Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hóa, các hoạt động thương mại tại Việt Nam phát triển phong phú, kéo theo sự gia tăng về số lượng, quy mô và tính chất phức tạp của các tranh chấp thương mại. Mặc dù các phương thức giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án (ADR) như thương lượng, hòa giải tại Trung tâm Hòa giải Việt Nam (VMC) hay trọng tài tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) sở hữu nhiều ưu điểm về tính bảo mật và sự linh hoạt, Tòa án nhân dân vẫn là cơ chế tài phán phổ biến nhất được các bên lựa chọn.
| Cơ quan / Tổ chức giải quyết tranh chấp |
Số lượng vụ việc tiếp nhận / thụ lý năm 2021 |
| Trung tâm Hòa giải Việt Nam (VMC) |
24 vụ |
| Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) |
270 vụ |
| Hệ thống Tòa án nhân dân (theo TANDTC) |
16.577 vụ |
Số liệu thống kê từ Tòa án nhân dân tối cao cho thấy quy mô thụ lý vụ án kinh doanh, thương mại liên tục duy trì ở mức cao qua các năm:
| Năm |
Số lượng vụ án thương mại Tòa án thụ lý (vụ) |
| 2018 |
15.439 |
| 2019 |
14.517 |
| 2020 |
19.256 |
| 2021 |
16.577 |
| 2022 |
16.661 |
Phần lớn các vụ việc tập trung vào lĩnh vực tài chính, ngân hàng và mua bán hàng hóa. Hiện nay, trình tự, thủ tục tố tụng giải quyết loại tranh chấp này được điều chỉnh bởi Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS) năm 2015. Tuy nhiên, việc áp dụng các quy định tố tụng đang bộc lộ nhiều điểm bất cập, từ khâu xác định thẩm quyền, phân loại tranh chấp, đến nhận thức chủ quan của Thẩm phán khi nghiên cứu hồ sơ, dẫn tới tình trạng án kéo dài hoặc bị hủy, sửa để xét xử lại.
Khóa luận xác định các mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp thương mại bằng Tòa án, làm cơ sở tiếp cận hệ thống quy định pháp luật Việt Nam.
- Phân tích thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại bằng Tòa án tại Việt Nam thông qua hệ thống quy phạm pháp luật nội dung và pháp luật hình thức.
- Nghiên cứu thực tiễn thi hành pháp luật giai đoạn 2020–2022, từ đó đề xuất các định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tế.
Để đạt được mục tiêu trên, tác giả triển khai ba nhiệm vụ nghiên cứu:
- Xác định khung lý luận chung: khái niệm, đặc điểm tranh chấp thương mại và phương thức tài phán Tòa án.
- Phân tích toàn diện các quy định của BLTTDS năm 2015 và các đạo luật chuyên ngành điều chỉnh thẩm quyền và thủ tục giải quyết vụ án.
- Đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật thông qua số liệu thực tiễn của hệ thống Tòa án nhân dân và các vụ án cụ thể, chỉ ra nguyên nhân của những tồn tại.
Đối tượng nghiên cứu là hệ thống quy định pháp luật hiện hành về giải quyết tranh chấp thương mại bằng Tòa án (bao gồm luật nội dung và luật hình thức/tố tụng), cùng thực tiễn áp dụng tại Tòa án nhân dân. Phạm vi nghiên cứu về nội dung tập trung vào lý luận và quy phạm tố tụng dân sự; phạm vi không gian là lãnh thổ Việt Nam; phạm vi thời gian tập trung vào giai đoạn thi hành BLTTDS năm 2015, khảo cứu thực tiễn số liệu từ năm 2018 đến năm 2022 (trọng tâm là 2020–2022).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khóa luận được xây dựng dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về cải cách tư pháp và xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Khung pháp lý được tác giả sử dụng làm nền tảng đối chiếu và phân tích bao gồm:
- Pháp luật trong nước: Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989, Pháp lệnh Trọng tài kinh tế năm 1990, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994, BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011), BLTTDS năm 2015, Luật Thương mại năm 1997 và năm 2005, Luật Doanh nghiệp năm 2014 và năm 2020, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP và Công văn hướng dẫn nghiệp vụ số 212/TANDTC-PC ngày 13/09/2019 của TANDTC.
