Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong nền kinh tế thị trường và tiến trình hội nhập quốc tế, các quan hệ giao thương hàng hóa tại Việt Nam không ngừng mở rộng, kéo theo sự đa dạng của các phương thức mua bán, đặc biệt là hình thức mua bán trả chậm, trả dần. Nhằm cạnh tranh và kích cầu tiêu dùng, bên bán thường giao tài sản cho bên mua sử dụng trước khi nhận đủ tiền thanh toán, dẫn đến rủi ro bị chiếm dụng vốn hoặc mất khả năng thu hồi tài sản nếu bên mua vi phạm nghĩa vụ. Để khắc phục rủi ro này, Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 đã nâng bảo lưu quyền sở hữu (BLQSH) từ một điều khoản thỏa thuận trong hợp đồng mua bán trả chậm, trả dần (như tại BLDS năm 1995 và BLDS năm 2005) thành một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ độc lập, phù hợp với xu thế của pháp luật hiện đại (như Mục 2-401 Phần 4 Điều 2 Bộ luật Thương mại thống nhất Hoa Kỳ - UCC).

Tuy nhiên, qua thực tiễn thi hành BLDS năm 2015, chế định BLQSH bộc lộ nhiều bất cập:

  • Pháp luật thiếu định nghĩa quy chuẩn về BLQSH, dẫn tới nhiều cách hiểu trái chiều về việc BLQSH là quyền luật định của bên bán hay là biện pháp bảo đảm hình thành theo thỏa thuận;
  • Tồn tại mâu thuẫn giữa quy định tại Khoản 2 Điều 331 (BLQSH phát sinh khi có thỏa thuận thành văn bản) và Khoản 1 Điều 453 BLDS năm 2015 (BLQSH phát sinh mặc nhiên khi bên mua trả chậm, trả dần mà không cần thỏa thuận);
  • Chưa làm rõ đối tượng của BLQSH là tài sản mua bán, quyền sở hữu hay một dạng vật quyền đối kháng;
  • Quy định hình thức văn bản còn khoảng trống (yêu cầu chữ ký của các bên, công chứng, chứng thực); chưa phân loại tài sản để xử lý đối với vật tiêu hao, vật đặc định;
  • Biện pháp chế tài duy nhất là đòi lại tài sản theo Điều 166 và Điều 332 BLDS năm 2015 mang bản chất bảo vệ quyền sở hữu thuần túy, chưa phản ánh đúng chức năng bảo đảm thu hồi nợ của giao dịch bảo đảm.

Khóa luận xác định 03 nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Tìm hiểu, phân tích và làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về biện pháp BLQSH (khái niệm, đặc điểm, đối tượng, hình thức, thủ tục đăng ký); so sánh, đối chiếu BLQSH với các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự bằng tài sản khác;
  2. Phân tích, đánh giá thực trạng quy định của BLDS năm 2015 và thực tiễn triển khai áp dụng biện pháp BLQSH; chỉ ra kết quả đạt được cùng những bất cập, vướng mắc pháp lý;
  3. Đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp BLQSH trong thực tiễn.
  • Đối tượng nghiên cứu: Các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về BLQSH với tư cách là một trong 09 biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Không gian: Lãnh thổ Việt Nam (có đối chiếu có chọn lọc với pháp luật Hoa Kỳ, Pháp, Anh);
    • Thời gian: Tập trung khảo cứu thực tiễn thi hành quy định pháp luật trong giai đoạn 05 năm kể từ khi BLDS năm 2015 có hiệu lực (2017 - 2022) và số liệu đăng ký giao dịch bảo đảm giai đoạn 2019 - 2021.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng lập luận dựa trên nền tảng lý luận về vật quyền (quyền đối vật: chiếm hữu, sử dụng, định đoạt), quyền sở hữu, bản chất của quyền đòi nợ đặc biệt trong hợp đồng mua bán tài sản, và nguyên tắc chịu rủi ro đối với tài sản (Res perit domino). Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và án lệ được sử dụng gồm:

  • Bộ luật Dân sự các năm 1995, 2005 và 2015;
  • Nghị định số 21/2021/NĐ-CP quy định thi hành BLDS về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ;
  • Nghị định số 99/2022/NĐ-CP về đăng ký biện pháp bảo đảm;
  • Thông tư số 08/2018/TT-BTP và Thông tư số 06/2020/TT-BTP của Bộ Tư pháp;
  • Luật Giao dịch điện tử năm 2005, Luật Thương mại năm 2005, Luật Điều ước quốc tế năm 2016, Công ước Viên năm 1969 về Luật Điều ước quốc tế;
  • Nguồn tham chiếu quốc tế: Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp (Điều 1138), Luật Mua bán hàng hóa Vương quốc Anh năm 1979 (Điều 20), Bộ luật Thương mại thống nhất Hoa Kỳ (UCC).

