Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan đối với chương trình truyền hình" được tác giả Nguyễn Phan Diệu Linh thực hiện tại Trường Đại học Luật Hà Nội (Bộ Giáo dục và Đào tạo - Bộ Tư pháp) năm 2023, thuộc chuyên ngành Luật Dân sự và tố tụng dân sự (mã số: 93.103), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Vũ Thị Hải Yến và PGS. Trần Văn Hải.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả trình bày rằng truyền hình đã trở thành một ngành công nghiệp phát triển với vai trò cung cấp thông tin, giải trí và kết nối công chúng. Hoạt động cấp phép định dạng chương trình truyền hình (TV show formats) tạo ra nguồn doanh thu lớn trên phạm vi toàn cầu. Tại Việt Nam, kể từ chương trình đầu tiên phát sóng trên vô tuyến truyền hình năm 1973 đến nay, nhiều chương trình đã được tiếp nhận và Việt hóa như "Chiếc nón kỳ diệu", "Ai là triệu phú?". Theo số liệu từ C21media.net được dẫn lại bởi tác giả Lan Anh (2017), Việt Nam là quốc gia nhập khẩu chương trình nhiều nhất khu vực châu Á trong thể loại game show, với tần suất phát sóng đạt 70 chương trình mỗi ngày và thời lượng trung bình 53 phút.

Tuy nhiên, công tác bảo hộ quyền tác giả (QTG), quyền liên quan (QLQ) đối với chương trình truyền hình (CTTH) tại Việt Nam đang đứng trước sáu thách thức lớn:

  1. Sự xuất hiện của các phương thức truyền hình mới trên nền tảng công nghệ thông tin và Internet (truyền hình Internet, Analog, Cable, Vệ tinh, OTT) làm thay đổi cách thức tiếp cận và phân phối.
  2. Lĩnh vực truyền hình có tính chất phức tạp với sự tham gia của nhiều chủ thể (tác giả, chủ sở hữu QTG, người biểu diễn, chủ sở hữu cuộc biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm/ghi hình, tổ chức phát sóng), trong khi cơ sở pháp lý để giải quyết tranh chấp và điều hòa lợi ích chưa hoàn thiện.
  3. Yêu cầu nội luật hóa các chuẩn mực quốc tế mới từ các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP, EVFTA trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0.
  4. Các hành vi xâm phạm bản quyền truyền hình diễn ra với quy mô lớn, thủ đoạn tinh vi (sao chép, phát tán trên Internet; đài truyền hình địa phương thu lại chương trình phát sóng của đài quốc gia để thu tiền quảng cáo làm giảm rating; tiếp sóng không trả phí trên hệ thống PAYTV).
  5. Tỷ lệ người dân sử dụng Internet cao nhưng nhận thức bản quyền còn hạn chế, thường dùng công cụ kỹ thuật vô hiệu hóa các biện pháp công nghệ bảo vệ.
  6. Pháp luật sở hữu trí tuệ (SHTT) chưa dự liệu hết các mối quan hệ đa tầng trong lĩnh vực truyền hình, nhiều quy định còn thiếu cụ thể.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: Cho đến thời điểm đề tài được triển khai, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách toàn diện và chuyên sâu dưới cả góc độ lý luận, pháp lý thực định và thực tiễn thi hành về bảo hộ QTG, QLQ đối với CTTH tại Việt Nam.

Mục đích nghiên cứu: Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo hộ QTG, QLQ đối với CTTH; trên cơ sở đó đề xuất các định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam.

Nhiệm vụ nghiên cứu (gồm 4 nhiệm vụ được đánh số theo văn bản):

  • Thứ nhất: Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về các vấn đề liên quan đến bảo hộ QTG, QLQ đối với CTTH nhằm xác định các nội dung khoa học mới cần triển khai.
  • Thứ hai: Nghiên cứu hệ thống các vấn đề lý luận về bảo hộ QTG, QLQ đối với CTTH, làm rõ khái niệm, đặc trưng của CTTH cũng như khái niệm, đặc điểm của việc bảo hộ QTG, QLQ đối với đối tượng này.
  • Thứ ba: Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật trong bảo hộ QTG, QLQ đối với CTTH tại Việt Nam, nhận diện những vướng mắc và hạn chế cần xử lý.
  • Thứ tư: Đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về bảo hộ QTG, QLQ đối với CTTH ở Việt Nam nhằm đáp ứng thực tiễn và bảo đảm tính tương thích quốc tế.

