Đặt vấn đề hay một hoạt động phức tạp hơn bằng cách lựa chọn Thị trường lao động ngày càng phát triển đa dạng, và áp dụng những cách thức đúng đắn, có tính đến góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, chuyển những điều kiện nhất định”. Tác giả Vũ Dũng thì dịch cơ cấu lao động theo hướng hiện đại và đồng cho rằng: “Kỹ năng là năng lực vận dụng có kết quả bộ, có sự kết nối giữa các thị trường với nhau. Vì tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể vậy, yêu cầu phải có một nguồn lao động chất lượng lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng”2. cao đáp ứng nhu cầu xã hội về việc làm và phát triển Có thể hiểu, kỹ năng là khả năng thực hiện một hành kinh tế bền vững.
Hiện nay, vấn đề đặt ra là làm thế động hay một hoạt động nào đó bằng cách lựa chọn nào để sinh viên sau khi ra trường có thể thích nghi và vận dụng tri thức, cách thức hành động đúng đắn công việc và tìm được việc làm sớm. Nhu cầu thực tế để đạt được mục đích đề ra. này đòi hỏi sinh viên cần phải nâng cao năng lực, kỹ Theo tác giả, kỹ năng học luật được hiểu là khả năng vận dụng các học phần luật trong quá trình công năng tiếp cận học phần trên nền tảng lý thuyết cơ bản tác thực tiễn. Nhận thức được tầm quan trọng của kỹ để áp dụng vào trong quá trình công tác thực tiễn.
năng trong đào tạo cử nhân luật đáp ứng nhu cầu thị Kỹ năng vận dụng luật của sinh viên ngành Luật trường lao động, tác giả phân tích, đánh giá kỹ năng là vô cùng quan trọng. Bởi vậy, việc tìm hiểu và vận dụng học phần luật và đưa ra giải pháp nâng cao trang bị kỹ năng vận dụng Luật Doanh nghiệp của hiệu quả áp dụng kỹ năng vận dụng pháp luật của sinh mỗi sinh viên ngành Luật vào thực tiễn mang lại: viên ngành Luật ở doanh nghiệp hiện nay. Thứ nhất, giúp mỗi sinh viên ngành Luật nắm 2. Sự cần thiết của kỹ năng học luật của sinh bắt đầy đủ và chính xác quy định của pháp luật để viên ngành Luật áp dụng linh hoạt, phù hợp với thực tế của doanh Khái niệm kỹ năng vẫn có nhiều quan điểm chưa nghiệp.
Các văn bản pháp luật thường xuyên được thống nhất, tuy nhiên, có thể hiểu khái niệm dưới sửa đổi, bổ sung để phù hợp với tình hình kinh tế - xã góc độ sau: Kỹ năng là khả năng thực hiện một hành hội đòi hỏi sinh viên phải cập nhật, vận dụng theo động với kết quả được xác định thường trong một quy định hiện hành trong quá trình xử lý hồ sơ, thủ khoảng thời gian cùng năng lượng nhất định1. tục liên quan đến doanh nghiệp. Theo nhà tâm lý học Liên Xô L.Lêvitôv: “Kỹ Thứ hai, góp phần nâng cao năng lực và giá trị năng là sự thực hiện có kết quả một động tác nào đó bản thân của mỗi sinh viên ngành Luật. Đây là thước 10 Số 12 - Tháng 5/2021 LUAÄT đo quan trọng để đánh giá năng lực mỗi sinh viên trên nền tảng giáo dục và bằng cấp mà còn dựa trên đáp ứng nhu cầu của nhà tuyển dụng, đáp ứng vị trí năng lực tiềm năng của ứng viên.
công việc phù hợp với năng lực của mình. Ở Việt Nam, trong những năm qua, thị trường lao Thứ ba, giúp sinh viên tư vấn, giải đáp và xử lý động đã có những bước phát triển mạnh mẽ và đạt những khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp một nhiều kết quả tốt, góp phần giải quyết việc làm cho cách nhanh chóng, chính xác, chuyên nghiệp. Sinh hàng triệu người lao động nhằm ổn định, phát triển viên trang bị nền tảng pháp lý doanh nghiệp vững kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội. Cụ thể, năm 2019, chắc sẽ đem lại sự tự tin cho bản thân và niềm tin từ cả nước đã tạo việc làm cho trên 1,6 triệu lao động; phía nhà tuyển dụng.
