Giáo trình Hợp đồng Đặc Thù và Kỹ Năng Đàm Phán trong Hoạt Động Thương Mại - Đại học Luật Hà Nội

Giáo trình về hợp đồng đặc thù trong thương mại và kỹ năng đàm phán, soạn thảo, phục vụ sinh viên luật, do Nguyễn Thị Dung và Vũ Thị Lan Anh chủ biên.

Trường đại học

Đại học Luật Hà Nội

Chuyên ngành

Luật thương mại

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Giáo trình

2012

352
80
0

Phí lưu trữ

75 Point

Mục lục chi tiết

LỜI NÓI ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HỢP ĐỒNG TRONG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI VÀ PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG TRONG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI

1.1. KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI HỢP ĐỒNG TRONG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI

1.1.1. Khái niệm hợp đồng trong hoạt động thương mại

1.1.2. Đặc điểm của hợp đồng trong hoạt động thương mại

1.1.2.1. Lĩnh vực phát sinh quan hệ hợp đồng trong thương mại
1.1.2.2. Thành phần chủ thể của hợp đồng trong thương mại
1.1.2.3. Mục đích của hợp đồng trong thương mại
1.1.2.4. Tính đền bù của hợp đồng trong thương mại

1.1.3. Phân loại hợp đồng trong thương mại

Tóm tắt

I. Giới thiệu tổng quan về giáo trình

Giáo trình hợp đồng đặc thù và kỹ năng đàm phán trong thương mại được biên soạn bởi Trường Đại học Luật Hà Nội nhằm cung cấp kiến thức chuyên sâu về các loại hợp đồng thương mại đặc thù và kỹ năng đàm phán, soạn thảo hợp đồng. Giáo trình được chia thành ba phần chính, bao gồm: phần một giới thiệu về các hợp đồng thương mại đặc thù, phần hai và ba tập trung vào kỹ năng đàm phán và soạn thảo hợp đồng. Giáo trình này không chỉ phục vụ cho việc đào tạo cử nhân luật mà còn là tài liệu tham khảo hữu ích cho các luật sư và chuyên gia trong lĩnh vực thương mại.

1.1. Mục tiêu và đối tượng của giáo trình

Giáo trình được thiết kế nhằm trang bị kiến thức chuyên sâu và kỹ năng thực tiễn cho sinh viên ngành luật, đặc biệt là chuyên ngành luật thương mại. Mục tiêu chính là giúp người học hiểu rõ các loại hợp đồng đặc thù trong thương mại, đồng thời rèn luyện kỹ năng đàm phán và soạn thảo hợp đồng để phòng tránh rủi ro pháp lý. Đối tượng chính của giáo trình là sinh viên đại học, nghiên cứu sinh và các chuyên gia trong lĩnh vực pháp lý thương mại.

1.2. Cấu trúc và nội dung chính của giáo trình

Giáo trình được chia thành ba phần chính. Phần một gồm 8 chương, tập trung vào các loại hợp đồng đặc thù như hợp đồng mua bán hàng hóa qua sở giao dịch, hợp đồng nhượng quyền thương mại, và hợp đồng dịch vụ pháp lý. Phần hai và ba cung cấp kỹ năng đàm phán và soạn thảo hợp đồng thương mại, bao gồm cả lý thuyết và hướng dẫn thực hành. Giáo trình được biên soạn bởi các giảng viên có kinh nghiệm và chuyên gia trong lĩnh vực luật thương mại.

II. Hợp đồng đặc thù trong thương mại

Phần một của giáo trình tập trung vào các loại hợp đồng đặc thù trong hoạt động thương mại. Những hợp đồng này có tính mới và đặc thù, chưa được giảng dạy trong các môn học khác. Hợp đồng đặc thù bao gồm hợp đồng mua bán hàng hóa qua sở giao dịch, hợp đồng nhượng quyền thương mại, và hợp đồng dịch vụ pháp lý. Những hợp đồng này đóng vai trò quan trọng trong thương mại quốc tế và cần được nghiên cứu kỹ lưỡng để áp dụng hiệu quả trong thực tiễn.