Khóa luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành luật học:

  • Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử: Đặt các quy định pháp luật trong sự vận động khách quan của nền kinh tế thị trường;
  • Phương pháp thu thập thông tin: Khảo cứu tài liệu thứ cấp, giáo trình, sách chuyên khảo, bài viết tạp chí khoa học pháp lý, luận văn thạc sĩ và số liệu thống kê thực tế;
  • Phương pháp phân tích, đánh giá và tổng hợp: Bóc tách các điều luật trong BLDS năm 2015 để nhận định các lỗ hổng lập pháp;
  • Phương pháp so sánh, đối chiếu: Làm rõ nét đặc thù giữa BLQSH với 07 biện pháp bảo đảm bằng tài sản khác (cầm cố, thế chấp, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lãnh, cầm giữ) và đối chiếu với pháp luật nước ngoài;
  • Phương pháp chứng minh: Sử dụng các quy phạm pháp luật thực định, ví dụ thực tế và số liệu đăng ký giao dịch bảo đảm từ Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm.

Nguồn dữ liệu thực tế gồm các công trình chuyên khảo của PGS.TS. Đỗ Văn Đại, TS. Trương Thanh Đức, PGS. Nguyễn Văn Cừ, PGS.TS. Trần Thị Huệ, TS. Đinh Trung Tụng, PGS.TS. Dương Anh Sơn, TS. Đoàn Thị Phương Diệp, TS. Trịnh Thục Hiền; báo cáo của Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm (Báo cáo số 185/BC-CĐKGDBĐ năm 2019) và các số liệu đăng ký tài sản giai đoạn 2019 - 2021.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Khái quát chung về bảo lưu quyền sở hữu

Chương này tập trung xây dựng nền tảng lý luận về BLQSH trong khoa học pháp lý dân sự.

  • Khái niệm và thuật ngữ: Tác giả chỉ ra hạn chế của BLDS năm 2015 khi sử dụng thuật ngữ "bên bán - bên mua" thay vì "bên bảo đảm - bên nhận bảo đảm" như các biện pháp bảo đảm khác. Từ đó, đưa ra định nghĩa: BLQSH là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, theo đó các bên trong hợp đồng mua bán tài sản thỏa thuận về việc bên nhận bảo lưu (bên bán) được quyền giữ lại quyền định đoạt đối với tài sản cho đến khi bên bảo lưu (bên mua) thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán.
  • Đặc điểm pháp lý: BLQSH mang tính thỏa thuận tự nguyện; mục đích bảo đảm cho quyền đòi nợ trên giá bán tài sản; không tồn tại độc lập mà gắn liền với hợp đồng mua bán; tài sản bảo đảm không thuộc sở hữu của bên bảo đảm (bên có nghĩa vụ) mà thuộc sở hữu của bên nhận bảo lưu.
  • Đối tượng của BLQSH: Phân tích 03 quan điểm học thuật và khẳng định: Đối tượng của BLQSH không phải là bản thân tài sản hay toàn bộ quyền sở hữu (vì quyền chiếm hữu, sử dụng đã được chuyển giao cho bên mua), mà chính là quyền định đoạt (vật quyền) được thực hiện qua hoạt động đối kháng quyền giữa hai bên. Khóa luận lưu ý BLQSH không áp dụng đối với vật tiêu hao vì tính chất tự nhiên của tài sản sẽ bị biến đổi hoặc triệt tiêu sau khi sử dụng, làm mất khả năng hoàn trả nguyên trạng.
  • Hình thức và thủ tục đăng ký: BLQSH bắt buộc phải xác lập bằng văn bản (văn bản giấy truyền thống hoặc hợp đồng điện tử theo Điều 119 BLDS năm 2015). Thủ tục đăng ký biện pháp bảo đảm được thực hiện theo yêu cầu (không bắt buộc) tại các cơ quan thẩm quyền theo Nghị định số 99/2022/NĐ-CP (Cục Hàng không Việt Nam, Cơ quan đăng ký tàu biển, Văn phòng đăng ký đất đai, Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản).
Tiêu chí so sánh Bảo lưu quyền sở hữu (BLQSH) Các biện pháp bảo đảm bằng tài sản khác (Cầm cố, thế chấp, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, cầm giữ)
Phạm vi áp dụng Giới hạn duy nhất trong hợp đồng mua bán tài sản (Khoản 1 Điều 331 BLDS). Áp dụng rộng rãi cho nhiều loại hợp đồng, nghĩa vụ dân sự khác nhau.
Chủ sở hữu tài sản bảo đảm Thuộc sở hữu của bên nhận bảo đảm (bên bán). Thuộc sở hữu của bên bảo đảm (trừ biện pháp cầm giữ tài sản).
Quyền khi có vi phạm nghĩa vụ Bên bán chỉ có quyền đòi lại tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại (Điều 332 BLDS). Bên nhận bảo đảm có quyền xử lý tài sản bảo đảm để khấu trừ trực tiếp vào nghĩa vụ vi phạm.
Cơ chế xử lý tài sản Không áp dụng các phương thức xử lý tài sản như bán đấu giá, nhận chính tài sản để thay thế nghĩa vụ; bên bán thu hồi tài sản và hoàn trả tiền cho bên mua. Áp dụng các phương thức luật định: bán đấu giá, tự bán tài sản, nhận chính tài sản để cấn trừ nghĩa vụ.
Phạm vi bảo đảm Giới hạn theo luật định: chỉ bảo đảm cho nghĩa vụ thanh toán tiền mua tài sản còn lại. Xác định theo thỏa thuận hoặc luật định (toàn bộ nghĩa vụ, bao gồm lãi, phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại).

