Chương 1 là chương giúp ta xác định cụ thể cho yếu tố liên quan đến đề tài như đối tượng, phương pháp, phạm vi, bố cục,. Để từ đó ta có thể tập trung và cụ thể hơn vào đề tài nghiên cứu tránh các trường hợp bị lạc đề, lang mang. 0 0 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ MARKETING VÀ MARKETING -MIX 2. KHÁT QUÁT MARKETING 2.
Khái niệm Marketing Marketing là một thuật ngữ, do đó Marketing không có tên gọi tương đồng trong tiếng Việt. Một số sách giáo trình Marketing Việt Nam cho rằng Marketing là “tiếp thị”, tuy nhiên, đó không phải là tên gọi tương đồng chính xác vì “tiếp thị” không bao hàm hết được ý nghĩa của Marketing. Theo Philip Kotler: “Marketing là quá trình tạo dựng các giá trị từ khách hàng và mối quan hệ than thiết với khách hàng nhằm mục đích thu về giá trị lợi ích cho doanh nghiệp, tổ chức từ những giá trị đã được tạo ra”. Theo Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ: “Marketing là quá trình lên kế hoạch và tạo dựng mô hình sản phẩm (concept), hệ thống phân phối, giá cả và các chiến dịch promotion nhằm tạo ra những sản phẩm hặc dịc vụ (exchanges/marketing offerings) có khả năng thỏa mãn nhu cầu các cá nhân hoặc tổ chức nhất định”.
(Khái niệm, định nghĩa về marketing này được sử dụng khá phổ biến) Tóm lại: khi nhắc đến khái niệm, định nghĩa Marketing, chúng ta hiểu rằng đây là một thuật ngữ chỉ các hoạt động trong các tổ chức (cả tổ chức kinh doanh và tổ chức phi lợi nhuận) bao gồm việc tạo dựng giá trị từ khách hàng, xây dựng mối quan hệ với khách hàng, xây dựng mô hình sản phẩm, giá cả, hệ thống phân phối và chiến dịch promotion… với mục đích nhằm tạo ra sản phẩm, dịch vụ thỏa mãn nhu cầu của một hoặc nhiều nhóm khách hàng nhất định và thu về giá trị lợi ích từ những giá trị đã được tạo ra. Vai trò của Marketing Trong hoạt động kinh doanh của một tổ chức, Marketing giữ một vai trò rất quan trọng. Marketing chính là cầu nối giữa người mua và người bán – giúp cho người bán hiểu được những nhu cầu đích thực của người mua nhằm thỏa mãn một cách tối ưu nhất. Dựa vào các mục tiêu đề ra của tổ chức mà các nhà quản lý sẽ xây dựng một chương trình hoạt động Marketing phù hợp bao gồm việc phân tích các cơ hội về Marketing, hoạch định các chương trình về Marketing và tổ chức thực thi và kiểm tra các cố gắng nỗ lực về Marketing.
Marketing tham gia vào giải quyết những vấn đè kinh tế cơ bản của hoạt động kinh doanh. Thứ nhất, phải xác định được loại sản phẩm mà công ty cần cung cấp ra thị trường. Thứ hai, tổ chức tốt quá trình cung ứng sản phẩm. Quá trình cung ứng sản phẩm của doanh nghiệp với sự tham gia đồng thời của ba yếu tố cơ sở vật hất kỹ thuật công nghệ, đội ngũ nhân viên trực tiếp và khách hàng.
Thứ ba, giải quyết hài hòa các mối qun hệ lợi ích giữa khách hàng, nhân viên và Ban lãnh đạo. - Giải quyết tốt các vấn đề trên không chỉ là động lưc thức đấy mạnh mẽ hoạt động của doanh nghiệp, mà còn là động lực thúc đấy mạnh mẽ hoạt động của doanh 0 0 nghiệp, trở thành công cụ để duy trì và phát triển mối quan hệ giữa doanh nghiệp với khách hàng. Marketing trở thành cầu nối gắn kết hoạt động của doanh nghiệp với thị trường. Một trong những nhiệm vụ quan trọng của Marketing là tạo vị thế cạnh tranh trên thị trường.