2.1. Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng đặc thù

Hợp đồng đặc thù là những hợp đồng phát sinh trong hoạt động thương mại, mang tính chất đặc biệt và yêu cầu cao về mặt pháp lý. Khác với hợp đồng dân sự thông thường, hợp đồng đặc thù thường liên quan đến các giao dịch phức tạp như mua bán doanh nghiệp, nhượng quyền thương mại, và dịch vụ pháp lý. Những hợp đồng này đòi hỏi sự hiểu biết sâu sắc về luật thương mại và các quy định pháp lý liên quan.

2.2. Phân loại hợp đồng đặc thù

Hợp đồng đặc thù được phân loại dựa trên nội dung cụ thể của hợp đồng, thời điểm phát sinh nghĩa vụ, và sự tương xứng về quyền và nghĩa vụ của các bên. Ví dụ, hợp đồng mua bán hàng hóa qua sở giao dịch được xếp vào nhóm hợp đồng ưng thuận, trong khi hợp đồng gửi giữ tài sản thuộc nhóm hợp đồng thực tế. Việc phân loại này giúp người học hiểu rõ hơn về bản chất và cách thức áp dụng các loại hợp đồng trong thực tiễn.

III. Kỹ năng đàm phán và soạn thảo hợp đồng

Phần hai và ba của giáo trình tập trung vào kỹ năng đàm phán và soạn thảo hợp đồng thương mại. Những kỹ năng này không chỉ giúp các luật sư và chuyên gia pháp lý đạt được thỏa thuận tốt nhất mà còn giúp phòng tránh các rủi ro pháp lý trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng. Kỹ năng đàm phán được trình bày một cách hệ thống, từ lý thuyết đến thực hành, giúp người học áp dụng hiệu quả trong các tình huống thực tế.

3.1. Kỹ năng đàm phán trong thương mại

Kỹ năng đàm phán là yếu tố quan trọng trong việc đạt được thỏa thuận có lợi cho các bên. Giáo trình cung cấp các nguyên tắc cơ bản của đàm phán, bao gồm việc chuẩn bị kỹ lưỡng, xác định mục tiêu, và sử dụng các chiến lược đàm phán hiệu quả. Kỹ năng đàm phán không chỉ giúp các bên đạt được thỏa thuận mà còn giúp duy trì mối quan hệ tốt đẹp trong tương lai.

3.2. Kỹ năng soạn thảo hợp đồng

Soạn thảo hợp đồng là quá trình quan trọng để đảm bảo các điều khoản hợp đồng rõ ràng, chính xác và phù hợp với quy định pháp luật. Giáo trình hướng dẫn chi tiết cách soạn thảo các điều khoản hợp đồng, từ việc xác định các bên tham gia đến việc quy định quyền và nghĩa vụ của các bên. Kỹ năng soạn thảo hợp đồng giúp phòng tránh các tranh chấp pháp lý và đảm bảo hiệu lực của hợp đồng.

21/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TS. NGUYÊN THỊ DUNG Chương 7 (đồng tác giả), Phần 3 (đồng tác giả), Phần 2 TS. ĐOÀN TRUNG KIÊN Chương 3 TS. VŨ ĐẶNG HẢI YÊN Chương 5 TS.

NGUYEN THỊ YEN Chương 2 ThS. LÊ THỊ LỢI Phần 3 (đồng tác giả) ThS. TRAN THỊ BAO ANH Chương 4 (mục II, II-1,2) ThS. TRAN QUYNH ANH Chương 8 ThS.

NGUYEN NHƯ CHÍNH Chương 6 (đồng tác giả) ThS. VŨ PHƯƠNG DONG Chương 4 (mục I); Chương 7 (đông tác giả) ThS. NGUYÊN QUÝ TRỌNG Chương 6 (mục II-3) ThS. PHAM NGUYEN LINH Phan 3 (đồng tác giả) LỜI NÓI ĐẦU "Một số hợp dong trong hoạt động thương mai" và "kĩ năng đàm phán và soạn thảo hợp đông thương mại" là những môn học được dua vào chương trình dao tạo cu nhân luật từ năm 2005 đến nay.

