Chương I: Khái quát về nhượng quyền thương mại và hợp đồng nhượng quyên thương mai. Chương 2: Thực trạng pháp luật điều chỉnh hop đồng nhượng quyển thương mại ở Việt Nam. Chương 3: Phương hướng và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thong pháp luật Việt Nam về hop đồng nhượng quyền thương mai. Ngoài ra, còn có Lời cảm ơn; Bảng viết tắt; Mục lục và Danh mục tài liệu tham khảo.
CHUONG I: KHÁI QUÁT VE NHƯỢNG QUYEN THUONG MAI VA HOP DONG NHUONG QUYEN THUONG MAI 1. Khái quát về nhượng quyền thương mai 1. Khái niệm nhượng quyển thương mại Nhượng quyên thương mại tiếng anh là Franchise. Có thé hiểu nghĩa của từ tiếng anh này một cách tường minh nhất: Franchise là một phương thức nhân rộng thương hiệu, nhân rộng mô hình kinh doanh và có khá nhiều định nghĩa.
Nhưng có thể hiểu là một hình thức hợp tác, trong đó, bên nhượng quyên trao cho bên nhận quyền sử dụng mô hình, kỹ thuật kinh doanh, san phẩm dịch vụ dưới thương hiệu của mình và nhận lại một khoản phí hay phần trăm doanh thu trong thời gian nhất định. e Khai niệm NQTM theo pháp luật thế giới Theo Hiệp hội Nhượng quyền kinh doanh quốc tế (IFA), khái niệm nhượng quyền kinh doanh thương hiệu xuất hiện từ thập niên 50 thế kỷ 19. Mỹ được coi là quốc gia khởi xướng nhượng quyền kinh doanh thương hiệu va giới kinh doanh Mỹ gọi là franchise. Người Mỹ định nghĩa franchise là ký kết hợp đồng giữa phía chuyền giao (nha sản xuất hoặc tổ chức dich vụ) với người nhận chuyển giao (người kinh doanh độc lập).
Đến nay, franchise trở thành danh từ được giới kinh doanh, báo chí thế giới dùng phổ biến. Cộng Đồng Châu Âu định nghĩa franchise là phương pháp phân phối hàng hóa và dịch vụ mà người có quyền cho phép người nhận quyền độc lập tiến hành kinh doanh băng cách sử dụng các dấu hiệu, chỉ dẫn thương mại, phương pháp, bí quyết kinh doanh của mình dưới sự trợ giúp, kiểm soát của minh và được nhận thù lao. {8} Còn Hiệp hội Nhượng quyền kinh doanh quốc tế (IFA) định nghĩa theo trách nhiệm của bên nhượng quyên. Theo đó, franchise là quan hệ theo hợp đồng giữa bên giao và bên nhận quyên.
Bên giao phải quan tâm liên tục tới hoạt động của bên nhận trên các khía cạnh như: bí quyết kinh doanh; đào tạo nhân viên; cách thức tô chức kinh doanh. Bên nhận đầu tư vốn và hoạt động dưới nhãn hiệu hàng hóa, phương thức kinh doanh do bên giao sở hữu. {8} Tổ chức Sở hữu trí tuệ quốc tế lại đưa ra khái niệm được đánh giá chính xác hơn: Franchise là khi bên nhượng muốn phát triển hệ thống kinh doanh một mặt hàng/dịch vụ cụ thể của mình bằng cách cho phép một chủ thể khác (bên nhận) được sử dụng hệ thông kinh doanh của bên nhượng đúng quy định, chuẩn mực theo thỏa thuận, chịu giám sát cùng với sự hỗ trợ của bên nhượng. Mối quan hệ này diễn tiễn liên tục suốt hoạt động kinh doanh của bên nhận quyén {10} ¢ Khai niệm NQTM theo pháp luật Việt Nam Đến nay, Việt Nam chưa có thuật ngữ tiếng Việt thống nhất về franchise.
