CHƯƠNG 1: TONG QUAN VE QUANG CÁO MỸ PHAM VA PHAP LUAT VE QUANG CAO MY PHAM 1. Khai quát về mỹ phẩm 1. Khái quát và đặc điểm của mỹ phẩm Hiểu theo nghĩa chung nhất, mỹ phẩm là những sản phẩm được chế tạo nham mục đích làm sạch cơ thé, làm tăng vẻ đẹp, sự hấp dẫn, làm thay đôi diện mạo bên ngoài, giúp bảo vệ và nuôi dưỡng cơ thé. Tại khoản 1, Điều 2, Thông tư số 06/2011/TT-BYT ngày 25 tháng 01 năm 2011 của Bộ.
Y tế quy định về quan lý mỹ phẩm có định nghĩa như sau: “Sdn phẩm mỹ phẩm là một chất hay chế phẩm được sử dụng để tiếp xúc với những bộ phận bên ngoài cơ thể con người (da, hệ thống lông tóc, móng tay, móng chân, môi và cơ quan sinh dục ngoài) hoặc rang và niêm mạc miệng voi mục đích chính là dé làm sạch, làm thom, thay đối diện mao, hình thức, điều chỉnh mùi cơ thể, bảo vệ cơ thể hoặc giữ cơ thể trong điều kiện tốt”. Định nghĩa mỹ phẩm của Bộ Y tế cũng là định nghĩa của Liên minh Châu âu (EU), trong khi đó FDA của Mỹ định nghĩa: "mp phẩm dự định sẽ được áp dụng doi với cơ thể con người để làm sạch, làm đẹp, tạo sự hấp dan hoặc làm thay đổi sự xuất hiện mà không ảnh hưởng đến cấu trúc của cơ thể hoặc chức năng". Như vậy, mỹ pham là sản phẩm khi con người sử dụng sẽ ảnh hưởng tới sức khỏe của con người, nên mỹ phẩm được xem như là sản phẩm, hàng hóa đặc biệt. Từ định nghĩa trên về sản phẩm mỹ phẩm, có thé rút ra một vai đặc điểm của mỹ phẩm như sau: Thứ nhất, mỹ pham là chất hay chế phẩm dùng dé tiếp xúc với những bộ phận bên ngoài cơ thé con người như da, tóc, móng tay, móng chân.
Thứ hai, tác dụng hay mục đích chính của sản phẩm mỹ phẩm là nhằm lam sạch, làm thơm, hoặc thay đôi diện mạo, hình thức, điều chỉnh mùi cơ thể, bảo vệ co thé hoặc giữ cơ thé trong điều kiện tốt. Thông thường, khi nói đến mỹ phẩm, chúng ta chỉ quan tâm đến chức năng chính mà mỹ phẩm mang lại đó là chức năng làm đẹp cho người sử dụng. Tuy nhiên, trên thực tế, việc sử dụng mỹ phẩm ngoài làm tăng vẻ đẹp và sự hấp dẫn còn có chức năng bảo vệ, giữ gin cơ thé một cách tốt nhất. Đây là một trong những tác dụng tích cực của mỹ phẩm đối với người sử dụng.
Tuy nhiên, thành phần công thức chủ yếu có trong mỹ phẩm bao gồm chất bảo quản và chất tạo mùi thơm. Hai chất này lại là nguyên nhân phổ biến nhất gây ra các van dé da. Chất bảo quản nhằm ngăn chặn vi khuẩn và nắm phát triển trong các sản phẩm va bảo vệ sản phẩm khỏi bị hư hại gây ra bởi không khí hoặc ánh sáng. Nhưng chất bảo quản cũng có thể gây ra cho da bị kích thích và bị nhiễm bệnh, gây ảnh hưởng tới sức khỏe của người tiêu dùng [11].
Trong khi đó, Khoản 12, Điều 2, Luật Quảng cáo năm 2012 có quy định: “Sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đặc biệt là sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người và môi trưởng”. Do đó, dưới góc độ pháp luật thương mại nói chung và pháp luật quảng cáo nói riêng, mỹ phẩm được coi là một loại hàng hóa, một loại hàng hóa đặc biệt do tác dụng của nó khi sử dụng ảnh hưởng tới sức khỏe, thâm mỹ của con người. Phân loại mỹ phẩm Mỹ phẩm là loại hàng hóa đặc biệt, không dé dàng dé phân loại sản phẩm. Vi vậy, ngày 10 tháng 02 năm 2013, Cục quản lý dược đã ban hành Công văn số 1609/QLD-MP hướng dẫn về việc phân loại mỹ phẩm, công bố tính năng mỹ phẩm.