- Pháp luật và thiết chế quốc tế: Luật Mẫu UNCITRAL về Trọng tài thương mại quốc tế, các quy tắc giải quyết tranh chấp của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Công ước New York năm 1958 về công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài; các văn bản tố tụng và thương mại nước ngoài như Federal Rules of Civil Procedure năm 1938 của Hoa Kỳ, Civil Procedure Rules năm 2000 của Anh, Bộ luật Thương mại Đức năm 1897 (Handelsgesetzbuch), Bộ luật Thương mại Pháp năm 2021 (Code de commerce), Bộ luật Dân sự Ý năm 1942 (Codice civile), và Bộ luật Thương mại Tây Ban Nha năm 1885 (Código de comercio).
Tác giả sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành pháp lý:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: mổ xẻ từng quy phạm tố tụng về thẩm quyền, thời hiệu, thủ tục khởi kiện, hòa giải, xét xử, đồng thời hệ thống hóa các quan điểm lý luận về tranh chấp thương mại.
- Phương pháp so sánh luật học: so sánh các quy định giữa BLTTDS năm 2004 và BLTTDS năm 2015; so sánh mô hình gộp thủ tục thương mại vào tố tụng dân sự chung (Việt Nam, Anh, Hoa Kỳ) với mô hình tách riêng thủ tục tòa án thương mại trong luật tư (Đức, Pháp, Ý, Tây Ban Nha).
- Phương pháp logic và giải quyết vấn đề: gắn kết giữa quy định pháp luật thực định với các vướng mắc từ thực tế xét xử để tìm ra lỗ hổng lập pháp và đề xuất giải pháp.
Nguồn dữ liệu của khóa luận gồm các văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo tổng kết công tác nhiệm kỳ và công tác năm của Tòa án nhân dân tối cao (từ 2018 đến 2022), Báo cáo thường niên năm 2021 của VIAC, số liệu thụ lý của VMC năm 2021, cùng các bản án thực tế được công bố trên Cổng thông tin điện tử công bố bản án của Tòa án nhân dân tối cao.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những vấn đề chung về giải quyết tranh chấp thương mại bằng Tòa án và pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại bằng Tòa án tại Việt Nam
Chương này tập trung xây dựng cơ sở lý luận về tranh chấp thương mại và phương thức tài phán Tòa án. Tác giả tổng hợp định nghĩa từ các tổ chức quốc tế và luật pháp Việt Nam qua các thời kỳ: từ quan niệm hẹp chỉ giới hạn trong 3 nhóm hoạt động tại Điều 238 Luật Thương mại năm 1997 dẫn đến xung đột với Công ước New York 1958, đến sự mở rộng khái niệm "hoạt động thương mại" vì mục đích sinh lợi tại Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003, Luật Thương mại năm 2005 và Điều 30 BLTTDS năm 2015. Trên cơ sở đó, tranh chấp thương mại được khái quát là những mâu thuẫn, bất đồng hay xung đột về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quá trình thực hiện các hoạt động thương mại.
Khóa luận chỉ rõ 4 đặc điểm cốt lõi của tranh chấp thương mại:
- Về chủ thể: chủ yếu phát sinh giữa các thương nhân, nhưng vẫn bao gồm cá nhân, tổ chức không phải thương nhân nếu các bên thỏa thuận áp dụng Luật Thương mại.
- Về lĩnh vực phát sinh: phát sinh trực tiếp từ hoạt động thương mại sinh lợi (mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đại lý, ủy thác, xây dựng...).
- Về cách thức giải quyết: các bên có quyền tự định đoạt phương thức (thương lượng, hòa giải, trọng tài, tòa án).
- Về tính chất: mang tính chất tài sản và thường có giá trị tranh chấp lớn.
Khái niệm giải quyết tranh chấp thương mại bằng Tòa án được xác định là phương thức tài phán do cơ quan xét xử nhân danh quyền lực nhà nước thực hiện theo trình tự, thủ tục nghiêm ngặt; bản án, quyết định có hiệu lực được bảo đảm bằng sức mạnh cưỡng chế nhà nước. Phương thức này mang 5 đặc điểm: chỉ phát sinh khi có đơn khởi kiện hợp thức; nhân danh quyền lực nhà nước với tính bắt buộc thi hành tuyệt đối; tuân theo thủ tục tố tụng tư pháp hai cấp (sơ thẩm, phúc thẩm) và thủ tục xét lại bản án (giám đốc thẩm, tái thẩm); chịu sự điều chỉnh đồng thời của luật tố tụng và luật nội dung chuyên ngành (Luật Doanh nghiệp, Luật Sở hữu trí tuệ...); bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực ngay mà có thể bị kháng cáo, kháng nghị.