Trong chương trình đào tạo theo hình thức tín chỉ và chương trình đào tạo cử nhân ngành luật kinh tế, các nội dung này lại tiếp tục giữ vị trí là môn học chuyên ngành, trang bị kiến thức chuyên sâu và một phan kĩ năng hành nghề luật cho người học. Giáo trình được kết cau với ba phan chính: Phan một, gom 8 chương, cung cấp kiến thức chuyên sâu về một số loại hợp dong thương mại đặc thù, bao gồm: Hợp đồng mua bán hàng hoá qua sở giao dịch hang hoá, hợp đồng tham gia ban hàng da cấp, hợp đồng mua bán doanh nghiệp, hợp đồng nhượng quyên thương mại, hợp đồng dịch vụ pháp lí, hợp đồng thành lập công tỉ và hợp đồng hop tác kinh doanh. Đây là những hợp đồng trong hoạt động thương mại (rong giáo trình này gọi tắt là hợp đồng trong thương mại) có tính mới, tính đặc thù, chưa được giảng dạy ở các môn học khác. Nhu cau tìm hiểu, nghiên cứu ứng dụng các hợp dong này trong thực tiễn đời sống kinh tế xã hội cũng đã được khẳng định và ngày càng trở nên bức thiết.

Phan hai và phan ba cung cấp kĩ năng cơ bản và kinh nghiệm trong dam phan và soạn thảo hợp đông thương mại thông qua tổng quan lí thuyết và hướng dan thực hành. Xuất phát từ mục tiêu đào tạo cử nhân ngành luật và ngành luật kinh tế, giáo trình không tiếp cận kĩ năng đàm phán, soạn thảo hợp dong từ góc độ quan trị kinh doanh mà chủ yếu rèn luyện kĩ năng phòng tránh rủi ro pháp lí từ hoạt động dam phán, soạn thảo hợp dong thương mại cho các luật gia, luật su tương lai. Giáo trình được hoàn thành với sự đóng góp trí tuệ, tâm huyết của nhiều giảng viên có kinh nghiệm giảng day các môn học luật thương mại, pháp luật về hợp đồng thương mại, kĩ năng đàm phản và soạn thảo hợp đồng thương mại của Trường Dai học Luật Hà Nội và sự hỗ trợ, tư vấn nhiệt tình của luật su Tran Tuan Phong (Văn phòng luật sư Hong Đức - VLAF Hong Đúc), luật se Đỗ Đăng Khoa (Công tỉ luật Đất Nam) và luật sư Phạm Nguyễn Linh (Công tỉ luật DFDL Mekong Vietnam). Trường Đại học Luật Hà Nội trán trọng cam on tap thể tác giả và các chuyên gia đã có những cống hiến quý báu để giáo trình này được biên soạn và xuất bản.

Giáo trình lan đầu được biên soạn nên khó tránh khỏi khiếm khuyết. Tập thé tác giả mong nhận được nhiễu ý kiến đóng góp để tiếp tục hoàn thiện giáo trình trong những lan tái bản tiếp theo. TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI Phan 1 MOT SO HOP DONG DAC THU TRONG HOAT DONG THUONG MAI Chương | TONG QUAN VE HOP DONG TRONG HOAT DONG THUONG MAI VA PHAP LUAT VE HOP DONG TRONG HOAT DONG THUONG MAI I. KHÁI NIEM VA PHAN LOẠI HỢP DONG TRONG HOAT DONG THUONG MAI 1.

Khái niệm hop đồng trong hoạt động thương mại Hợp đồng trong hoạt động thương mại (sau đây gọi tắt là hợp đồng trong thương mại) là khái niệm mang tính chất tương đối, chưa được luật hoá trong các văn bản quy phạm pháp luật. Trước khi Bộ luật dân sự năm 2005 có hiệu lực, ở Việt Nam tôn tại hai loại hợp đồng riêng biệt là hợp đồng dân sự và hợp đồng kinh tế. Hợp đồng kinh tế là hợp đồng thoả mãn ba điều kiện: (¡) chủ thể hợp đồng là các pháp nhân hoặc ít nhất một bên là pháp nhân, bên (1). Bộ luật dân sự được Quốc hội thông qua ngày 14/6/2005, có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2006.