Chương 2: Thực trạng quy định của pháp luật Việt Nam về bảo lưu quyền sở hữu

Chương 2 đi sâu phân tích từng điều luật thực định (Điều 331 đến Điều 334 BLDS năm 2015) và chỉ ra các vướng mắc:

  • Chủ thể: Việc duy trì tên gọi "bên bán - bên mua" làm mờ nhạt tư cách pháp lý của bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm.
  • Hiệu lực và hiệu lực đối kháng: BLQSH phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm đăng ký (Khoản 2 Điều 297, Điều 308). Tuy nhiên, khi bên mua chuyển nhượng tài sản cho bên thứ ba (qua chuỗi giao dịch H $\rightarrow$ K $\rightarrow$ B), quyền truy đòi tài sản của bên bán gặp trở ngại lớn, đặc biệt khi tài sản đã bị sáp nhập, pha trộn hoặc chế biến thành tài sản mới. Khóa luận khuyến nghị tham khảo kinh nghiệm BLDS Pháp: cho phép bên nhận bảo lưu thu hồi chính khoản tiền mà người thứ ba chưa trả cho bên bảo lưu thay vì cố truy đòi hiện vật.
  • Quyền và nghĩa vụ của các bên:
    • Điều 332 (Quyền đòi lại tài sản của bên bán): Bất cập về tên gọi (điều luật quy định cả nghĩa vụ hoàn trả tiền nhưng tiêu đề chỉ ghi "quyền"); thiếu tính logic khi đan xen quyền và nghĩa vụ; quy định cứng nhắc nghĩa vụ hoàn trả tiền trừ hao mòn làm triệt tiêu nguyên tắc tự do thỏa thuận (Khoản 3 Điều 3 BLDS); thiếu cơ chế cho bên bán bán tài sản để thu hồi nợ.
    • Điều 333 & Điều 453 (Quyền và nghĩa vụ của bên mua): Quy định bên mua phải chịu rủi ro đối với tài sản từ thời điểm nhận tài sản (dù chưa có quyền sở hữu) là điểm đặc thù, phá vỡ nguyên tắc Res perit domino truyền thống của Pháp để bảo vệ bên bán và nâng cao trách nhiệm quản lý tài sản của bên mua.
  • Căn cứ chấm dứt BLQSH (Điều 334): Pháp luật quy định 03 trường hợp: (1) Nghĩa vụ thanh toán được thực hiện xong; (2) Bên bán nhận lại tài sản; (3) Theo thỏa thuận. Khóa luận bổ sung 02 trường hợp thực tế cần được luật hóa: tài sản không còn (tiêu hủy, mất mát) và các bên thỏa thuận thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác.
  • Đánh giá tổng thể: BLDS năm 2015 đạt được 04 kết quả (nâng tầm biện pháp độc lập, mở rộng phạm vi áp dụng cho hợp đồng mua bán nói chung, chuẩn hóa hình thức văn bản, đa dạng hóa công cụ bảo đảm), nhưng còn 02 hạn chế lớn: thiếu định nghĩa chuẩn tắc và mâu thuẫn giao thoa giữa Điều 331 với Điều 453.