Phần lịch sử hình thành điểm lại bước chuyển từ giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài kinh tế theo Pháp lệnh năm 1990 sang thiết chế Tòa án theo Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế ngày 16/03/1994, tiếp nối bởi BLTTDS năm 2004 và hoàn thiện tại BLTTDS năm 2015. Về mặt so sánh quốc tế, tác giả phân chia thế giới thành hai nhóm: nhóm giải quyết tranh chấp thương mại theo thủ tục tố tụng dân sự chung (Hoa Kỳ, Anh, Việt Nam) và nhóm ban hành luật tố tụng thương mại hoặc tòa án thương mại chuyên trách trong luật tư (CHLB Đức, Pháp, Ý, Tây Ban Nha). Tác giả nhận định cách tiếp cận của Việt Nam bảo đảm tính đồng bộ của hệ thống tố tụng nhưng lại tạo ra rào cản về tính chuyên môn sâu của đội ngũ Thẩm phán, đặc biệt ở cấp huyện.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại bằng Tòa án
Chương 2 phân tích chi tiết quy phạm thực định và thực tiễn thi hành. Tác giả luận giải 5 nguyên tắc tố tụng cơ bản chi phối việc giải quyết tranh chấp thương mại:
- Quyền tự định đoạt của đương sự (Điều 5 BLTTDS năm 2015).
- Bình đẳng trước pháp luật (Điều 10 Luật Thương mại năm 2005, Điều 8 BLTTDS năm 2015).
- Tòa án chỉ tiến hành thu thập, xác minh chứng cứ trong các trường hợp luật định nhằm thúc đẩy tính chủ động của đương sự (Khoản 2 Điều 6 BLTTDS năm 2015).
- Tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải và tạo điều kiện cho các bên tự thỏa thuận (Điều 11 Luật Thương mại năm 2005, Điều 10 BLTTDS năm 2015).
- Xét xử kịp thời, công bằng, công khai, ngoại trừ các vụ việc cần giữ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ (Điều 15 BLTTDS năm 2015).
Về thẩm quyền giải quyết:
- Thẩm quyền theo vụ việc (Điều 30 BLTTDS năm 2015): Tác giả chỉ ra kỹ thuật lập pháp thiếu chuẩn xác tại Khoản 4 Điều 30 khi dùng thuật ngữ "người quản lý" của công ty TNHH nhưng lại liệt kê chi tiết chức danh quản lý của công ty cổ phần, đồng thời bỏ sót người quản lý của công ty hợp danh và giám đốc được thuê của doanh nghiệp tư nhân; việc chèn cụm từ "bàn giao lại tài sản" vào giữa quy định tổ chức lại doanh nghiệp gây mập mờ trong áp dụng. Tại Khoản 5 Điều 30, quy định loại trừ thẩm quyền của cơ quan, tổ chức khác tạo ra vướng mắc: nếu tranh chấp có thỏa thuận trọng tài nhưng thỏa thuận vô hiệu hoặc không thể thực hiện thì quy định hiện hành dễ dẫn đến việc Tòa án từ chối thụ lý.
- Thẩm quyền theo cấp xét xử: Phân định giữa TAND cấp huyện (Khoản 1 Điều 35 giải quyết các tranh chấp quy định tại Khoản 1 Điều 30) và TAND cấp tỉnh (Điều 37 giải quyết các tranh chấp tại Khoản 2, 3, 4 Điều 30, tranh chấp có yếu tố nước ngoài hoặc tự mình lấy lên thụ lý theo Khoản 2 Điều 37).
- Thẩm quyền theo lãnh thổ (Điều 39 BLTTDS năm 2015): Phân định theo nơi cư trú/trụ sở của bị đơn; theo thỏa thuận chọn nơi cư trú/trụ sở nguyên đơn; hoặc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án nơi có bất động sản đối với các tranh chấp mà đối tượng là bất động sản.