Hệ thống câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu:

  • Về lý luận:
    • Câu hỏi nghiên cứu 1: CTTH là gì? CTTH có phải là một đối tượng bảo hộ của QTG hay QLQ không? CTTH có những đặc trưng gì ảnh hưởng đến việc xây dựng quy chế pháp lý về bảo hộ QTG, QLQ đối với CTTH?
    • Giả thuyết nghiên cứu 1: CTTH là sản phẩm sáng tạo bao gồm tập hợp nhiều tác phẩm gắn kết dựa trên một ý tưởng sáng tạo chủ đạo xuyên suốt. CTTH không chỉ là một tác phẩm chung được bảo hộ mà trong đó còn có những tác phẩm cấu thành có thể được bảo hộ độc lập QTG hoặc những đối tượng được bảo hộ QLQ. CTTH mang những đặc trưng riêng về đối tượng bảo hộ, chủ thể sáng tạo và đầu tư.
    • Câu hỏi nghiên cứu 2: Bảo hộ QTG, QLQ đối với CTTH mang những đặc trưng gì?
    • Giả thuyết nghiên cứu 2: Bảo hộ QTG, QLQ đối với CTTH mang các đặc trưng riêng về: (i) đối tượng bảo hộ liên kết đa tầng; (ii) tính đa chủ thể tham gia sáng tạo và đầu tư; (iii) yêu cầu xác lập ngoại lệ, giới hạn quyền nhằm cân bằng lợi ích kinh tế với quyền tiếp cận văn hóa - thông tin của công chúng; (iv) tính phức tạp trong việc xác định hành vi xâm phạm quyền nhân thân và tài sản trong môi trường số.
  • Về thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật:
    • Câu hỏi nghiên cứu 3: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về bảo hộ QTG, QLQ đối với CTTH ở Việt Nam ra sao? Có những vướng mắc, bất cập gì?
    • Giả thuyết nghiên cứu 3: Quy định pháp luật hiện hành còn nhiều điểm chưa tương thích và thiếu cụ thể; việc thực thi còn hạn chế về số lượng vụ việc và hiệu quả xử lý; cần đánh giá đối chiếu với điều ước quốc tế và phân tích vụ việc thực tế để tạo cơ sở hoàn thiện.
  • Về định hướng và giải pháp:
    • Câu hỏi nghiên cứu 4: Định hướng hoàn thiện pháp luật về bảo hộ QTG, QLQ ở Việt Nam hiện nay thế nào? Cần tập trung vào các nhóm giải pháp nào nhằm nâng cao hiệu quả bảo hộ QTG, QLQ đối với CTTH ở Việt Nam hiện nay?
    • Giả thuyết nghiên cứu 4: Việc hoàn thiện phải bảo đảm tính đồng bộ, tương thích, khả thi và hiệu quả, kết hợp đồng thời việc sửa đổi quy phạm nội dung, quy phạm hình thức với các giải pháp nâng cao năng lực khai thác và giải quyết tranh chấp.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Cơ sở lý luận, quy định pháp luật và thực tiễn về bảo hộ QTG, QLQ đối với CTTH, bao gồm: lý luận về CTTH với tư cách đối tượng bảo hộ; pháp luật Việt Nam cùng các điều ước quốc tế liên quan; thực tiễn thực hiện pháp luật tại Việt Nam.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Về nội dung: Tập trung vào các quy định của Luật SHTT và các văn bản hướng dẫn thi hành liên quan trực tiếp đến QTG, QLQ đối với CTTH.
    • Về không gian: Tập trung nghiên cứu tại Việt Nam, có mở rộng so sánh, đối chiếu với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
    • Về thời gian: Khảo cứu các quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật hiện hành tại thời điểm thực hiện luận án (năm 2023).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tình hình nghiên cứu được tác giả phân chia thành hai nhóm công trình chính:

Nhóm công trình Tác giả, công trình và năm công bố Nội dung chính và giá trị tham chiếu
1. Nhóm nghiên cứu về chương trình truyền hình và hoạt động truyền hình - Dương Xuân Sơn (2011), Giáo trình báo chí truyền hình, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.
- Trần Bảo Khánh (2003), Sản xuất chương trình truyền hình, NXB Văn hoá Thông tin.
Tiếp cận CTTH dưới góc độ khoa học báo chí, truyền thông: phân tích lịch sử, quy trình sản xuất, công nghệ phân phối, đặc tính thời sự và chức năng tuyên truyền. Tuy nhiên, các công trình này chưa đi sâu nghiên cứu CTTH dưới góc độ khoa học pháp lý và đối tượng của quyền SHTT.
2. Nhóm nghiên cứu về bảo hộ QTG, QLQ đối với CTTH Tài liệu quốc tế:
- Ploman & Clark Hamilton (1980), Copyright: Intellectual Property in the Information Age.
- Ronan Deazley (2006), Rethinking copyright: history, theory, language.
- Peter Drahos (1996, 2016), A Philosophy of Intellectual Property.
- William M. Posner (2003), The Economic Structure of Intellectual Property.
- Neta-li E. Gottlieb (2010), Free to Air? Legal Protection for TV Program Formats.
- Sukhpreet Singh (2010), The Protection of Television Formats: Intellectual Property & Market based Strategies.
- Báo cáo của Hiệp hội FRAPA hợp tác với WIPO.

Tài liệu trong nước:
- Nguyễn Thị Quế Anh (2010), bài viết về bảo hộ QTG, QLQ trong xuất bản, bản ghi âm ghi hình.
- Nguyễn Văn Giang (2010), bài viết về bảo vệ QTG, QLQ trong lĩnh vực truyền hình.
- Các luận văn thạc sĩ: Nguyễn Thị Mỹ Hạnh (2018), Nguyễn Văn Bình (2018), Nguyễn Minh Hải (2016), Trần Thị Thùy Dương (2016), Lê Thị Lộc (2019).
- Nghiên cứu quốc tế làm rõ nền tảng triết học, kinh tế học của SHTT, các khía cạnh bảo hộ định dạng chương trình (format) và cơ chế phòng chống vi phạm xuyên biên giới.
- Nghiên cứu trong nước phân tích các vụ tranh chấp thực tế (như tranh chấp giữa RIAV với ca sĩ Mỹ Tâm, RIAV với NOKIA và FPT Online), thực tiễn bảo vệ quyền dưới tư cách tổ chức phát sóng của Đài Truyền hình Việt Nam, hoặc bảo hộ các đối tượng đơn lẻ như âm nhạc, báo chí trên môi trường Internet.

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết: Qua việc điểm luận các tài liệu nêu trên, tác giả chỉ rõ các nghiên cứu hiện hữu chỉ phân tích QTG, QLQ nói chung hoặc giới hạn ở các đối tượng riêng biệt (tác phẩm âm nhạc, tác phẩm báo chí, bản ghi âm ghi hình). Các kết quả nghiên cứu liên quan đến truyền hình mới dừng lại ở quy mô bài báo hội thảo và tiếp cận đơn tuyến từ góc độ của tổ chức phát sóng. Chưa có công trình nào giải quyết tổng thể vị trí pháp lý của CTTH, mối quan hệ giữa các chủ thể cùng tham gia quy trình sáng tạo - sản xuất - phát sóng, cũng như xử lý xung đột quyền đối với CTTH trong bối cảnh kỹ thuật số tại Việt Nam.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử theo Triết học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để xem xét các hiện tượng pháp lý trong trạng thái vận động, liên hệ mật thiết với điều kiện kinh tế - xã hội.

Các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành luật học được tác giả sử dụng bao gồm:

  • Phương pháp lịch sử: Khảo sát nguồn gốc, quá trình hình thành và phát triển của chế định bảo hộ QTG, QLQ, đồng thời làm rõ các giai đoạn chuyển biến của pháp luật Việt Nam.
  • Phương pháp phân tích: Mổ xẻ các khái niệm khoa học pháp lý, quy định pháp luật thực định và đánh giá các quan điểm lý luận về quyền tác giả, quyền liên quan trong suốt toàn bộ công trình.
  • Phương pháp tổng hợp: Hệ thống hóa các dữ liệu, quan điểm từ các công trình nghiên cứu đi trước để xây dựng khung nhận định khách quan về quy định và thực tiễn pháp lý.
  • Phương pháp thống kê: Thu thập, tổng hợp các dữ liệu, số liệu liên quan đến tần suất phát sóng, tình hình vi phạm bản quyền truyền hình để hỗ trợ các lập luận thực tiễn.
  • Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu các quy định của pháp luật Việt Nam với các chuẩn mực trong các điều ước quốc tế (Công ước Berne, Công ước Rome, Công ước Geneva, Công ước Brussels, Hiệp định TRIPs, WPPT, CPTPP, EVFTA) và luật bản quyền của Vương quốc Anh, Hoa Kỳ.