kia là cá nhân có đăng kí kinh doanh, hộ nông dân, ngư dân, nghệ nhân, người hoạt động khoa học, kĩ thuật; (1) các bên tham gia hợp đồng có mục đích kinh doanh; (iii) hợp đồng được lập thành văn bản. Những hợp đồng không đáp ứng được một trong ba điều kiện trên thì không được coi là hợp đồng kinh tế mà chỉ là hợp đồng dân sự. Mỗi loại hợp đồng có cơ chế điều chỉnh pháp luật riêng. Do đó, trong giai đoạn này, ở Việt Nam có hai hệ thống pháp luật điều chỉnh quan hệ hợp đồng: Pháp luật dân sự với vị trí trung tâm là Bộ luật dân sự năm 1995 và pháp luật kinh tế với văn bản quy phạm pháp luật quan trọng nhất là Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989.

Quy định về hợp đồng ở hai văn bản quy phạm pháp luật này có nhiều điểm khác nhau nên việc xác định một hợp đồng là dân sự hay kinh tế có ý nghĩa quan trọng. Trong điều kiện ton tại song song Bộ luật dân sự và Pháp lệnh hợp đồng kinh tế, việc xác định chính xác hợp đồng nào là hợp đồng kinh tế, hợp đồng nào là hợp đồng dân sự để từ đó lựa chọn và áp dụng chính xác văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ hợp đồng không phải là điều dé dàng. Vi du, một cá nhân kinh doanh kí hợp đồng giao thầu xây nhà để vừa làm nơi ở, vừa làm trụ sở kinh doanh thì xác định mục đích của hợp đồng như thế nào? Chính vì thế, sự ra đời của Bộ luật dân sự năm 2005 được coi là mang tính cách mạng trong việc thống nhất điều chỉnh quan hệ hợp đồng. Mọi hợp đồng, cho dù phát sinh trong lĩnh vực cụ thé nào, đều được coi là hợp đồng dân sự và chịu sự điều chỉnh chung, thống nhất của Bộ luật dân sự.

Vi thế, van đề quy định khái niệm hợp đồng trong thương mại như loại hợp đồng độc lập với hợp đồng dân sự không được đặt ra. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, mặc dù là một dạng của hợp đồng dân sự nhưng hợp đồng phát sinh trong hoạt động thương mại vẫn mang những nét đặc thù như việc giao kết và thực hiện hợp đồng phải đáp ứng những yêu cầu khắt khe hon so với hợp đồng dân sự thuần túy (vi du: giao kết hợp đồng thông qua đấu thầu, dau giá phải tiễn hành theo những thủ tục đặc biệt); yếu tô lỗi của thương nhân khi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng thương mại là lỗi suy đoán. Bên cạnh đó, một số loại hợp đồng chỉ có thê là hợp đồng trong thương mại như hợp đồng mua bán doanh nghiệp, hợp đồng cho thuê tài chính, hợp đồng mua bán qua sở giao dịch, hợp đồng nhượng quyền thương mại. Vì thế, việc nghiên cứu những khía cạnh pháp lí của hợp đồng trong thương mại là cần thiết cả về mặt lí luận và thực tiễn.

Khái niệm hợp đồng trong thương mại chưa từng được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam. Luật thương mại năm 1997 chỉ nhắc đến hợp đồng trong hoạt động thương mại tại Điều 238. Nhưng bản thân thuật ngữ này cũng bi loại bỏ trong Luật thương mại năm 2005. Ở Việt Nam hiện nay, khái niệm “hoạt động thương mại” đồng nghĩa với khái niệm “hoạt động kinh doanh”.

Khoản 1 Điều 3 Luật thương mại năm 2005 quy định: “Hoạ động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gom mua ban hang hoá, cung ung dịch vu, đâu tư, xúc tiễn thương mại và các hoạt động nhằm mục dich sinh lợi khác”. Hoạt động kinh doanh cũng là hoạt động nhăm mục đích sinh lợi. Sự đồng nhất khái niệm hoạt động thương mại và hoạt động kinh doanh dẫn đến việc đồng nhất khái niệm hợp đồng trong thương mại và hợp đồng kinh doanh. Trên thế giới, khái niệm hợp đồng thương mại (hay còn gọi là hợp đồng kinh doanh) chỉ xuất hiện trong khoa học pháp lí ở các nước có hệ thong luật tư nhị nguyên, noi pháp luật dân sự và pháp luật thương mại tồn tại riêng biệt, độc lập như Pháp, Đức, Nhật Bản.