Về trình tự, thủ tục tố tụng: Khóa luận hệ thống hóa toàn bộ các bước:
- Khởi kiện và thụ lý: Thời hiệu khởi kiện 2 năm (Điều 319 Luật Thương mại năm 2005; ngoại lệ 9 tháng đối với dịch vụ logistics theo Điều 237). Nộp đơn trực tiếp, qua bưu chính hoặc cổng thông tin điện tử (Điều 189, 190); nộp tạm ứng án phí trong thời hạn 7 ngày theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 và Điều 195; Tòa án thông báo thụ lý trong 3 ngày làm việc (Điều 196); bị đơn có 15 ngày để nộp ý kiến, văn bản phản tố hoặc yêu cầu độc lập (Điều 199, 200, 201).
- Hòa giải và chuẩn bị xét xử: Trình tự mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.
- Phiên tòa sơ thẩm: Xử lý sự vắng mặt của đương sự (Điều 227, 228, 241); thủ tục thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu khởi kiện (Điều 243, 244); công nhận sự thỏa thuận (Điều 246); trình tự nghị án và tuyên án (Điều 264, 267).
- Thủ tục phúc thẩm: Kháng cáo trong thời hạn 15 ngày; Viện kiểm sát cùng cấp kháng nghị 15 ngày, Viện kiểm sát cấp trên kháng nghị 1 tháng (Điều 271, 278, 280). Thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm 2 tháng, được gia hạn không quá 1 tháng (Điều 288, 289, 290).
- Xét lại bản án: Kháng nghị giám đốc thẩm trong 3 năm (kéo dài thêm 3 năm theo Khoản 2 Điều 334) với thời hạn mở phiên tòa 4 tháng (Điều 341, 343); kháng nghị tái thẩm trong thời hạn 1 năm kể từ ngày biết căn cứ (Điều 352, 356).
Đánh giá thực tiễn áp dụng qua số liệu giai đoạn 2020–2022:
- Tỷ lệ giải quyết sơ thẩm đạt mức cao (năm 2020: 78,4%; năm 2021: 80,1%; năm 2022: 76,6%).
- Tỷ lệ quyết định giám đốc thẩm và tái thẩm duy trì ở mức rất thấp (giám đốc thẩm: 1% năm 2020, 0,9% năm 2021, 0,7% năm 2022; tái thẩm: 0% năm 2020, 0,2% năm 2021, 0,1% năm 2022), cho thấy đa số bản án được giải quyết dứt điểm ở cấp sơ thẩm và phúc thẩm.
- Tác giả phân tích Bản án số 17/2021/KDTM-ST ngày 31/05/2021 của TAND huyện Bình Chánh, TP. Hồ Chí Minh giữa Công ty CP HSQ VN và Công ty CP Công nghiệp Giấy TT như một trường hợp điển hình áp dụng chuẩn xác thẩm quyền, thời hiệu, thủ tục xét xử vắng mặt bị đơn theo Điều 227, 228 BLTTDS và buộc bị đơn thanh toán 142.349.016 đồng nợ gốc cùng 7.117.451 đồng án phí sơ thẩm.
Mặt tồn tại và hạn chế trong áp dụng pháp luật:
- Tố tụng cứng nhắc, nguyên tắc xét xử công khai làm tổn hại bí mật kinh doanh và uy tín doanh nghiệp.
- Tình trạng quá tải án tại TAND cấp huyện đi kèm việc thiếu Thẩm phán chuyên trách về thương mại, ngân hàng, sở hữu trí tuệ; phán quyết thiếu tính công nhận quốc tế do Việt Nam chưa gia nhập điều ước quốc tế đa phương về công nhận bản án thương mại.
- Sai sót nghiệp vụ dẫn đến hủy, sửa án: Tác giả dẫn chứng Bản án số 19/2019/DS-PT ngày 21/01/2019 của TAND tỉnh Tiền Giang hủy Bản án sơ thẩm số 308/2018/DS-ST của TAND huyện C do Thẩm phán cấp sơ thẩm áp dụng sai luật nội dung (áp dụng các Điều 542, 544, 547, 357 BLDS năm 2015 thay vì áp dụng Điều 178, 183, 306, 317, 319 Luật Thương mại năm 2005 để giải quyết tranh chấp hợp đồng gia công).