Nguồn dữ liệu và tư liệu:

  • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam: Luật Sở hữu trí tuệ (năm 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009, 2019, 2022); Nghị định số 17/2023/NĐ-CP; Nghị định số 105/2006/NĐ-CP (sửa đổi bổ sung bởi Nghị định số 119/2010/NĐ-CP); Nghị định số 144/2020/NĐ-CP; Nghị định số 129/2021/NĐ-CP; Luật Báo chí năm 2016; Thông tư số 03/2018/TT-BTTTT; Thông tư số 34/2017/TT-BTTTT (ban hành QCVN 115:2017/BTTTT); Thông tư liên tịch số 17/2010/TTLT-BTTTT-BNV; Thông tư số 06/2023/TT-BTTTT.
  • Hệ thống các văn kiện, điều ước quốc tế: Công ước Berne (1886/1971), Công ước Rome (1961), Công ước Geneva (1971), Công ước Brussels (1974), Hiệp ước WCT (1996), Hiệp ước WPPT (1996), Hiệp định TRIPs (1994), CPTPP và EVFTA.
  • Nguồn tài liệu từ các vụ việc tranh chấp thực tế, dữ liệu báo cáo của các đài truyền hình, cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức quốc tế.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận về bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan đối với chương trình truyền hình

Chương 1 tập trung xây dựng hệ thống khái niệm và cơ sở lý luận về CTTH dưới góc độ luật sở hữu trí tuệ:

  • Tiếp cận khái niệm CTTH:

    • Góc độ ngữ nghĩa: Xuất phát từ gốc từ Hy Lạp và Latin ("tele" là ở xa, "videre" là thấy được/xem được, ghép lại thành "televidere" - xem được ở xa). Theo Từ điển Tiếng Việt (GS. Hoàng Phê chủ biên, 2018), "chương trình" là toàn bộ dự kiến hoạt động theo trình tự và thời gian nhất định, "truyền hình" là truyền hình ảnh và âm thanh đi xa bằng vô tuyến hoặc đường dây. Theo Từ điển Oxford, CTTH (television program) là phân đoạn nội dung phát trên truyền hình vô tuyến, truyền hình cáp hoặc truyền hình Internet nhằm thu hút người xem, không bao gồm quảng cáo hay đoạn giới thiệu.
    • Góc độ báo chí truyền thông: Dẫn định nghĩa của Dương Xuân Sơn (2011) coi CTTH là sản phẩm truyền hình có sự liên kết tin bài, hình ảnh, âm thanh có mở đầu, kết thúc nhằm mục đích tuyên truyền.
    • Góc độ pháp lý: Khoản 10 Điều 3 Luật Báo chí 2016 và Thông tư số 03/2018/TT-BTTTT xác định CTTH là tập hợp tin bài trên báo hình theo chủ đề, thời lượng nhất định, có dấu hiệu mở đầu và kết thúc. Quy chuẩn QCVN 115:2017/BTTTT (ban hành kèm Thông tư 34/2017/TT-BTTTT) xác định CTTH là nội dung riêng biệt chứa âm thanh, hình ảnh dùng trong phát sóng truyền hình (bao gồm cả quảng cáo, nội dung thương mại).
    • Định nghĩa khoa học do tác giả đề xuất: "CTTH là sản phẩm sáng tạo bao gồm tập hợp nhiều tác phẩm gắn kết dựa trên một ý tưởng sáng tạo chủ đạo xuyên suốt, thể hiện dưới dạng hình ảnh và âm thanh, được các tổ chức phát sóng truyền tới công chúng thông qua hoạt động phát sóng truyền hình và phải tuân thủ quy định pháp luật về phạm vi nội dung, hình thức."
  • Phân biệt chương trình truyền hình (CTTH) và chương trình phát sóng (CTPS):