Chương 3: Thực tiễn thực hiện quy định của Bộ luật Dân sự về bảo lưu quyền sở hữu và đề xuất một số kiến nghị, giải pháp

  • Thực trạng triển khai: Khóa luận dẫn chứng số liệu đăng ký giao dịch bảo đảm bằng động sản tại Trung tâm Đăng ký giai đoạn 2019 - 2021 để chứng minh: tỷ lệ hợp đồng mua bán có yêu cầu đăng ký BLQSH đối với động sản (không phải tàu bay, tàu biển, chứng khoán) chiếm số lượng rất khiêm tốn so với thế chấp hay cầm cố do các bên e ngại thủ tục và tính khả thi khi thu hồi tài sản.
  • Nhóm kiến nghị hoàn thiện pháp luật:
    1. Luật hóa định nghĩa BLQSH tại Điều 331: Thay thế cụm từ "bên bán", "bên mua" bằng "bên nhận bảo đảm" và "bên bảo đảm".
    2. Giải quyết xung đột giữa Điều 331 và Điều 453: Bỏ quy định mặc nhiên BLQSH tại Điều 453, thống nhất quy tắc BLQSH chỉ phát sinh khi có thỏa thuận thành văn bản riêng hoặc ghi nhận cụ thể trong hợp đồng mua bán.
    3. Tái cấu trúc Điều 332: Đổi tên điều luật thành "Quyền và nghĩa vụ của bên bán tài sản"; chia tách rõ ràng các khoản về quyền đòi lại tài sản, quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ hoàn trả; bổ sung cụm từ "trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác"; quy định cơ chế bù trừ nợ rõ ràng giữa giá trị tài sản lúc bán, giá trị hao mòn và số tiền đã thanh toán.
    4. Bổ sung quyền xử lý tài sản: Cho phép bên nhận bảo lưu có quyền bán tài sản thu hồi nợ thay vì chỉ có quyền đòi lại tài sản đơn thuần.
    5. Bổ sung quy định về tài sản sau chế biến, sáp nhập và quyền đối với khoản tiền thu từ người thứ ba: Học tập quy định của BLDS Pháp để bảo vệ quyền lợi bên bán khi hàng hóa bị hòa lẫn, gia công.
  • Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi: Đẩy mạnh số hóa dịch vụ đăng ký trực tuyến theo Nghị định số 99/2022/NĐ-CP; tập huấn chuyên môn cho cán bộ đăng ký; tuyên truyền, phổ biến pháp luật nhằm thay đổi thói quen xác lập hợp đồng của các doanh nghiệp và thương nhân.

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả nghiên cứu: Luận giải tường minh bản chất vật quyền của BLQSH dưới góc độ phân quyền định đoạt; chứng minh sự thiếu nhất quán giữa chế định hợp đồng (Điều 453) và chế định bảo đảm thực hiện nghĩa vụ (Điều 331); hệ thống hóa thực trạng áp dụng đăng ký biện pháp bảo đảm qua số liệu thực tế giai đoạn 2019 - 2021.
  • Đề xuất hoàn thiện: Đưa ra mô hình sửa đổi chi tiết đối với Điều 331 và Điều 332 BLDS năm 2015; kiến nghị cơ chế giải quyết xung đột lợi ích giữa bên nhận bảo lưu và người thứ ba ngay tình; đề xuất loại trừ hợp đồng mua bán vật tiêu hao ra khỏi phạm vi áp dụng BLQSH.
  • Đóng góp học thuật: Khóa luận là công trình nghiên cứu chuyên sâu, tiếp cận toàn diện chế định BLQSH sau khi Nghị định số 21/2021/NĐ-CP và Nghị định số 99/2022/NĐ-CP được ban hành, bổ sung tài liệu tham khảo cho hoạt động lập pháp và nghiên cứu pháp luật dân sự.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi nghiên cứu thực tiễn bị giới hạn trong khung thời gian 05 năm (2017 - 2022) từ khi BLDS năm 2015 có hiệu lực; dữ liệu án lệ tranh chấp về BLQSH chưa thực sự phong phú do biện pháp này trên thực tế còn ít được các bên lựa chọn đăng ký.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu cơ chế giải quyết xung đột quyền lợi đối với tài sản bảo lưu quyền sở hữu bị pha trộn, sáp nhập trong lĩnh vực xây dựng, chế biến công nghiệp; nghiên cứu chuyên sâu về đăng ký tài sản trực tuyến và đối chiếu mở rộng với pháp luật các quốc gia thuộc hệ thống Common Law.