- Mâu thuẫn giữa quy định tố tụng và thực tiễn: vướng mắc điều kiện "phải có đăng ký kinh doanh với nhau" tại Khoản 1 Điều 30 BLTTDS năm 2015 (xung đột quan điểm giữa Công văn 212/TANDTC-PC ngày 13/09/2019 và Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP); vướng mắc phân định thẩm quyền lãnh thổ đối với bất động sản dẫn đến đùn đẩy thụ lý giữa TAND quận Hai Bà Trưng và TAND quận Ba Đình, TP. Hà Nội theo Công văn số 45/2019/CV-TA.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả việc thực hiện pháp luật giải quyết tranh chấp thương mại bằng Tòa án tại Việt Nam
Trên cơ sở nhận diện hạn chế tại Chương 2, Chương 3 đề xuất định hướng và các nhóm giải pháp:
- Phương hướng: Bám sát đường lối đổi mới tư pháp của Đảng, hoàn thiện hệ thống thể chế kinh tế thị trường, nâng cao tính khả thi, minh bạch và dân chủ của tố tụng tư pháp.
- Giải pháp lập pháp: Biên tập lại kỹ thuật lập pháp tại Điều 30 BLTTDS năm 2015; làm rõ khái niệm người quản lý doanh nghiệp; chuẩn hóa quy định thẩm quyền loại trừ với trọng tài; ban hành nghị quyết hướng dẫn thống nhất tiêu chí "mục đích lợi nhuận" và điều kiện "đăng ký kinh doanh"; hướng dẫn cụ thể việc xác định thẩm quyền lãnh thổ khi đối tượng tranh chấp liên quan đến quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng mua bán bất động sản.
- Giải pháp tổ chức thực thi: Nâng cao trình độ nghiệp vụ, đào tạo chuyên sâu về thương mại quốc tế, sở hữu trí tuệ cho đội ngũ Thẩm phán và Thư ký Tòa án; bảo đảm chế độ và cơ sở vật chất xét xử; tăng cường phối hợp liên ngành giữa Tòa án với các cơ quan đăng ký kinh doanh, ngân hàng, quản lý đất đai; đẩy mạnh phổ biến pháp luật cho cộng đồng thương nhân để nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật và tiếp cận công lý.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp và phản ánh bức tranh thực tiễn giải quyết tranh chấp thương mại tại hệ thống Tòa án nhân dân trong giai đoạn 2020–2022 thông qua các số liệu thống kê chính thức từ Tòa án nhân dân tối cao:
| Năm |
Tổng số vụ việc thụ lý, giải quyết sơ thẩm |
Tổng số bản án ban hành |
Tỷ lệ bản án sơ thẩm (%) |
Tỷ lệ bản án phúc thẩm (%) |
Tỷ lệ quyết định giám đốc thẩm (%) |
Tỷ lệ quyết định tái thẩm (%) |
| 2020 |
19.256 |
3.433 |
78,4% |
20,6% |
1,0% |
0,0% |
| 2021 |
16.557 |
3.146 |
80,1% |
18,8% |
0,9% |
0,2% |
| 2022 |
16.661 |
5.011 |
76,6% |
22,6% |
0,7% |
0,1% |
Về mặt giải pháp, tác giả đóng góp các kiến nghị lập pháp và thực thi cụ thể:
- Kiến nghị sửa đổi, chuẩn hóa kỹ thuật soạn thảo Khoản 4 Điều 30 BLTTDS năm 2015 nhằm bao quát đầy đủ tư cách chủ thể quản lý của công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân và bóc tách cụm từ "bàn giao lại tài sản" ra khỏi các hình thức tổ chức lại doanh nghiệp.
- Đề xuất TANDTC ban hành nghị quyết hướng dẫn tiêu chí xác định tính chất thương mại: không phụ thuộc tuyệt đối vào việc các bên có đăng ký kinh doanh hay không mà căn cứ vào mục đích sinh lợi của giao dịch, giải tỏa vướng mắc giữa Công văn 212/TANDTC-PC và Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP.