Theo đó, “Tiéu chí dé phân loại sản phẩm mỹ phẩm dựa vào tinh năng, mục đích sử dụng, thành phân công thức, đường dùng của sản phẩm và định nghĩa về mỹ phẩm quy định tại Khoản 1 Điều 2 Thông tư số 06/2011/TT-BYT ngày 25/01/2011”. Căn cứ vào hướng dan này, có có thé phân loại mỹ phẩm theo các tiêu chí sau: 1. Căn cứ vào thành phần công thức mỹ phẩm Thanh phần công thức là các chất hoặc hỗn hợp các chất được cho vào dé thực hiện quá trình sản xuất mỹ phẩm. Căn cứ vào thành phần cấu tạo của mỹ phẩm, có 2 loại: mỹ phẩm từ thiên nhiên và mỹ phẩm hóa học.
- Mỹ phẩm thiên nhiên là các sản phẩm chứa thành phần chiết xuất từ thảo dược như: lá, vỏ cây, rễ, dau chiết xuất từ hạt, các loại trái cây. Bên cạnh đó, bùn, đất sét và các sản pham khoáng san, mật ong. cũng thường xuyên được sử dụng với hàm lượng gan như tuyệt đối 100%, tùy thuộc vào từng dòng thương hiệu mà thành phần tự nhiên có thể dao động trong khoảng trên 98% - 99.8%, như: sữa dưỡng trắng da từ nam, phan trang điểm có thành phan bột ngọc trai, sữa rửa mặt hồng sâm, son dưỡng môi mật ong, xà phòng tắm từ chanh, kem đánh răng trà xanh. - Mỹ phẩm hóa học là các sam phẩm chứa phan lớn các hợp chất hóa học do con người tạo ra từ các công thức hóa học.
Theo nghiên cứu tại Anh, Mỹ, EU, hau hết các mỹ phẩm đều là sự pha trộn của các chất nhân tạo[12]. Hiện nay, trong thành phan cấu tạo của mỹ phẩm các hợp chat hoá hoc dần được thay thế bằng nguyên liệu thiên nhiên thuần khiết. Những yếu tố sau không được coi là thành phần của mỹ phẩm: tạp chất có trong nguyên liệu; các nguyên liệu phụ gia kỹ thuật dùng trong pha chế nhưng không có trong sản phẩm cuối cùng: nguyên liệu dùng với lượng tối thiểu cần thiết ví dụ như: dung môi hoặc chất dẫn trong nước hoa và các thành phần làm thơm. Căn cứ vị trí sử dụng của mỹ phẩm trên cơ thé Dựa vào vị trí sử dụng của mỹ phẩm trên cơ thể, có 2 loại: sản phẩm tiếp xúc với những bộ phận bên ngoài của cơ thé (biểu bì, hệ thống tóc, móng, môi, bộ phận sinh dục ngoài) và sản phẩm tiếp xúc với răng, các màng nhay của khoang miệng.
- Mỹ phẩm tiếp xúc với bề ngoài co thé như: xà bông tắm, phan hồng, bút kẻ mắt, kem chải mi, dầu gội, dầu xả, thuốc nhuộm tóc, kem chống nang, son móng tay, son môi. - Mỹ phẩm tiếp xúc với răng, các màng nhay của khoang miệng như: kem đánh răng, nước súc miệng. Sản phẩm dùng để uống, tiêm hoặc tiếp xúc với những phần khác của co thé vi dụ như màng nhay của đường mũi hoặc các bộ phận sinh dục trong không được xem là mỹ phẩm. Căn cứ vào công dụng chính của mỹ phẩm, có 3 loại: mỹ pham làm sạch, làm thơm; mỹ phẩm điều chỉnh mùi cơ thé và mỹ phẩm bảo vệ, giữ gìn cơ thê trong những điều kiện tốt nhất.
