CHƯƠNG 1: MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE BAO HO QUYEN SỞ HỮU TRÍ TUE TRONG GIAO DICH NHƯỢNG QUYEN THƯƠNG MẠI VA PHAP LUAT BAO HO QUYEN SỞ HỮU TRÍ TUE TRONG GIAO DICH NHUONG QUYEN THUONG MAI 1. Khai quát về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ 1. Khái niệm bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ Lịch sử nhân loại đã chứng kiến quá trình sáng tạo từ khả năng tư duy của con người ngay từ bình minh của loài người. Trong quá trình này, các đối tượng sở hữu trí tuệ được tạo ra từ rất sớm so với sự ra đời của pháp luật sở hữu trí tuệ.
! So với bối cảnh toàn cầu, nhận thức về sở hữu trí tuệ tại Việt Nam đã phát triển khá muộn. Tới những năm 80 của thế kỷ XX, Việt Nam mới ban hành những văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên điều chỉnh các vấn dé sơ khai của sở hữu trí tuệ điều chỉnh về quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp, nghĩa là muộn hơn so với các nước phát triển ở Châu Âu và Hoa Kỳ hàng trăm năm. Trải qua quá trình dài phát triển và đổi mới, nền khoa học về sở hữu trí tuệ của Việt Nam hiện tại đã tiếp thu và kế thừa những kiến thức qua nhiều thé kỉ nghiên cứu của thé giới. Khai niệm “sở hữu tri tuệ” và “quyền sở hữu trí tuệ” có mối quan hệ bản chất tương tự như mối quan hệ giữa “sở hitu’” và “quyền sở hữu”.
Điều này thé hiện rõ ràng nhất trong tiếng Anh, khi thuật ngữ “Intellectual Property” (sở hữu trí tuệ) tùy thuộc ngữ cảnh có thể được tiếp nhận là “Intellectual Property Rights” (quyền sở hữu trí tuệ) hay thậm chí là “Intellectual Property Assets” (Tài san trí tuệ). ? Quyên sở hữu trí có thé được tiếp cận theo các tiêu chí khác nhau. Thứ nhất, dưới góc độ lý luận, quyền sở hữu trí tuệ có thể được hiểu theo hai phương diện khách quan hoặc chủ quan. Theo phương diện khách quan, quyền sở hữu trí tuệ là tập hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trinh tạo ra, xác lập, sử dụng và định đoạt các đối tượng sở hữu trí tuệ (quyền sở hữu trí tuệ được tiếp cận theo nghĩa của ngành luật sở hữu trí tuệ).
Theo phương diện chủ quan, quyển sở hữu trí tuệ là tổng hòa của các quyển và 1 Trường Đại học Luật Hà Nội, (2021), Giáo trình Luật Sở hữu trí tuệ, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội tr.23 ? Như trên, tr.11 10 nghĩa vụ của các chủ thể đối với đối tượng sở hữu trí tuệ. Thứ hai, dưới góc độ đối tượng quyền, quyển sở hữu trí tuệ được chia làm các nhánh tùy thuộc vào đối tượng quyền như quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp. Thứ ba, đưới góc độ pháp luật, quyển sở hữu trí tuệ là quyển sở hữu đối với các tài sản trí tuệ. > Tổng hợp từ nhiều góc độ, quyền sở hữu trí tuệ có thể được mô tả là quá trình hình thành và điều chỉnh các quan hệ sở hữu trí tuệ thông qua pháp luật.
Điều này bao gồm việc quản lý và bảo vệ các tài sản trí tuệ của cá nhân và tô chức. Thuật ngữ “bảo hộ quyền sở hitu trí tuệ” (protection of intellectual property rights) Thuật ngữ "bảo vệ quyển sở hữu trí tuệ" là một thuật ngữ đã được hình thành và áp dung phổ biến từ khi các văn bản pháp lý liên quan đến sở hữu trí tuệ được ban hành. Nó cũng được sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực pháp lý và trong cuộc sống hàng ngày. Về định nghĩa của bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, để đưa ra khái niệm chính xác về thuật ngữ này cần phải có sự cân nhắc kỹ lưỡng dưới các góc độ bằng cả hai ngôn ngữ Anh - Việt.