- Ban hành tiêu chí rõ ràng phân định thẩm quyền theo Điều 39 BLTTDS năm 2015: tách biệt giữa tranh chấp đòi lại tài sản/quyền sở hữu bất động sản (thẩm quyền Tòa án nơi có bất động sản) với tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại mà đối tượng là quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan đến bất động sản (thẩm quyền Tòa án nơi bị đơn cư trú/có trụ sở).
- Đẩy mạnh thành lập Tòa chuyên trách kinh tế tại cấp huyện và bồi dưỡng chuyên sâu kỹ năng xét xử án thương mại phức tạp cho Thẩm phán.
So với các công trình trước đây chỉ khảo cứu tại một địa phương nhất định (Trần Văn Anh năm 2018 tại Lào Cai; Phạm Thị Duyên năm 2019 tại Nam Định; Đỗ Thảo Ngân năm 2021 tại Ba Đồn, Quảng Bình) hoặc đã có khoảng lùi thời gian (Phạm Thị Ban năm 2012), công trình của Nguyễn Hồng Anh đã cập nhật toàn diện số liệu trên phạm vi cả nước giai đoạn 2020–2022, luận giải các xung đột áp dụng pháp luật mới phát sinh từ thực tiễn hướng dẫn nghiệp vụ của TANDTC.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận có một số giới hạn xuất phát từ phạm vi nghiên cứu thực tế:
- Tài liệu tập trung phân tích sâu vào thực tiễn xét xử sơ thẩm và thủ tục tố tụng nội địa của Tòa án nhân dân, chưa đi sâu phân tích cơ chế thi hành các phán quyết trọng tài thương mại quốc tế hoặc thủ tục công nhận bản án thương mại của Tòa án nước ngoài tại Việt Nam.
- Dữ liệu nghiên cứu thực tiễn tập trung chủ yếu vào nhóm tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa, tín dụng ngân hàng và quản lý nội bộ doanh nghiệp; các dạng tranh chấp thương mại phi truyền thống (thương mại điện tử, logistics phức hợp, phái sinh hàng hóa qua sở giao dịch) mới chỉ được đề cập ở mức độ khái quát.
Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát chuyên sâu về cơ chế giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại có yếu tố nước ngoài, hoàn thiện mô hình Tòa án chuyên trách sở hữu trí tuệ và thương mại quốc tế, cũng như xây dựng quy chế tố tụng điện tử hoàn chỉnh cho các giao dịch thương mại số tại Tòa án.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Dân sự và Tố tụng Dân sự: nắm bắt toàn diện cơ sở lý luận, tiến trình lập pháp và kỹ thuật phân tích các điều khoản của BLTTDS năm 2015.
- Cán bộ thực tiễn (Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Luật sư, cán bộ pháp chế doanh nghiệp): tham khảo phân tích tại Chương 2 về các lỗi tố tụng điển hình gây hủy, sửa án (như việc áp dụng nhầm BLDS thay vì Luật Thương mại, sai sót trong thụ lý thẩm quyền lãnh thổ đối với căn hộ chung cư, giải quyết vắng mặt đương sự theo Điều 227, 228).
- Nhà nghiên cứu lập pháp: tham khảo các kiến nghị cụ thể về kỹ thuật lập pháp tại Điều 30 BLTTDS năm 2015 và các đề xuất ban hành văn bản hướng dẫn nghiệp vụ của Hội đồng Thẩm phán TANDTC.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận phân tích tỷ lệ giải quyết vụ án thương mại qua các cấp xét xử trong giai đoạn 2020–2022 như thế nào?
Dựa trên báo cáo công bố bản án của TANDTC, tỷ lệ giải quyết sơ thẩm luôn chiếm đa số (78,4% năm 2020; 80,1% năm 2021; 76,6% năm 2022). Tỷ lệ bản án phúc thẩm dao động từ 18,8% đến 22,6%. Tỷ lệ xem xét theo thủ tục đặc biệt rất thấp: giám đốc thẩm giảm dần từ 1,0% (2020) xuống 0,9% (2021) và 0,7% (2022); tái thẩm chỉ chiếm 0% (2020), 0,2% (2021) và 0,1% (2022). Điều này cho thấy hầu hết các tranh chấp kết thúc hiệu lực ở hai cấp xét xử sơ thẩm và phúc thẩm.