Giá trị tham khảo

Tài liệu có giá trị tham khảo thiết thực cho:

  • Người học và giảng viên ngành Luật (chuyên ngành Luật Dân sự, Luật Kinh tế): Cung cấp hệ thống lý luận hoàn chỉnh, bảng so sánh chi tiết giữa BLQSH và 07 biện pháp bảo đảm bằng tài sản khác (Mục 1.5);
  • Cơ quan lập pháp và cơ quan tư pháp (Thẩm phán, Kiểm sát viên, Cán bộ đăng ký giao dịch bảo đảm): Tham khảo các luận cứ sửa đổi Điều 331, Điều 332 BLDS năm 2015 và các giải pháp tháo gỡ vướng mắc khi xử lý tài sản tranh chấp;
  • Cộng đồng doanh nghiệp, luật sư tư vấn hợp đồng: Hướng dẫn kỹ thuật soạn thảo điều khoản BLQSH, quy trình đăng ký giao dịch bảo đảm theo Nghị định số 99/2022/NĐ-CP nhằm phòng ngừa rủi ro thu hồi vốn trong mua bán hàng hóa trả chậm, trả dần.

Câu hỏi thường gặp

1. Đối tượng của biện pháp bảo lưu quyền sở hữu được tác giả xác định là gì?
Tác giả khẳng định đối tượng của BLQSH không phải là bản thân tài sản hay toàn bộ quyền sở hữu, mà là vật quyền (cụ thể là quyền định đoạt) được duy trì thông qua hoạt động đối kháng quyền giữa bên nhận bảo lưu và bên bảo lưu nhằm buộc bên mua hoàn thành nghĩa vụ thanh toán.

2. Mâu thuẫn pháp lý cơ bản giữa Điều 331 và Điều 453 BLDS năm 2015 là gì?
Khoản 2 Điều 331 quy định BLQSH chỉ phát sinh khi có sự thỏa thuận xác lập bằng văn bản riêng hoặc ghi nhận trong hợp đồng mua bán; trong khi Khoản 1 Điều 453 lại quy định BLQSH phát sinh mặc nhiên cho bên bán trong mọi hợp đồng mua bán trả chậm, trả dần mà không cần điều kiện thỏa thuận.

3. Vì sao tác giả cho rằng BLQSH không thể áp dụng đối với hợp đồng mua bán vật tiêu hao?
Vì vật tiêu hao sau khi bên mua chiếm hữu, sử dụng sẽ bị biến đổi hoặc mất đi tính năng, hình dạng ban đầu. Khi bên mua vi phạm nghĩa vụ, bên bán không thể thực hiện quyền đòi lại đúng tài sản ban đầu theo nguyên trạng mà buộc phải nhận tài sản cùng loại hoặc tiền thay thế, làm mất đi bản chất của BLQSH.

4. Tác giả đề xuất sửa đổi cấu trúc và nội dung Điều 332 BLDS năm 2015 như thế nào?
Đổi tên điều luật thành "Quyền và nghĩa vụ của bên bán tài sản"; phân tách rõ ràng quyền đòi lại tài sản, quyền yêu cầu bồi thường và nghĩa vụ hoàn trả; bổ sung cụm từ "trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác" và bổ sung quy định tính toán bù trừ chênh lệch giữa giá bán, giá trị hao mòn và khoản tiền bên mua đã trả.

5. Quy định chuyển giao rủi ro trong BLQSH theo BLDS năm 2015 có điểm gì khác biệt so với nguyên tắc truyền thống của pháp luật Pháp?
Theo Điều 1138 BLDS Pháp, rủi ro thuộc về chủ sở hữu (Res perit domino - bên bán chịu rủi ro). Ngược lại, Điều 333 và Điều 441 BLDS năm 2015 chuyển giao toàn bộ rủi ro về tài sản sang cho bên mua kể từ thời điểm nhận tài sản, dù quyền sở hữu vẫn thuộc về bên bán.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Thúy Hiền đã phân tích toàn diện các phương diện lý luận và thực tiễn của chế định bảo lưu quyền sở hữu theo BLDS năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Nghiên cứu chỉ rõ các khoảng trống pháp lý, sự xung đột điều luật và những trở ngại khi áp dụng biện pháp này trong thực tiễn thương mại. Các luận điểm sửa đổi luật thực định và giải pháp nâng cao hiệu quả đăng ký giao dịch bảo đảm được đề xuất có giá trị tham khảo khoa học và thực tiễn cao cho công tác hoàn thiện pháp luật dân sự Việt Nam.