Ở những nước này, khái niệm hợp đồng thương mại không được quy định trong luật thực định mà được xây dựng trên cơ sở là giao dịch thương mai của hai hay nhiều chủ thé. Vì thé, nghiên cứu về hợp đồng thương mại chính là việc nghiên cứu các quy định pháp luật về giao dịch thương mại. Tuy nhiên, cũng không có khái niệm chung và thống nhất về giao dịch thương mại ở các nước này. Có hai trường phái xác định giao dịch thương mại là trường phái chủ thể và trường phái khách thể.

Theo trường phái chủ thể, mọi giao dịch do thương nhân thực hiện trong hoạt động thương mại được coi là giao dịch thương mai. Vi du, Bộ luật thương mại Đức quy định giao dịch thương mại là mọi giao dịch của thương nhân thực hiện trong quá trình hành nghề thương mai (Điều 343). Theo trường phái khách thể, một giao dịch được coi là giao dịch thương mại nếu được chính các nhà làm luật gọi như vậy, tức là được chỉ rõ trong Bộ luật thương mại những giao dịch nào là giao dịch thương mai. Vi du, Bộ luật thương mại Pháp liệt kê những giao dịch được coi là giao dịch thương mại bất kế chủ thê là ai.

Còn Bộ luật thương mại Đức, bên cạnh việc xác định giao dịch thương mại dựa trên yêu tố chủ thé còn đồng thời dựa trên yêu tố khách thê khi coi giao dịch thương mại là những giao dịch được hình thành trong hoạt động thương mại. Một điểm cần lưu ý là tuy phân biệt pháp luật dân sự và pháp luật thương mại nhưng các nước này chỉ quan niệm giao dịch thương mại là một dạng của giao dịch dân sự. Vì thế, pháp luật thương mại được áp dụng với tư cách là luật riêng, chuyên ngành, 10 còn pháp luật dân sự là luật chung khi điều chỉnh các quan hệ hợp đồng thương mại. Như vậy, có thé thay hợp đồng thương mai chỉ là dạng đặc thù của hợp đồng dân sự.

Ở các nước theo truyền thống pháp luật Anh - Mỹ không phân biệt pháp luật dân sự và pháp luật thương mại, vì thế, cũng không có khái niệm hợp đồng thương mại.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Giáo trình hợp đồng đặc thù và kỹ năng đàm phán trong thương mại - Đại học Luật Hà Nội là một tài liệu chuyên sâu, cung cấp kiến thức toàn diện về các loại hợp đồng đặc thù trong thương mại và kỹ năng đàm phán hiệu quả. Tài liệu này không chỉ giúp người đọc hiểu rõ các quy định pháp lý liên quan đến hợp đồng mà còn trang bị những kỹ thuật đàm phán thực tiễn, giúp tối ưu hóa lợi ích trong các giao dịch thương mại. Đây là nguồn tham khảo quý giá cho sinh viên, luật sư, và các chuyên gia trong lĩnh vực pháp lý và kinh doanh.

Để mở rộng kiến thức về hợp đồng và tranh chấp thương mại, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa từ thực tiễn xét xử sơ thẩm của tòa án nhân dân quận 1 thành phố hồ chí minh, nghiên cứu sâu về các vụ việc thực tế. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ hủy bỏ hợp đồng theo pháp luật thương mại ở việt nam hiện nay cung cấp góc nhìn chi tiết về quy trình và hậu quả pháp lý của việc hủy bỏ hợp đồng. Cuối cùng, Luận văn pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa và thực tiễn áp dụng tại công ty cổ phần tư vấn và xây dựng lam kinh 2 sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về cách áp dụng pháp luật trong thực tiễn doanh nghiệp.