Qúa trình tạo lập vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp có liên quan chặt chẽ đến việc tạo ra những sản phẩm ở thị trường mục tiêu. Cụ thể, Marketing cần phải: Thứ nhất, tạo được tính độc đáo của sản phẩm. Thứ hai, làm rõ tầm quan trọng của sự khác biệt đối với khách hàng. Thứ ba, tạo khả năng duy trì lợi thế về sự khác biệt của doanh nghiệp.
Thông qua việc chỉ rõ và duy trì lợi thế sự khác biệt, Marketing giúp doanh nghiệp phát triển và ngày càng nâng cao vị thế cạnh tranh trên thị trường. Quy trình Marketing 2. R (Research): Nghiên cứu thông tin marketing Nghiên cứu marketing là điểm khởi đầu marketing, là quá trình thu nhập xử lý cà phân tích thông tin marketing như thông tin về thị trường, người tiêu dùng, môi trường… Không có hoạt động nghiên cứu các doanh nghiệp tham gia vào thị trường giống như người mù. Nghiên cứu giúp doanh nghiệp xác định được thị hiếu tiêu dung, cơ hội thị trường… và chuẩn bị những điều kiện và chiến lược thích hợp để tham gia vào thị trường.
STP (Segmentation, Targeting, Positioning): Phân khúc, chọn thị trường mục tiêu, định vị. Nghiên cứu giúp doanh nghiệp khám phá nhiều phân khúc/nhóm khách hàng, doanh nghiệp phải giải quyết, phân khúc nào, nhóm khách hàng nào sẽ là mục tiêu theo đuổi, sẽ cung cấp giá trị vượt trội cho họ. Để quyết định chính xác thị trường nào là thị trường mục tiêu, doanh nghiệp phải phân đoạn, đánh giá các thị trường, chọn thị trường nào phù hợp với khả năng của mình. Doanh nghiệp còn phải định vị sản phẩm của mình để khách hàng có thể nhận biết được lợi ích then chốt của sản phẩm vào tạo sự khác biệt so với sản phẩm cạnh tranh trên thị trường (chẳng hạn như xe Volvo định vị là xe an toàn nhất).
Định vị là những nổ lực tạo lập nhận thức, khác biệt trong tâm trí khách hàng và sản phẩm/dịch vụ. MM (Marketing – mix) Xây dựng chiến lược marketing – mix. Trên cơ sở thị trường mục tiêu được lựa chọn, doanh nghiệp sẽ thiết kế một chiến lược phối thức marketing (marketing – mix) để định hương và phục vị thị trường mục tiêu đó. I (Implementation) Triển khai thực hiện chiến lược marketing.
Quá trình biến những chiến lược, kế hoạch marketing thành hành động, Để chiến lược marketing đi vào thực tế các doanh nghiệp sẽ tổ chức, thực hiện chiến lược thông qua việc xây dựng các chương trình hành động cụ thể, tổ chức nguồn nhân lực thực hiên nó. C (Control) Kiểm tra, đánh giá chiến lược marketing. Bước cuối cùng của quá trình marketing là kiểm soát. Một doanh nghiệp thành công không ngừng học hổi, rút kinh nghiệp.
Họ phải thu nhập thông tin phản hồi từ thị trường, đánh giá, đo lường kết quả hoạt đọng marketing có đạt được mục tiêu đặt ra hay không, nếu doanh nghiệp thất bại trong việc thực hiên mục tiêu của mình, họ cần phải biết nguyên nhân nào nằm sau thất bại đó, để từ đó thiết kế hành động điều chỉnh. Khái quát về marketing – mix 2. Khái niệm marketing – mix Marketing – mix là sự phối hợp nhiều thành tố có thể kiểm soát được mà doanh nghiệp sử dụng để tác động vào thị trường mục tiêu và là công cụ mà doanh nghiệp nghiệp sử dụng để bán sản phẩm hoặc dịch vụ cho khách hàng mục tiêu. Có rất nhiều mô hình marketing – mix nhưng mô hình phổ biến nhất, đơn giản nhất và được sử dụng nhiều nhất là mô hình sử dụng bốn thành tố: - Sản phẩm (Product) - Giá cả (Price) - Phân phối (Place) - Chiêu thị/Thông tin marketing (Promotion) Marketing – mix còn được gọi là chính sách 4Ps – do viết tắt 4 chữ đầu các thành tố.