Qua đó, sinh viên sẽ vận dụng đưa 148 nghìn người Việt Nam đi làm việc ở nước những kiến thức pháp lý về doanh nghiệp để tư vấn, ngoài đem lại sức sống cho người lao động làm việc, giải đáp và tiến hành xử lý các vướng mắc, khó khăn cải thiện chất lượng cuộc sống của mình3. Đến nay, tại doanh nghiệp. mặc dù chịu ảnh hưởng của dịch Covid-19, nhưng thị Thứ tư, nhằm đảm bảo và định hướng doanh trường lao động đã bình ổn trở lại, giải quyết việc làm nghiệp tuân thủ pháp luật, cơ sở cho doanh nghiệp có có tín hiệu khả quan hơn cho người lao động, đồng những phương hướng đúng đắn để hoạt động, phát thời thực hiện tốt công tác an sinh xã hội4. Thị trường triển và cạnh tranh một cách lành mạnh.
Sinh viên lao động đáp ứng được nhu cầu chất lượng nguồn ngành Luật dựa trên cơ sở quy định của pháp luật để nhân lực tăng lên là cần thiết, song phải phù hợp tham mưu, định hướng cho doanh nghiệp hoạt động với nhu cầu tuyển dụng của đơn vị sử dụng lao động tuân thủ pháp luật, hạn chế tình trạng vi phạm pháp theo nghề, theo kỹ năng, trình độ dưới sự tác động luật, từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh của cách mạng công nghiệp 4. Trong đó, của doanh nghiệp. nhân lực ngành Luật cũng cần được đào tạo phù hợp 3. Thực trạng về kỹ năng áp dụng luật của nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường lao động.
Mỗi sinh sinh viên tại doanh nghiệp hiện nay viên ngành Luật ra trường không chỉ trang bị kiến Ở các nước trên thế giới, xây dựng và phát triển thức chuyên môn mà còn phải hoàn thiện kỹ năng thị trường lao động được xem là vấn đề ưu tiên của và thái độ tốt để trở thành người lao động tham gia các nước trong bối cảnh kinh tế - xã hội hiện nay. vào thị trường lao động. Trong đó, năng lực chuyên Tuy nhiên, mỗi nước khác nhau nên việc phát triển môn được thể hiện qua việc áp dụng luật vào thực thị trường lao động được triển khai khác nhau phụ tiễn. Điều này giúp cho sinh viên ngành Luật khẳng thuộc vào điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội của mỗi định được năng lực chuyên môn của mình, được trả nước.
Điển hình như ở Hàn Quốc, một trong những lương tương thích với sức lao động của mình; đồng thành công của nước này nằm ở Chiến lược phát triển thời định hướng doanh nghiệp hoạt động sản xuất, nhân sự thu hút nhân tài, nâng cao chất lượng nhân kinh doanh theo quy định pháp luật. Ngoài ra, trong sự, không chỉ trong khu vực kinh tế tư nhân mà trong quá trình làm việc, sinh viên còn được trau dồi kinh cả khối cơ quan nhà nước. Cụ thể, Hàn Quốc đã thực nghiệm thực tiễn từ đồng nghiệp, từ thực tế môi hiện linh hoạt và đa đạng hóa đối tượng tuyển dụng, trường làm việc và không ngừng nâng cao vốn hiểu không chỉ là những sinh viên mới tốt nghiệp theo biết về kiến thức chuyên ngành, các lĩnh vực kinh kiểu truyền thống, mà còn đối với những người lao tế - xã hội để vận dụng và hoàn thành tốt công việc. động trung niên, phụ nữ, chuyên gia, lao động nước Song mỗi sinh viên ngành Luật tốt nghiệp ra trường ngoài và du học sinh tại Hàn Quốc.