    • Khảo sát các điều ước quốc tế: Công ước Rome 1961 (khoản f Điều 3 quy định phát sóng là việc truyền bằng phương tiện vô tuyến âm thanh hoặc hình ảnh để công chúng thu); Công ước Berne (Đoạn 2 Điều 2bis, Đoạn 3 Điều 3, Điều 11bis); Công ước Brussels 1974 (truyền tín hiệu vệ tinh); Hiệp ước WPPT 1996 (khoản f Điều 2 quy định phát sóng qua vô tuyến, vệ tinh, tín hiệu mã hóa); Luật SHTT Việt Nam (khoản 11 Điều 4); Đạo luật Bản quyền Vương quốc Anh năm 1988 (Điều 6); Luật Bản quyền Hoa Kỳ (Điều 101).
    • Tác giả phân định CTTH và CTPS qua ba phương diện:
Tiêu chí phân định Chương trình phát sóng (CTPS) Chương trình truyền hình (CTTH)
Hình thức truyền phát Truyền dẫn qua bất kỳ phương tiện vô tuyến, tín hiệu vệ tinh, không gian mạng (bao gồm livestreaming trên mạng xã hội). Chỉ được truyền đạt đến công chúng thông qua các phương thức truyền hình (mặt đất, cáp, vệ tinh, IPTV).
Chủ thể thực hiện Bất kỳ tổ chức, cá nhân nào có thiết bị phát sóng hoặc tài khoản truyền dẫn dữ liệu. Phải là tổ chức phát sóng truyền hình (các Đài Truyền hình có giấy phép hoạt động).
Nội dung và quy trình Không bắt buộc điều kiện nội dung, quy trình sản xuất (có thể là phát thanh chỉ có âm thanh, hoặc luồng dữ liệu thô). Bắt buộc phải có cả hình ảnh và âm thanh, là sản phẩm sáng tạo tuân thủ quy chuẩn kỹ thuật và quy trình biên tập nghiêm ngặt.
  • Bảy đặc điểm của CTTH với tư cách đối tượng bảo hộ QTG, QLQ:
    1. Là tập hợp nhiều tác phẩm liên kết theo ý tưởng chủ đạo: Kết hợp tác phẩm viết (kịch bản), tác phẩm âm nhạc, tác phẩm mỹ thuật ứng dụng, cùng các đối tượng QLQ (cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình).
    2. Thể hiện bằng ngôn ngữ truyền hình: Kết hợp đồng thời hình ảnh (yếu tố quan trọng nhất), âm thanh (lời nói, tiếng động, âm nhạc) và chữ viết; phản ánh hình ảnh thực tế, ít mang tính hư cấu như tác phẩm điện ảnh.
    3. Được truyền đạt bằng phương thức truyền hình: Thông qua hạ tầng kỹ thuật phát sóng (vô tuyến, cáp, vệ tinh, IPTV), phân biệt với hoạt động truyền dữ liệu streaming thông thường trên máy tính.
    4. Mang tính xác thực và thời sự: Phản ánh sự kiện có thực trong đời sống xã hội; do tính thời sự cao nên giá trị kinh tế suy giảm nhanh theo thời gian, đòi hỏi cơ chế xử lý xâm phạm phải kịp thời.
    5. Có sự tham gia sáng tạo của nhiều chủ thể: Đạo diễn, biên kịch, quay phim, kỹ thuật viên âm thanh, ánh sáng cùng phối hợp dưới ý tưởng thống nhất, dẫn đến cấu trúc sở hữu phức tạp.
    6. Chủ sở hữu là tổ chức phát sóng truyền hình: Tại Việt Nam, chủ sở hữu là các Đài Truyền hình trực thuộc cơ quan nhà nước, được thành lập và hoạt động theo Thông tư liên tịch số 17/2010/TTLT-BTTTT-BNV.
    7. Đáp ứng điều kiện, tiêu chuẩn về nội dung và hình thức: Chịu sự điều chỉnh của Luật Báo chí và các quy chuẩn phân loại độ tuổi, biên tập nội dung theo Thông tư số 06/2023/TT-BTTTT.