2. Điểm bất cập trong kỹ thuật lập pháp tại Khoản 4 Điều 30 BLTTDS năm 2015 được tác giả chỉ ra là gì?
Khoản 4 Điều 30 sử dụng thuật ngữ "người quản lý" đối với công ty TNHH nhưng lại chuyển sang liệt kê cụ thể chức danh "Thành viên HĐQT, Giám đốc, Tổng giám đốc" của công ty cổ phần, dẫn tới bỏ sót người quản lý của công ty hợp danh và Giám đốc được thuê tại doanh nghiệp tư nhân. Ngoài ra, việc chèn cụm từ "bàn giao lại tài sản của công ty" vào giữa các hình thức tổ chức lại doanh nghiệp (thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi) là thiếu logic và gây hiểu lầm trong thực tế áp dụng.
3. Vấn đề "đăng ký kinh doanh" giữa BLTTDS năm 2015 và hướng dẫn của TANDTC đang có xung đột ra sao?
Khoản 1 Điều 30 BLTTDS năm 2015 quy định tranh chấp phát sinh giữa "cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận". Công văn số 212/TANDTC-PC ngày 13/09/2019 giải thích theo hướng hình thức: cả hai bên đều phải có đăng ký kinh doanh (nếu bên mua bảo hiểm không đăng ký kinh doanh thì xác định là vụ án dân sự). Ngược lại, điểm b Khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP lại xác định theo bản chất mục đích lợi nhuận: tranh chấp mà một hoặc các bên không có đăng ký kinh doanh nhưng đều có mục đích lợi nhuận thì vẫn thuộc thẩm quyền Tòa Kinh tế. Sự thiếu thống nhất này gây lúng túng cho Tòa án địa phương khi thụ lý.
4. Vì sao Bản án số 308/2018/DS-ST của TAND huyện C, tỉnh Tiền Giang bị cấp phúc thẩm hủy/sửa?
Theo Bản án phúc thẩm số 19/2019/DS-PT ngày 21/01/2019 của TAND tỉnh Tiền Giang, TAND huyện C đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và áp dụng sai luật nội dung. Vụ việc tranh chấp hợp đồng gia công giữa Công ty TNHH C và Công ty TNHH D là tranh chấp thương mại, lẽ ra phải áp dụng các Điều 178, 183, 306, 317, 319 của Luật Thương mại năm 2005 để xác định trách nhiệm trả lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ, nhưng Tòa cấp sơ thẩm lại căn cứ vào các Điều 542, 544, 547 và 357 của BLDS năm 2015.
5. Vướng mắc về thẩm quyền Tòa án theo lãnh thổ liên quan đến bất động sản thể hiện qua trường hợp nào?
Trường hợp nêu tại Công văn số 45/2019/CV-TA của TAND quận Hai Bà Trưng gửi TAND TP. Hà Nội: Người mua căn hộ khởi kiện chủ đầu tư vi phạm hợp đồng về diện tích hành lang, dịch vụ tiện ích, cấp nước và chậm làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận. TAND quận Hai Bà Trưng xác định đối tượng tranh chấp là quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng mua bán (khoản 3 Điều 26 BLTTDS năm 2015) nên chuyển vụ án về TAND quận Ba Đình (nơi bị đơn cư trú). Tuy nhiên, TAND quận Ba Đình lại trả lời đối tượng tranh chấp là nhà ở (bất động sản) nên thuộc thẩm quyền riêng biệt của TAND quận Hai Bà Trưng theo điểm c Khoản 1 Điều 39 BLTTDS năm 2015.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Hồng Anh đã làm sáng tỏ một cách có hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn thi hành pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại bằng Tòa án tại Việt Nam. Thông qua việc phân tích thực chứng số liệu thống kê giai đoạn 2020–2022 và các bản án thực tế, công trình chỉ rõ những bất cập về kỹ thuật lập pháp tại Điều 30 BLTTDS năm 2015 cũng như các vướng mắc trong xác định thẩm quyền và áp dụng luật nội dung của Thẩm phán. Các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp thực thi được đề xuất có giá trị khoa học và tính ứng dụng thực tiễn cao, đóng góp thiết thực cho công tác hoàn thiện thể chế tố tụng dân sự và nâng cao hiệu quả xét xử án kinh doanh, thương mại.