Chương 1 TS. NGUYÊN THỊ DUNG Chương 7 (đồng tác giả), Phần 3 (đồng tác giả), Phần 2 TS. ĐOÀN TRUNG KIÊN Chương 3 TS. VŨ ĐẶNG HẢI YÊN Chương 5 TS.
NGUYEN THỊ YEN Chương 2 ThS. LÊ THỊ LỢI Phần 3 (đồng tác giả) ThS. TRAN THỊ BAO ANH Chương 4 (mục II, II-1,2) ThS. TRAN QUYNH ANH Chương 8 ThS.
NGUYEN NHƯ CHÍNH Chương 6 (đồng tác giả) ThS. VŨ PHƯƠNG DONG Chương 4 (mục I); Chương 7 (đông tác giả) ThS. NGUYÊN QUÝ TRỌNG Chương 6 (mục II-3) ThS. PHAM NGUYEN LINH Phan 3 (đồng tác giả) LỜI NÓI ĐẦU "Một số hợp dong trong hoạt động thương mai" và "kĩ năng đàm phán và soạn thảo hợp đông thương mại" là những môn học được dua vào chương trình dao tạo cu nhân luật từ năm 2005 đến nay.
Trong chương trình đào tạo theo hình thức tín chỉ và chương trình đào tạo cử nhân ngành luật kinh tế, các nội dung này lại tiếp tục giữ vị trí là môn học chuyên ngành, trang bị kiến thức chuyên sâu và một phan kĩ năng hành nghề luật cho người học. Giáo trình được kết cau với ba phan chính: Phan một, gom 8 chương, cung cấp kiến thức chuyên sâu về một số loại hợp dong thương mại đặc thù, bao gồm: Hợp đồng mua bán hàng hoá qua sở giao dịch hang hoá, hợp đồng tham gia ban hàng da cấp, hợp đồng mua bán doanh nghiệp, hợp đồng nhượng quyên thương mại, hợp đồng dịch vụ pháp lí, hợp đồng thành lập công tỉ và hợp đồng hop tác kinh doanh. Đây là những hợp đồng trong hoạt động thương mại (rong giáo trình này gọi tắt là hợp đồng trong thương mại) có tính mới, tính đặc thù, chưa được giảng dạy ở các môn học khác. Nhu cau tìm hiểu, nghiên cứu ứng dụng các hợp dong này trong thực tiễn đời sống kinh tế xã hội cũng đã được khẳng định và ngày càng trở nên bức thiết.
Phan hai và phan ba cung cấp kĩ năng cơ bản và kinh nghiệm trong dam phan và soạn thảo hợp đông thương mại thông qua tổng quan lí thuyết và hướng dan thực hành. Xuất phát từ mục tiêu đào tạo cử nhân ngành luật và ngành luật kinh tế, giáo trình không tiếp cận kĩ năng đàm phán, soạn thảo hợp dong từ góc độ quan trị kinh doanh mà chủ yếu rèn luyện kĩ năng phòng tránh rủi ro pháp lí từ hoạt động dam phán, soạn thảo hợp dong thương mại cho các luật gia, luật su tương lai. Giáo trình được hoàn thành với sự đóng góp trí tuệ, tâm huyết của nhiều giảng viên có kinh nghiệm giảng day các môn học luật thương mại, pháp luật về hợp đồng thương mại, kĩ năng đàm phản và soạn thảo hợp đồng thương mại của Trường Dai học Luật Hà Nội và sự hỗ trợ, tư vấn nhiệt tình của luật su Tran Tuan Phong (Văn phòng luật sư Hong Đức - VLAF Hong Đúc), luật se Đỗ Đăng Khoa (Công tỉ luật Đất Nam) và luật sư Phạm Nguyễn Linh (Công tỉ luật DFDL Mekong Vietnam). Trường Đại học Luật Hà Nội trán trọng cam on tap thể tác giả và các chuyên gia đã có những cống hiến quý báu để giáo trình này được biên soạn và xuất bản.