Chương 2: Thực trạng pháp luật về bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan đối với chương trình truyền hình tại Việt Nam

Chương 2 rà soát toàn diện các quy định của pháp luật thực định Việt Nam:

  • Quy định về đối tượng QTG, QLQ trong CTTH: Phân tích các yếu tố cấu thành CTTH được bảo hộ theo pháp luật SHTT (tác phẩm điện ảnh, tác phẩm sân khấu, tác phẩm tạo hình, tác phẩm âm nhạc, kịch bản; các cuộc biểu diễn, bản ghi âm, bản ghi hình, chương trình phát sóng). Đánh giá sự thiếu vắng khái niệm pháp lý độc lập dành riêng cho CTTH trong Luật SHTT, dẫn đến việc phải viện dẫn gián tiếp qua nhiều loại hình tác phẩm khác nhau.
  • Quy định về chủ thể: Phân định quyền và nghĩa vụ giữa các nhóm chủ thể: tác giả, các đồng tác giả, chủ sở hữu QTG, người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm/ghi hình và tổ chức phát sóng. Đánh giá những bất cập trong việc phân chia quyền sở hữu và quyền tài sản giữa đài truyền hình với các đối tác liên kết sản xuất chương trình.
  • Nội dung quyền: Đánh giá các quy định về quyền nhân thân (quyền đặt tên, đứng tên, công bố, bảo vệ sự toàn vẹn tác phẩm) và quyền tài sản (quyền làm tác phẩm phái sinh, sao chép, phân phối, phát sóng, truyền đạt tới công chúng).
  • Ngoại lệ và giới hạn quyền: Phân tích các trường hợp sử dụng CTTH không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút hoặc phải trả tiền thù lao theo Luật SHTT; chỉ ra ranh giới chưa rõ ràng giữa việc trích dẫn hợp lý phục vụ tin tức thời sự với hành vi khai thác thương mại trái phép.
  • Hành vi xâm phạm và căn cứ xác định: Khảo sát căn cứ pháp lý nhận diện hành vi xâm phạm quyền nhân thân và quyền tài sản đối với CTTH; các hành vi vô hiệu hóa biện pháp công nghệ bảo vệ quyền (TPMs) và dỡ bỏ thông tin quản lý quyền (RMI).
  • Các biện pháp bảo vệ quyền: Phân tích hệ thống chế tài dân sự, hành chính (Nghị định 129/2021/NĐ-CP, Nghị định 144/2020/NĐ-CP), hình sự và biện pháp tự bảo vệ; chỉ ra sự chồng chéo thẩm quyền và mức xử phạt hành chính chưa đủ sức răn đe.

Chương 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan đối với chương trình truyền hình tại Việt Nam và một số kiến nghị hoàn thiện

Chương 3 tập trung vào bức tranh thực thi và giải pháp:

  • Thực tiễn áp dụng pháp luật và vi phạm:
    • Nhận diện các hình thức vi phạm phổ biến: thu phát sóng lậu các giải đấu thể thao, sao chép chương trình game show, phát tán phim truyền hình và gameshow lên các trang mạng xã hội và website lậu mà không trả tiền bản quyền; tình trạng các đài truyền hình địa phương tiếp sóng tùy tiện để chèn quảng cáo.
    • Phân tích vướng mắc trong việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, xác định giá trị thiệt hại thực tế và thu thập chứng cứ số trong môi trường mạng.
  • Đánh giá thực tiễn: Nêu rõ các nguyên nhân dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao, gồm: lỗ hổng quy định pháp luật; sự phát triển công nghệ vượt trước năng lực kiểm soát của cơ quan chức năng; nhận thức bản quyền thấp của người dùng và sự thiếu chủ động của một bộ phận chủ thể quyền.
  • Hệ thống kiến nghị hoàn thiện pháp luật:
    • Định hướng chung: Bảo đảm tính đồng bộ với Luật Báo chí, Luật Điện ảnh, Luật Viễn thông và tương thích hoàn toàn với các cam kết CPTPP, EVFTA, WCT, WPPT.
    • Sửa đổi cụ thể trong Luật SHTT và văn bản hướng dẫn: Bổ sung định nghĩa pháp lý rõ ràng về CTTH; minh định tư cách pháp lý của tổ chức phát sóng và các chủ thể hợp tác sản xuất; hoàn thiện cơ chế bảo hộ tín hiệu vệ tinh mang chương trình chưa định hình; quy định cụ thể trách nhiệm pháp lý của các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian (ISP) trên không gian mạng.
  • Ba nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật:
    1. Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động bảo hộ: Tăng cường áp dụng các biện pháp kỹ thuật công nghệ tự bảo vệ (DRM, mã hóa luồng dữ liệu), đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra và nâng cao năng lực chuyên môn của đội ngũ thực thi quyền.
    2. Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả khai thác quyền: Xây dựng mô hình quản lý tập thể quyền SHTT chuyên nghiệp trong lĩnh vực truyền hình, hoàn thiện cơ chế cấp phép bản quyền định dạng chương trình (TV formats) minh bạch.
    3. Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp: Đẩy mạnh áp dụng các phương thức giải quyết tranh chấp ngoài tòa án (hòa giải, trọng tài thương mại), hoàn thiện quy trình tư pháp xử lý chứng cứ điện tử trong các vụ kiện bản quyền trực tuyến.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự công bố năm điểm mới cốt lõi:

  1. Là công trình nghiên cứu toàn diện hệ thống lý luận, quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo hộ QTG, QLQ đối với CTTH tại Việt Nam.
  2. Xây dựng hệ thống lý luận chuyên biệt: đề xuất định nghĩa khoa học về CTTH, chỉ rõ bảy đặc điểm của CTTH với tư cách đối tượng bảo hộ QTG/QLQ; phân định bản chất pháp lý và sự khác biệt giữa CTTH với CTPS và hoạt động streaming.
  3. Đánh giá toàn diện các quy định của Luật SHTT Việt Nam hiện hành, nhận diện các xung đột và khoảng trống pháp luật đối với chuỗi chủ thể tham gia sản xuất, phát sóng CTTH.
  4. Phân tích thực tiễn xâm phạm bản quyền truyền hình trong môi trường số, nhận diện các khó khăn trong xử lý vi phạm tiếp sóng, vi phạm trực tuyến và chỉ rõ các nguyên nhân thực tiễn.
  5. Đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện bao gồm: định hướng hoàn thiện quy phạm pháp luật nội dung và hình thức trong Luật SHTT, cùng ba nhóm giải pháp thực thi (nâng cao hiệu quả bảo hộ, chuyên nghiệp hóa hoạt động khai thác, và tối ưu hóa cơ chế giải quyết tranh chấp).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tập trung nghiên cứu dưới lăng kính khoa học pháp lý thực định tại Việt Nam và các chuẩn mực điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Do đó, các khía cạnh kỹ thuật thuần túy về truyền dẫn viễn thông số, mã hóa tín hiệu hay luật thực định nội địa của các quốc gia không thuộc hệ thống điều ước tham chiếu không nằm trong trọng tâm phân tích sâu của đề tài.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục theo dõi và đánh giá tác động thực tiễn của Nghị định số 17/2023/NĐ-CP sau khi đi vào đời sống; nghiên cứu các xung đột pháp lý phát sinh từ các mô hình dịch vụ truyền hình qua mạng Internet xuyên biên giới (OTT) và ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong sản xuất nội dung truyền hình.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên và sinh viên ngành Luật: Cung cấp hệ thống tài liệu lý luận, khung phân tích pháp lý chuyên sâu về quyền tác giả, quyền liên quan trong ngành công nghiệp phát thanh truyền hình.
  • Đối với giảng viên và cơ sở đào tạo: Làm tài liệu tham khảo phục vụ giảng dạy các học phần Luật Sở hữu trí tuệ, Pháp luật Báo chí và Truyền thông đại chúng.
  • Đối với cơ quan lập pháp và quản lý nhà nước: Làm căn cứ khoa học cho Bộ Tư pháp, Bộ Thông tin và Truyền thông, Cục Bản quyền tác giả (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) trong quá trình rà soát, sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật và hướng dẫn thi hành.
  • Đối với các Đài Truyền hình, nhà sản xuất và luật sư: Cung cấp cơ sở pháp lý và kinh nghiệm thực tiễn để thiết lập hợp đồng khai thác bản quyền, xử lý tranh chấp và bảo vệ nội dung phát sóng trên môi trường số.