Trước đây khi chưa có khái niệm chính thống về nhượng quyền thương mại thì hoạt động này được ghi nhận là một nội dung của hoạt động chuyển giao công nghệ. Tại khoản 6, điều 4 Nghị định 11/2005/NĐ-CP ngày 2/2/2005 của Chính phủ quy định chỉ tiết về chuyển giao công nghệ (thay thế Nghị định 45/1998/NĐ-CP ngày 1/7/1998) có nêu: “Chuyển giao công nghệ bao gồm chuyên giao một hoặc một số nội dung.Cấp phép đặc quyền kinh doanh, theo đó bên nhận sử dụng tên thương mại, nhãn hiệu hàng hóa và bí quyết của bên giao dé tiến hành các hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực thương mại”. Tại Điều 284 Luật Thương mại 2005, pháp luật Việt Nam đã lần đầu tiên đưa ra một định nghĩa chính thức về NQTM. Theo đó: “NOTM là hoạt động thương mại, theo đó bên nhượng quyên cho phép và yêu cau bên nhận quyên tự mình tiễn hành việc mua bản hang hod, cung ung dịch vụ theo các diéu kiện sau day: 1.
Việc mua ban hang hoá, cung ứng dich vụ được tiễn hành theo cách thức tổ chức kinh doanh do bên nhượng quyên quy định và được gan với nhãn hiệu hàng hoá, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyên; 2. Bên nhượng quyển có quyên kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận quyên trong việc điều hành công việc kinh doanh.” Như vậy, trước hết pháp luật Việt Nam khang định NQTM là một hoạt động thương mại, đo đó hoạt động này phải do thương nhân thực hiện và có mục đích kinh doanh. Bên cạnh đó, định nghĩa của pháp luật Việt Nam khá tương đồng với pháp luật các nước và về cơ bản đã thé hiện được bản chat của hoạt động này. Đó là hoạt động thương mại đặc thù được hình thành trên cơ sở hợp đồng nhượng quyền thương mại giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền.
Trong mối quan hệ này, bên nhượng quyền sẽ cho phép bên nhận quyền thương mại sử dụng một “gói” các quyền thương mại của mình mà chủ yếu là các quyền liên quan đến đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ như tên thương mại, nhãn hiệu hàng hoá/dịch vụ, bí quyết, bí mật kinh doanh, phương thức quản lý.; để tiến hành kinh doanh với một tư cách pháp lý độc lập. Các bên trong quan hệ NQTM là các chủ thé độc lập với nhau về tư cách pháp ly; các bên sẽ cùng nhau khai thác các giá trị thương mại của quyền thương mại, và trong quá trình khai thác chung đó, bên nhượng quyên có sự kiểm soát, hỗ trợ đối với bên nhận quyền và điều này dẫn đến sự thống nhất trong hoạt động kinh doanh của các bên. Đặc điểm của NOTM Như đã phân tích ở trên, nhượng quyền thương mại là một hoạt động thương mại đặc thù nên trước hết nó sẽ mang những đặc điểm chung của hoạt động thương mại như hoạt động này phải do thương nhân thực hiện và có mục tiêu lợi nhuận. Bên cạnh những đặc điểm chung đó, NQTM còn mang một sỐ những đặc điểm đặc thù.
Những đặc điểm này góp phần phân biệt hoạt động NQTM và các phương thức kinh doanh dé gây nhầm lẫn khác như Lisence, chuyên giao công nghệ và đại lý thương mại. Về chủ thé: Chủ thê tham gia hoạt động NQTM gồm bên nhượng quyền và bên nhận nhượng quyền. Các chủ thể này có thể là cá nhân hoặc pháp nhân. Do tính chất phức tạp của hoạt động này mà hầu như pháp luật của các nước trên thế giới đều quy định các bên tham gia quan hệ NQTM là thương nhân, tuy nhiên pháp luật Việt Nam không có quy định cụ thể về vấn dé này.
