùng. Chẳng hạn như “nhãn hiệu Dove là tên của một loài chim, khi được sử dụng làm nhãn hiệu cho xà phòng, gợi ra một loạt ý nghĩa gắn liền với sự yên bình, sự sạch sẽ và tinh khiết. Khi sử dụng tên một loài chim khác cho nhãn hiệu xà phòng như chim sẻ, chim công, đà điểu sẽ gửi tới một thông điệp hoàn toàn khác”[33, I ].
Nếu chỉ dừng ở “những dấu hiệu để phân biệt hàng hóa, dịch vụ cùng loại của các cơ sở sản xuất kinh doanh khác nhau” thì khái niệm này sẽ có tính mở rất rộng lớn, cho phép mọi dấu hiệu chỉ cần “có tính phân biệt” đều có thể được đăng ký làm NHHH. Tuy nhiên Điều 785 Bộ luật Dân sự xác định “NHHH có thé là từ ngữ, hình ảnh hoặc sự kết hợp của các yếu tố đó được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc”. Quy định này có thể hiểu: hoặc là chỉ những dấu hiệu là từ ngữ, hình ảnh hoặc sự kết hợp giữa từ ngữ và hình ảnh mới được đăng ký làm NHHH. Nếu theo cách hiểu này vô hình trung sẽ làm hạn chế rất nhiều tính mở - nếu có - của nội dung thứ nhất của NHHH.
Hoặc là những liệt kê trong luật chỉ có tính chất ví dụ, đưa ra những dấu hiệu điển hình có thể được đăng ký làm NHHH mà không liệt kê đầy đủ và cho phép những dấu hiệu khác cũng có thể được đăng ký bảo hộ NHHH trong thực tế. Nếu theo cách hiểu này sẽ làm rõ hơn tính mở của khái niệm NHHH quy định tại Điều 785. Hiện nay, “các dấu hiệu từ ngữ, hình ảnh và sự kết hợp giữa từ ngữ - hình ảnh là những dấu hiệu được sử dụng phổ biến nhất làm NHHH” [29, 87] cho hàng hóa, dịch vụ cùng loại của các doanh nghiệp ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, trong khi các yếu tố mới mà con người “tri giác” đã được nhiều quốc gia phát triển trên thế giới công nhận có thể đăng ký làm nhãn hiệu hàng hóa như mùi vị, âm thanh thì hiện nay vẫn chưa được quy định trong pháp luật Việt Nam.
Hơn nữa, các chữ số, chữ cái cũng không được coi là những dấu hiệu được bảo hộ làm NHHH do không có khả năng phân biệt vì đơn giản và dễ bị nhầm lẫn. Tuy vậy, trong bối cảnh hội nhập kinh tế, Việt Nam cũng đã thể hiện được tinh thần mới trong các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia mà tiêu biểu là Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ. Theo Hiệp định này, “NHHH được cấu thành bởi dấu hiệu bất kỳ hoặc sự kết hợp bất kỳ của các dấu hiệu có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của một người với hàng hóa hoặc dịch vụ của người khác, bao gồm từ ngữ, tên người, chữ cái, chữ số, tổ hợp màu sắc, các yếu tố hình hoặc hình dạng của bao bì hàng hóa” (Điều 6). Phạm vi các dấu hiệu có thể được đăng ký làm NHHH theo quy định của Hiệp định đã mở rộng hơn rất nhiều, không chỉ dừng lại ở từ ngữ, hình ảnh mà còn có thể là các chữ số hoặc tổ hợp màu sắc.
Hơn nữa, Hiệp định cũng quy định rõ NHHH sẽ bao gồm cả nhãn hiệu dịch vụ, nhãn hiệu tập thé và nhãn hiệu chứng nhận (Điều 6), trong khi theo quy định tại Điều 785 Bộ luât Dân sự - khi đề cập đến NHHH, không chỉ rõ có bao gồm nhãn hiệu dịch vụ hay không và vấn đề này chỉ được quy định tại Điều 2.7 Nghị định 63/CP ban hành ngày 24/10/1996. Khái niệm NHHH này đã thể hiện được tinh thần của Hiệp định TRIPs. TRIPs chính là điều ước quốc tế đầu tiên đưa ra khái nệm NHHH trong khi các điều ước quốc tế được ký kết trước đó như Công ước Paris (1883) hay Thỏa ước Madrid (1891) không có quy định về vấn đề này mà chỉ quy định về vấn đề bảo hộ các đối tượng sở hữu công nghiệp hoặc thiết lập hệ thống quốc tế về đăng ký bảo hộ NHHH.