Câu hỏi thường gặp

1. Tác giả luận án định nghĩa chương trình truyền hình (CTTH) như thế nào?
Trả lời: Tác giả định nghĩa: "CTTH là sản phẩm sáng tạo bao gồm tập hợp nhiều tác phẩm gắn kết dựa trên một ý tưởng sáng tạo chủ đạo xuyên suốt, thể hiện dưới dạng hình ảnh và âm thanh, được các tổ chức phát sóng truyền tới công chúng thông qua hoạt động phát sóng truyền hình và phải tuân thủ quy định pháp luật về phạm vi nội dung, hình thức."

2. Điểm khác biệt cốt lõi giữa chương trình truyền hình (CTTH) và chương trình phát sóng (CTPS) theo luận án là gì?
Trả lời: CTTH có phạm vi hẹp hơn CTPS trên ba khía cạnh: (i) Về hình thức truyền phát, CTTH chỉ truyền qua phương thức truyền hình (mặt đất, cáp, vệ tinh, IPTV), còn CTPS truyền qua bất kỳ hình thức vô tuyến/mạng nào; (ii) Về chủ thể, CTTH bắt buộc do tổ chức phát sóng truyền hình (Đài Truyền hình có giấy phép) thực hiện, còn CTPS có thể do bất kỳ tổ chức, cá nhân nào thực hiện; (iii) Về nội dung, CTTH bắt buộc có cả hình ảnh và âm thanh, tuân thủ quy chuẩn kỹ thuật và quy trình sản xuất nghiêm ngặt.

3. Tại sao bảo hộ chương trình truyền hình lại phức tạp hơn các loại hình tác phẩm đơn lẻ?
Trả lời: Vì CTTH là một "tác phẩm đặc biệt" chứa đựng cấu trúc đa tầng gồm nhiều tác phẩm độc lập (kịch bản, âm nhạc, mỹ thuật, bản ghi âm, ghi hình, cuộc biểu diễn) với sự tham gia đồng thời của nhiều nhóm chủ thể (tác giả, biên kịch, đạo diễn, người biểu diễn, nhà sản xuất, đài truyền hình), dẫn đến việc phân chia quyền sở hữu, quyền tài sản và phân định hành vi xâm phạm trở nên phức tạp.

4. Luận án ghi nhận thực trạng nhập khẩu và tần suất phát sóng game show tại Việt Nam ra sao?
Trả lời: Dẫn số liệu từ C21media.net qua bài viết của Lan Anh (2017), luận án nêu rõ Việt Nam là quốc gia nhập khẩu chương trình nhiều nhất khu vực châu Á trong thể loại game show, với tần suất phát sóng đạt 70 chương trình mỗi ngày và thời lượng trung bình 53 phút.

5. Luận án đề xuất những nhóm giải pháp nào để nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật?
Trả lời: Luận án đề xuất ba nhóm giải pháp thực thi: (1) Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động bảo hộ (áp dụng công nghệ DRM, tăng cường thanh tra); (2) Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động khai thác quyền (xây dựng tổ chức quản lý tập thể quyền, minh bạch hóa cấp phép format); (3) Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động giải quyết tranh chấp (ưu tiên hòa giải, trọng tài, hoàn thiện quy trình xử lý chứng cứ số).


Kết luận

Luận án của tác giả Nguyễn Phan Diệu Linh là công trình nghiên cứu hệ thống về chế định bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan đối với chương trình truyền hình theo pháp luật Việt Nam. Luận án đã làm sáng tỏ vị trí pháp lý đặc thù của chương trình truyền hình, phân định ranh giới giữa chương trình truyền hình với chương trình phát sóng và các phương thức truyền tải trực tuyến. Trên cơ sở đối chiếu chuẩn mực điều ước quốc tế và đánh giá thực trạng bất cập trong thực tiễn xét xử, công trình đã đề xuất hệ thống kiến nghị hoàn thiện Luật Sở hữu trí tuệ cùng các giải pháp thực thi đồng bộ. Kết quả nghiên cứu có giá trị tham khảo thiết thực cho công tác hoàn thiện thể chế, nghiên cứu học thuật và hoạt động quản lý quyền của các đài truyền hình tại Việt Nam.