Mục đích là tạo không thể tránh khỏi những khó khăn trong quá trình ra sự đa dạng về văn hóa và học hỏi kinh nghiệm áp dụng Luật Doanh nghiệp tại doanh nghiệp, cụ thể: từ nhiều nhóm đối tượng khác nhau. Hàn Quốc còn Thứ nhất, sinh viên chưa nắm rõ và nắm vững thực hiện khách quan trong thẩm định tuyển dụng, quy phạm pháp luật dẫn đến việc áp dụng còn rất ứng viên phải công khai thông tin cá nhân như: Nơi “lúng túng”, “mơ hồ”, thiếu linh hoạt làm cho quá sinh, họ tên cha mẹ, các mối quan hệ cá nhân… trong trình giải quyết công việc chậm lại và kém hiệu quả. hồ sơ ứng tuyển. Ngoài ra, từ năm 2015, Chính phủ Chẳng hạn, theo Luật Doanh nghiệp 2014 về định Hàn Quốc giới thiệu hệ thống tuyển dụng mới - Tiêu giá tài sản góp vốn có quy định: “Tài sản góp vốn chuẩn Năng lực quốc gia nhằm đánh giá trình độ và không phải là Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển kỹ năng cho từng công việc của trên 800 ngành nghề đổi, vàng phải được các thành viên, cổ đông sáng trong lĩnh vực công lập.
Bộ tiêu chuẩn giúp các công lập hoặc tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp định ty tuyển dụng được nhân sự cần thiết không chỉ dựa giá và được thể hiện thành Đồng Việt Nam”5. Theo Số 12 - Tháng 5/2021 11 TAÏP CHÍ COÂNG THÖÔNG quy định này, doanh nghiệp phải thực hiện việc định vị tuyển dụng lao động dẫn đến tỷ lệ sinh viên ra giá tài sản góp vốn và thể hiện thành đồng Việt Nam trường thất nghiệp rất lớn. Cụ thể, tỷ lệ thất nghiệp trước khi tiến hành việc kê khai tài sản góp vốn để trong độ tuổi lao động vào quý III/2020 ở trình độ thành lập doanh nghiệp. Như vậy, đối với loại hình đại học trở lên là 5,47%7, trong đó sinh viên ngành công ty trách nhiệm một thành viên do cá nhân làm Luật chiếm một tỷ lệ không nhỏ.
chủ sở hữu có được góp vốn là giá trị quyền sở hữu Sở dĩ sinh viên ngành Luật ra trường gặp phải trí tuệ - nhãn hiệu hay không? Trong trường hợp này, những khó khăn trên xuất phát từ những nguyên sinh viên ngành Luật cần hiểu ở chỗ: “Thành viên nhân như sau: công ty là cá nhân, tổ chức sở hữu một phần hoặc Thứ nhất, nguyên nhân xuất phát từ người học. toàn bộ vốn điều lệ của công ty trách nhiệm hữu hạn Một là, sinh viên chưa có tính tự học cao. Hiện hoặc công ty hợp danh”6. Do đó, cá nhân làm chủ sở nay, đa phần sinh viên học để lấy được tấm bằng tốt, hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có học để qua môn, học nhanh, học vội mà chưa có sự quyền tự định giá tài sản góp vốn theo quy định nói say mê, tìm tòi, nghiên cứu trong quá trình học luật.
trên và hoàn toàn sử dụng tài sản góp vốn là quyền Điều quan trọng nhất mà sinh viên chưa thấy rõ là sở hữu trí tuệ để góp vốn thành lập doanh nghiệp. mình cần phải “gom nhặt” những gì trong suốt năm Bởi vậy, việc hiểu và nắm rõ luật doanh nghiệp là hết tháng đại học. Nếu để thời gian trôi qua, sinh viên sức quan trọng để áp dụng vào thực tiễn.