- Sản phẩm: sản phẩm là những thứ mà doanh nghiệp cung cấp cho thị trường, quyết định sản phẩm bao gồm: Chủng loại, kích thưc sản phẩm, chất lượng, thiết kế, bao bì, nhãn hiệu, chức năng, dịch vụ… nhằm đáp ứng nhu cầu khách hàng. - Giá cả: Giá là khoản tiền mà khách hàng bỏ ra để sở hữu và sử dụng sản phẩm/dịch vụ, quyết định về giá bao gồm phương pháp định giá, mức giá, chiến thuật điều chinhr giá theo sự biến động của thị trường và người tiêu dung. - Phân phối: Phân phối là hoạt động nhằm đưa ra sản phẩm đến tay khách hàng, quyết định phân phối gồm các quyết định: lựa chọn, thiết lập kênh phân phối, tổ chức và quản lý kênh phân phối, thiết lập các quan hệ và quy trì quan hệ với các trung gian vận chuyển, bảo quản dự trữ hàng hóa… - Chiêu thị hay truyền thông marketing: Chiêu thị là những hoạt động nhằm thông tin sản phẩm, thuyết phục về đặc điểm của sản phẩm, xây dựng hình ảnh doanh nghiệp và các chương trình khuyến khích tiêu thị Mỗi chính sách sản phẩm, giá cả, phân phối hay chiêu thị đều có vai trò và tác động nhất định, Để phát huy một cách tối đa hiệu quả của hoạt động marketing cần có sự phối hợp nhịp nhàng, cân đối các chính sách trên, đồng thời giữa chúng có mỗi quan hệ hỗ trợ nhau để cùng đạt được mục tiêu chung về marketing. Vai trò của marketing – mix Marketing mix đóng vai trò vô cùng quan trọng ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Yếu tố này như cầu nối gắn kết người mua và người bán và đồng thời giúp các doanh nghiệp hiểu rõ nhu cầu thực tế của người mua để đáp ứng yêu cầu của họ một cách tối đa Marketing mix với doanh nghiệp: Marketing mix giúp các doanh nghiệp tìm kiếm và nắm rõ được nhu cầu của người tiêu dùng. Nhờ đó thương hiệu có thể sáng tạo nhiều mặt hàng và nâng cao chất lượng dịch vụ. Bên cạnh đó, Marketing mix còn đem lại lợi ích vượt trội hơn cả mong đợi của khách hàng. Yếu tố này tạo điều kiện để thông tin được cung cấp qua hai chiều: từ doanh nghiệp đến người tiêu dùng và từ khách hàng đến doanh nghiệp.
Trên cơ sở thu thập thông tin về thị trường, doanh nghiệp cần tổ chức nhiều hoạt động để các sản phẩm được tiêu thụ nhanh chóng hơn, góp phần tạo uy tín cho công ty. Marketing mix với người tiêu dùng: Marketing-mix giúp tìm kiếm, khám phá ra nhu cầu và mong muốn của người tiêu dung ở cả hiện tại và trong tương lai. Từ đó, sáng tạo ra nhiều loại hàng hóa và nâng cao chất lượng dịch vụ để mang đến những lợi ích nhằm thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dung, thậm chí là có thể vượt quá sự mong đợi của họ. Một sản phẩm thỏa mãn người tiêu dùng là sản phẩm cung cấp nhiều lợi ích hơn sản phẩm của đối thủ cạnh tranh.
Marketing-mix là cầu nối cho cung cầu gặp nhau qua thông tin hai chiều: Từ doanh nghiệp đến người tiêu dùng và người tiêu dùng đến doanh nghiệp. Xử lý thông tin về thị trường, doanh nghiệp sẽ có các họat động nhằm làm cho sản phẩm tiêu dùng được bán nhanh hơn, nhiều hơn, qua đó củng cố, tạo uy tín và phát triển doanh nghiệp trên thị trường, đồng thời gia tăng giá trị lợi ích cho người tiêu dùng.