Giáo trình lan đầu được biên soạn nên khó tránh khỏi khiếm khuyết. Tập thé tác giả mong nhận được nhiễu ý kiến đóng góp để tiếp tục hoàn thiện giáo trình trong những lan tái bản tiếp theo. TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI Phan 1 MOT SO HOP DONG DAC THU TRONG HOAT DONG THUONG MAI Chương | TONG QUAN VE HOP DONG TRONG HOAT DONG THUONG MAI VA PHAP LUAT VE HOP DONG TRONG HOAT DONG THUONG MAI I. KHÁI NIEM VA PHAN LOẠI HỢP DONG TRONG HOAT DONG THUONG MAI 1.
Khái niệm hop đồng trong hoạt động thương mại Hợp đồng trong hoạt động thương mại (sau đây gọi tắt là hợp đồng trong thương mại) là khái niệm mang tính chất tương đối, chưa được luật hoá trong các văn bản quy phạm pháp luật. Trước khi Bộ luật dân sự năm 2005 có hiệu lực, ở Việt Nam tôn tại hai loại hợp đồng riêng biệt là hợp đồng dân sự và hợp đồng kinh tế. Hợp đồng kinh tế là hợp đồng thoả mãn ba điều kiện: (¡) chủ thể hợp đồng là các pháp nhân hoặc ít nhất một bên là pháp nhân, bên (1). Bộ luật dân sự được Quốc hội thông qua ngày 14/6/2005, có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2006.
kia là cá nhân có đăng kí kinh doanh, hộ nông dân, ngư dân, nghệ nhân, người hoạt động khoa học, kĩ thuật; (1) các bên tham gia hợp đồng có mục đích kinh doanh; (iii) hợp đồng được lập thành văn bản. Những hợp đồng không đáp ứng được một trong ba điều kiện trên thì không được coi là hợp đồng kinh tế mà chỉ là hợp đồng dân sự. Mỗi loại hợp đồng có cơ chế điều chỉnh pháp luật riêng. Do đó, trong giai đoạn này, ở Việt Nam có hai hệ thống pháp luật điều chỉnh quan hệ hợp đồng: Pháp luật dân sự với vị trí trung tâm là Bộ luật dân sự năm 1995 và pháp luật kinh tế với văn bản quy phạm pháp luật quan trọng nhất là Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989.
Quy định về hợp đồng ở hai văn bản quy phạm pháp luật này có nhiều điểm khác nhau nên việc xác định một hợp đồng là dân sự hay kinh tế có ý nghĩa quan trọng. Trong điều kiện ton tại song song Bộ luật dân sự và Pháp lệnh hợp đồng kinh tế, việc xác định chính xác hợp đồng nào là hợp đồng kinh tế, hợp đồng nào là hợp đồng dân sự để từ đó lựa chọn và áp dụng chính xác văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ hợp đồng không phải là điều dé dàng. Vi du, một cá nhân kinh doanh kí hợp đồng giao thầu xây nhà để vừa làm nơi ở, vừa làm trụ sở kinh doanh thì xác định mục đích của hợp đồng như thế nào? Chính vì thế, sự ra đời của Bộ luật dân sự năm 2005 được coi là mang tính cách mạng trong việc thống nhất điều chỉnh quan hệ hợp đồng. Mọi hợp đồng, cho dù phát sinh trong lĩnh vực cụ thé nào, đều được coi là hợp đồng dân sự và chịu sự điều chỉnh chung, thống nhất của Bộ luật dân sự.
Vi thế, van đề quy định khái niệm hợp đồng trong thương mại như loại hợp đồng độc lập với hợp đồng dân sự không được đặt ra. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, mặc dù là một dạng của hợp đồng dân sự nhưng hợp đồng phát sinh trong hoạt động thương mại vẫn mang những nét đặc thù như việc giao kết và thực hiện hợp đồng phải đáp ứng những yêu cầu khắt khe hon so với hợp đồng dân sự thuần túy (vi du: giao kết hợp đồng thông qua đấu thầu, dau giá phải tiễn hành theo những thủ tục đặc biệt); yếu tô lỗi của thương nhân khi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng thương mại là lỗi suy đoán. Bên cạnh đó, một số loại hợp đồng chỉ có thê là hợp đồng trong thương mại như hợp đồng mua bán doanh nghiệp, hợp đồng cho thuê tài chính, hợp đồng mua bán qua sở giao dịch, hợp đồng nhượng quyền thương mại. Vì thế, việc nghiên cứu những khía cạnh pháp lí của hợp đồng trong thương mại là cần thiết cả về mặt lí luận và thực tiễn.