Cụ thé, dưới góc độ ngôn ngữ, phan lớn từ /điển Anh - Việt hiện nay đều dich “protection” là “sự bảo về, sự bảo hổ”,` nghĩa là dưới góc độ nay, “protection” có nghĩa tương đương là “bảo vệ” hoặc “bảo hộ” va “protection of intellectual property rights” có thê được dich là “bảo hộ quyên Sở hữm trí tuể” hoặc “bao vệ quyên sở hữu trí tuệ”. Tuy nhiên, theo từ điển Tiếng Việt, hai khái niệm “bảo vệ” va “bao hộ” lại không mang nghĩa tương tự, trong đó, “bảo hộ” là hành động “che chở, không dé bị hu hỏng, tốn thdt’ và “bảo vệ” là hành động “chong lại sự xâm phạm dé giữ lai cho luôn luôn được nguyên vẹn”. 3 Như vậy nghĩa là “bảo hộ quyền sở hữu trí tué” và “bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ” là hai khái niệm không thé đồng nhất. Vì vay “protection of intellectual property right” chỉ có thể được sử dụng là “bao hộ quyên Sở hitu trí tuệ” hoặc “bảo vệ quyên sở hữm 3 Vũ Thị Hải Yến, (2020), Nghiên cứu, xây dung quy chế quản lý, khai thác và bảo vệ quyền sở hitu trí tuệ của Trường Dai học Luật Hà Nội - Dé tài nghiên cứu khoa học cấp Trường, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.15 4 Theo The New Word English, (2007), Tir dién Anh-Anh-Viét, Nxb Hồng Đức, tr.591; Lê Khả Kế, (2012), Tir dién Anh — Việt, Nxb.
Thời Dai, tr.755 - : > Trung tâm từ điển học — Viện ngôn ngữ học, (2003), Tir điển tiếng Viet, Nxb Da Nang, tr.39 11 Dưới góc độ pháp luật, trong Hiệp định TRIPS, thuật ngữ “protection” được sử dụng trong các quy định về việc xác định các tiêu chuẩn, điều kiện, thời hạn để công nhận quyền sở hữu trí tuệ. Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam cũng sử dụng thuật ngữ này trong một số ngữ cảnh như “điều kiện bảo hộ đổi với sáng chế”, “điều kiện bảo hộ đổi với chỉ dân địa ly” hay “văn bằng bảo hộ". Xuất phát từ thực tiễn thé giới và Việt Nam, nhất là từ cách thức quy định trong Luật Sở hữu trí tuệ, có thể nhận thấy, “protection of intellectual property right” được hiểu theo nghĩa là “bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ”. Cách hiéu, dịch, sử dụng thuật ngữ này cũng phan nào thé hiện ý chí Nhà nước, theo đó, Nhà nước có trách nhiệm che chở, không để các quyền sở hữu trí tuệ bị xâm phạm bằng cách công nhận quyên đối với các đối trong sở hữu trí tuệ thông qua việc xác lập quyền.
Để tổng quát hóa khái niệm "bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ", các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều quan điểm. Phần lớn các quan điểm này đều nhấn mạnh rằng việc thiết lập và công nhận quyền sở hữu trí tuệ chỉ là một phần của bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Nếu nhà nước chỉ quy định các tiêu chuẩn và điều kiện để xác lập và công nhận quyền sở hữu trí tuệ, điều này vẫn chưa đủ. Hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ của các quốc gia được thiết lập với mục đích bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ một cách hiệu quả, không chỉ trong việc xác lập quyền mà còn trong việc bảo vệ chúng khỏi bất kỳ hành vi xâm phạm nào.