- Mỹ phẩm làm sạch, thơm như: dau gội, sữa tắm, xà phòng, kem tây lông, kem cạo rau,. - Mỹ phẩm điều chỉnh mùi cơ thể như: nước hoa, nước/xà phòng khử mùi cơ thê. - Mỹ pham bảo vệ, giữ gìn cơ thé như: kém chống nắng, kem làm trang da, kem chống nhăn da, son chống nẻ. Những sản phẩm có mục đích khử trùng, khử khuẩn, kháng khuẩn chỉ được chấp nhận phù hợp với tinh năng sản pham mỹ phẩm nếu được công bồ là công dụng thứ hai của sản phẩm.
Ví dụ: sản phâm “xa phòng rửa tay” có công dụng thứ nhất là làm sạch da tay, công dung thứ hai là kháng khuẩn thì được chap nhận là mỹ pham 1. Khái quát về quảng cáo mỹ phẩm 1. Khái niệm và đặc điểm của quảng cáo mỹ phẩm Từ cả ngàn năm trước, con người đã biết cách làm quảng cáo. Theo các tài liệu còn ghi lại, cha đẻ của hình thức quảng cáo là một người Ai Cập cô.
Ông đã dán tờ thông báo đầu tiên trên tường thành Thebes vào khoảng năm 3000 trước Công nguyên [13]. Tuy nhiên, ngành quảng cáo chỉ thực sự phát triển khi cuộc 10 cách mạng công nghiệp bùng nỗ vào thé kỷ 19. May móc được chế tạo ra đã giúp sản xuất hàng hoá nhanh, rẻ và dễ dàng hơn. Sự cạnh tranh xuất hiện khi có nhiều nhà sản xuất làm ra cùng một loại hàng hoá khiến cung vượt cầu.
Muốn bán được hàng thì phải quảng cáo là điều tất yếu. Cho tới nay ngành quảng cáo đã đi được một chặng đường dài cùng với sự xuất hiện của nhiều kênh thông tin mới và các phương pháp quảng cáo mới. Trong tiếng Anh, “quảng cáo” là từ “advertise”, từ này xuất phát từ tiếng latinh “adverture” có nghĩa là sự thu hút lòng người, gây chú ý và viện dẫn, do đó từ “advertise” được giải nghĩa là sự gây chú ý ở người khác, thông báo cho người khác một sự kiện gi đó. IŠ 1] Tuần báo Quảng cáo Mỹ năm 1992 định nghĩa: “Quảng cáo là phương tiện biểu hiện, trong đó dùng sách báo, lời nói hoặc hình vẽ do chủ quảng cáo chỉ tién dé công khai tuyên truyền cho cá nhân, sản phẩm, dịch vụ, phong trào nhằm mục đích tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ, nhận được phiếu bau hoặc sự tán thành”.
Theo Từ điển Tiếng Việt, quảng cáo được định nghĩa như sau: “trinh bày để giới thiệu rộng rãi cho nhiều người biết nhằm tranh thủ được nhiều khách hàng”[10]. Với các cách định nghĩa như trên, có thể hiểu theo nghĩa rộng quảng cáo là hoạt động tuyên truyền nhằm tác động vào công chúng dé tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ. Dưới góc độ pháp ly, Luật thương mại năm 1997 định nghĩa: “Quảng cáo thương mại là hành vì thương mại của thương nhân nhằm giới thiệu hàng hóa, dịch vụ để xúc tiễn thương mai” (Điều 186). Đến khi Luật thương mại năm 2005 được ban hành, định nghĩa về quảng cáo đã được ghi nhận một cách cụ thê và rõ ràng hơn, theo đó, Quảng cáo thương mại là hoạt động xúc tiễn thương mại của thương nhân dé giới thiệu với khách hàng về hoạt động kinh doanh hang hoá, dich vụ của mình (Điều 102).
lãi Khoản 1, điều 2, Luật quảng cáo năm 2012 cũng đưa ra định nghĩa: Quảng cáo là việc sử dụng các phương tiện nhằm giới thiệu đến công chúng sản phẩm, hàng hóa, dich vụ có muc dich sinh lợi; san phẩm, dich vụ không có mục dich sinh lợi; tổ chức, cá nhân kinh doanh sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ được giới thiệu, trừ tin thời sự; chính sách xã hội, thông tin cả nhân. Căn cứ vào định nghĩa này có thể chia quảng cáo làm hai loại: quảng cáo có có mục đích sinh lời và quảng cáo không có mục đích sinh lời.