Khái niệm hợp đồng trong thương mại chưa từng được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam. Luật thương mại năm 1997 chỉ nhắc đến hợp đồng trong hoạt động thương mại tại Điều 238. Nhưng bản thân thuật ngữ này cũng bi loại bỏ trong Luật thương mại năm 2005. Ở Việt Nam hiện nay, khái niệm “hoạt động thương mại” đồng nghĩa với khái niệm “hoạt động kinh doanh”.
Khoản 1 Điều 3 Luật thương mại năm 2005 quy định: “Hoạ động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gom mua ban hang hoá, cung ung dịch vu, đâu tư, xúc tiễn thương mại và các hoạt động nhằm mục dich sinh lợi khác”. Hoạt động kinh doanh cũng là hoạt động nhăm mục đích sinh lợi. Sự đồng nhất khái niệm hoạt động thương mại và hoạt động kinh doanh dẫn đến việc đồng nhất khái niệm hợp đồng trong thương mại và hợp đồng kinh doanh. Trên thế giới, khái niệm hợp đồng thương mại (hay còn gọi là hợp đồng kinh doanh) chỉ xuất hiện trong khoa học pháp lí ở các nước có hệ thong luật tư nhị nguyên, noi pháp luật dân sự và pháp luật thương mại tồn tại riêng biệt, độc lập như Pháp, Đức, Nhật Bản.
Ở những nước này, khái niệm hợp đồng thương mại không được quy định trong luật thực định mà được xây dựng trên cơ sở là giao dịch thương mai của hai hay nhiều chủ thé. Vì thé, nghiên cứu về hợp đồng thương mại chính là việc nghiên cứu các quy định pháp luật về giao dịch thương mại. Tuy nhiên, cũng không có khái niệm chung và thống nhất về giao dịch thương mại ở các nước này. Có hai trường phái xác định giao dịch thương mại là trường phái chủ thể và trường phái khách thể.
Theo trường phái chủ thể, mọi giao dịch do thương nhân thực hiện trong hoạt động thương mại được coi là giao dịch thương mai. Vi du, Bộ luật thương mại Đức quy định giao dịch thương mại là mọi giao dịch của thương nhân thực hiện trong quá trình hành nghề thương mai (Điều 343). Theo trường phái khách thể, một giao dịch được coi là giao dịch thương mại nếu được chính các nhà làm luật gọi như vậy, tức là được chỉ rõ trong Bộ luật thương mại những giao dịch nào là giao dịch thương mai. Vi du, Bộ luật thương mại Pháp liệt kê những giao dịch được coi là giao dịch thương mại bất kế chủ thê là ai.
Còn Bộ luật thương mại Đức, bên cạnh việc xác định giao dịch thương mại dựa trên yêu tố chủ thé còn đồng thời dựa trên yêu tố khách thê khi coi giao dịch thương mại là những giao dịch được hình thành trong hoạt động thương mại. Một điểm cần lưu ý là tuy phân biệt pháp luật dân sự và pháp luật thương mại nhưng các nước này chỉ quan niệm giao dịch thương mại là một dạng của giao dịch dân sự. Vì thế, pháp luật thương mại được áp dụng với tư cách là luật riêng, chuyên ngành, 10 còn pháp luật dân sự là luật chung khi điều chỉnh các quan hệ hợp đồng thương mại. Như vậy, có thé thay hợp đồng thương mai chỉ là dạng đặc thù của hợp đồng dân sự.
Ở các nước theo truyền thống pháp luật Anh - Mỹ không phân biệt pháp luật dân sự và pháp luật thương mại, vì thế, cũng không có khái niệm hợp đồng thương mại.