Š Do đó, khi đưa ra khái niệm về “bảo hộ quyền sở hữm trí tuệ”, các nhà nghiên cứu đưa ra những quan điểm như “Bảo hộ quyền sở hữu tri tuệ là việc nhà nước thông qua hệ thống pháp luật xác lập quyên của các chủ thé đối với các đối tượng sở hitu trí tuệ tương img và bảo vệ quyền đó chồng lại bất kỳ sự vi phạm của bên thứ ba” 7 hoặc “bảo hộ quyền sở hitu trí tuệ là tất cả các hoạt động của nhà nước gồm ban hành chế độ, chính sách, chủ trương đường lối, các quy định pháp luật, cách thức áp dung,. dé đảm bảo cho quyên sở hữu trí tuệ cua chủ sở hữu được xác lập, duy trì, thực hiện hiệu quả trên thực tế”. 8 Š Vũ Thị Hải Yến, (2008), Bảo hộ chỉ dẫn địa lý ở Viet Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, Luận an Tiên sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr. 7 Lê Xuân Thảo, (2005) Đổi mới và hoàn thiện pháp luật về sở hitu trí tuệ”, Nxb Tư pháp, tr.20 8 Nguyễn Thai Mai, (2010), Bảo hộ quyên sở hữu trí tuệ đối với thông tin bi mật trong pháp Luật Thương mại quốc tế, Luận an Tiên sĩ Luật học, Trường Dai học Luật Hà Nội, tr.34 12 Dựa trên các phân tích và quan điểm đã được đưa ra, có thể tóm tắt khái niệm của bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ là một loạt các hoạt động cụ thể được thực hiện bởi các chủ thể quyển và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Các hoạt động này bao gồm việc xác lập và đăng ký quyên sở hữu trí tuệ, quản lý, sử đụng và khai thác quyển này, cũng như bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ bằng cách đối phó với các hành vi xâm phạm thực tế. Đối tượng bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ Các tài sản trí tuệ được quản lý và bảo vệ bởi pháp luật về sở hữu trí tuệ được gọi là đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ. Phạm vi và mức độ điều chỉnh quyền sở hữu trí tuệ ở các nước, các khu vực còn nhiều sự khác biệt phu thuộc vào: truyền thống lập pháp; trình độ phát triển, nhất là kinh tế: đặc thù phát triển của kinh tế, v. Điển hình như việc chỉ dẫn địa lý là một đối tượng sở hữu trí tuệ quan trọng ở Châu Âu và được điều chỉnh một cách cụ thể trong pháp luật của từng quốc gia thành viên, cũng như đối với toàn Liên minh Châu Âu song lại không phải là đối tượng sở hữu trí tuệ độc lập trong pháp luật Hoa Ky mà được bảo hộ từ góc độ của nhãn hiệu.° Theo WIPO, sở hữu trí tuệ đề cập đến những sáng tạo của trí óc — mọi thứ từ tác phẩm của nghệ thuật đến phát minh, máy tính chương trình nhãn hiệu và biển hiệu thương mại khác.
10 Sở hữu trí tuệ được chia thành hai loại: (1) sở hữu công nghiệp, bao gồm sáng chế, nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp, chỉ dẫn địa lý và (ii) quyền tác giả, trong đó bao gồm các tác phẩm văn học và nghệ thuật như tiểu thuyết, thơ, các vở kịch, bộ phim, tác phẩm âm nhạc, tác phẩm nghệ thuật như bản vẽ, tranh vẽ, hình ảnh và tác phẩm điêu khắc, tác phẩm kiến trúc. Quyền liên quan đến quyền tác giả bao gồm quyền của những nghệ sĩ biểu diễn, quyển của nhà san xuất bản ghi âm, quyền của các tô chức phát sóng đối với chương trình truyền hình, phát thanh. ' ° Trường Dai học Luật Hà Nội, (2021), Giáo trình Luật Sở hữu trí tuệ, Nxb Công an nhân dân, tr.14 19 WIPO, (2004), What is intellectual property, Switzerland: WIPO Publication No. 1! Như trên, tr.