Các chủ thể trên là các pháp nhân độc lập và hoàn toàn không phụ thuộc nhau về mặt pháp lý cũng như tài chính. Các bên hoàn toàn có địa vị pháp ly ngang nhau khi tiến hành hoạt động NQTM. Bên nhận quyền mặc dù kinh doanh dưới thương hiệu của bên nhượng quyền nhưng lại hoàn toàn chủ động trong việc kinh doanh của mình. Việc kinh doanh có phát sinh lợi nhuận hay không, không liên quan trực tiếp đến bên nhượng quyên.
Mặt khác, các chủ thể hoạt động NQTM đều là những doanh nghiệp hoàn toàn độc lập về mặt trách nhiệm đối với khách hàng và các đối tác khác trong kinh doanh. Bên cạnh đó, do những đặc trưng riêng của hoạt động này mà pháp luật các nước luôn quy định những điều kiện khắt khe hơn đối với bên nhượng quyền thương mại để đảm bảo cho hoạt động NQTM có tính khả thi. Những điều kiện đó thường là về thời gian kinh doanh hay yếu tố có lãi trên thị trường. Ngoài ra, yêu cầu về đăng ký thực hiện hoạt động NQTM cũng là một yếu tố bắt buộc đôi với bên nhượng quyên.
Mặc dù độc lập với nhau về mặt pháp lý và tài chính, tuy nhiên bên nhận quyền và bên nhượng quyền vẫn có mối quan hệ mật thiết với nhau. Dé đảm bảo tính đồng bộ trong hoạt động sản xuất kinh doanh của hệ thống nhượng quyên thì bên nhận quyền phải chịu sự kiểm soát nhất định đối với hoạt động sản xuất kinh doanh, bù lại họ có thể nhận được sự giúp đỡ về mặt kỹ thuật và đào tạo, được sử dụng nhãn hiệu hàng hoá, bí quyết kinh doanh, thương hiệu, mô hình kinh doanh của bên nhượng quyên theo thoả thuận trong hợp đồng NQTM. Dé được thụ hưởng các lợi ích từ phía bên nhượng quyền trong mạng lưới kinh doanh NQTM thì bên nhận quyền phải trả một khoản tiền cho bên nhượng quyền (còn gọi là phí nhượng quyên). Vé đối tượng của hoạt động NOTM: Đôi tượng của NQTM là quyền thương mại.
Nội dung của khái niệm quyền thương mại phát triển rất phong phú và có mối liên hệ đặc biệt với các đối tượng sở hữu trí tuệ. Nội dung của quyền thương mại có thể khác nhau tuỳ thuộc vào từng loại hình NQTM và thoả thuận giữa các bên. Nó có thể bao gồm quyên sử dụng các tài sản trí tuệ như tên thương mại, nhãn hiệu hàng hoá/dịch vụ, bí mật kinh doanh. và quyền kinh doanh theo mô hình, với phương thức quản lý, đảo tạo, tiếp thị sản pham của bên nhượng quyền.
Quyền thương mại là một sự kết hợp các yếu tố nêu trên, từ đó tạo nên sự khác biệt của cơ sở kinh doanh trong hệ thống NQTM. Tinh đồng bộ và thống nhất trong hoạt động nhượng quyén thương mai: Vì các chủ thể tham gia hoạt động NQTM đều tiến hành kinh doanh khai thác quyền thương mại dé thu lợi nên một mục đích xuyên suốt quá trình hoạt động là phải làm hệ thống NQTM ngày một phát triển. Điều này đòi hỏi phải có sự hoạt động đồng bộ và thống nhất trong cả hệ thống. Đây cũng chính là đặc điểm đặc trưng của hoạt động NQTM.
Tính đồng bộ và thống nhất của hoạt động này thể hiện ở: Tính đồng bộ của hệ thống nhượng quyền phải được thể hiện từ logo, nhãn hiệu, khẩu hiệu cho đến cách bài trí cửa hiệu, màu sắc trang trí, phương thức hoạt động, .dé tạo được lòng tin cho khách hàng về thương hiệu uy tín và sự chuyên nghiệp, giúp khách hàng dễ dàng nhận ra sản phẩm của mình. Tính thống nhất về mặt lợi ích và hành động của các bên tham gia quan hệ NQTM.