Luận văn Quản lý chi ngân sách nhà nước tại quận Thanh Khê, Đà Nẵng

Tải luận văn thạc sĩ chuyên ngành xây dựng bệnh viện đa khoa tại BV chính thức. Tài liệu tham khảo chi tiết, chuẩn xác theo quy định đào tạo.

Trường đại học

Trường Đại học Duy Tân

Chuyên ngành

Kế toán

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2019

129
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan luận văn quản lý chi ngân sách nhà nước quận Thanh Khê

Luận văn thạc sĩ kế toán của Đinh Quang Tưởng nghiên cứu công tác quản lý chi ngân sách nhà nước (NSNN) tại quận Thanh Khê, Đà Nẵng. Đề tài tập trung phân tích thực trạng quản lý chi NSNN cấp quận thông qua ba giai đoạn chính: lập dự toán, chấp hành và quyết toán. Nội dung luận văn đánh giá hiệu quả quản lý chi NSNN, xác định các yếu tố ảnh hưởng và đề xuất giải pháp hoàn thiện. Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp định lượng, khảo sát thực tế tại quận Thanh Khê. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho cải thiện quản lý tài chính công địa phương.

1.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu luận văn

Nghiên cứu tập trung vào quản lý chi NSNN cấp quận Thanh Khê giai đoạn 2015-2018. Đối tượng nghiên cứu là quy trình quản lý chi NSNN từ khâu lập dự toán đến thanh quyết toán. Phạm vi nghiên cứu bao gồm các đơn vị sử dụng ngân sách trên địa bàn quận như phòng tài chính, kho bạc nhà nước và chi cục thuế. Luận văn không xem xét chi NSNN cấp tỉnh hoặc trung ương. Phương pháp thu thập dữ liệu kết hợp khảo sát định tính với phân tích số liệu kế toán.

1.2. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Quản lý chi NSNN hiệu quả quyết định sự phát triển kinh tế-xã hội địa phương. Tại quận Thanh Khê, nhu cầu chi tiêu công ngày càng tăng trong khi nguồn thu NSNN hạn chế. Luận văn ra đời nhằm khắc phục tồn tại trong quản lý chi như phân bổ ngân sách chưa hợp lý, thiếu giám sát chặt chẽ. Nghiên cứu cung cấp luận cứ khoa học cho cải cách quản lý tài chính công. Kết quả áp dụng sẽ nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách, giảm lãng phí tham nhũng.

II. Phân tích thực trạng quản lý chi ngân sách nhà nước quận Thanh Khê

Thực trạng quản lý chi NSNN tại quận Thanh Khê năm 2019 cho thấy nhiều bất cập trong ba khâu chính: lập dự toán, chấp hành và quyết toán. Lập dự toán thường thiếu sát thực tế nhu cầu chi, dẫn đến điều chỉnh bổ sung thường xuyên. Chấp hành ngân sách gặp khó khăn do chậm giải ngân, thiếu giám sát sử dụng vốn. Quyết toán chậm trễ, thiếu minh bạch. Báo cáo của Kho bạc nhà nước Đà Nẵng ghi nhận tỷ lệ giải ngân đạt 85%, thấp hơn mục tiêu 90%. Nguyên nhân chính là thủ tục hành chính rườm rà, thiếu phối hợp giữa các đơn vị.

2.1. Hạn chế trong lập dự toán ngân sách

Lập dự toán chi NSNN tại quận Thanh Khê thường dựa trên số liệu năm trước, không cập nhật kịp thời biến động kinh tế-xã hội. Các phòng ban đề xuất nhu cầu chi thiếu căn cứ khoa học, dẫn đến dự toán không sát thực. Năm 2018, dự toán chi đầu tư phát triển vượt 15% so với khả năng thu. Nguyên nhân là thiếu công cụ dự báo chính xác, thiếu sự tham gia của chuyên gia kinh tế. Hậu quả là tình trạng thiếu vốn cục bộ, ảnh hưởng đến tiến độ dự án.

2.2. Tồn tại trong chấp hành ngân sách

Quá trình chấp hành ngân sách gặp khó khăn do thiếu giám sát chặt chẽ từ các cấp. Nhiều đơn vị sử dụng ngân sách không tuân thủ định mức chi tiêu, dẫn đến vượt dự toán. Báo cáo thanh tra năm 2019 phát hiện 23 trường hợp chi sai quy định, thiệt hại 1,2 tỷ đồng. Nguyên nhân là thiếu chế tài xử phạt nghiêm minh, thiếu cơ chế trách nhiệm rõ ràng. Hơn nữa, thủ tục giải ngân phức tạp khiến thời gian kéo dài, ảnh hưởng hiệu quả sử dụng vốn.

III. Giải pháp hoàn thiện quản lý chi ngân sách nhà nước quận Thanh Khê

Để nâng cao hiệu quả quản lý chi NSNN, luận văn đề xuất ba giải pháp chính: cải tiến quy trình lập dự toán, tăng cường giám sát chấp hành và đổi mới phương pháp quyết toán. Cụ thể, xây dựng hệ thống dự báo kinh tế-xã hội dựa trên dữ liệu lớn. Triển khai phần mềm quản lý ngân sách điện tử để theo dõi dòng tiền thời gian thực. Áp dụng chế tài xử phạt nghiêm khắc đối với đơn vị vi phạm. Đồng thời, đào tạo nâng cao năng lực cán bộ quản lý tài chính. Những giải pháp này sẽ giảm thiểu lãng phí, nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách.

3.1. Hoàn thiện quy trình lập dự toán ngân sách

Cải tiến quy trình lập dự toán bằng cách áp dụng phương pháp dự báo khoa học, kết hợp dữ liệu lịch sử với biến động kinh tế. Xây dựng cơ sở dữ liệu thống nhất giữa các đơn vị liên quan. Tổ chức hội thảo lấy ý kiến chuyên gia trước khi phê duyệt dự toán. Áp dụng mô hình ngân sách theo kết quả thay vì theo đầu vào. Thí điểm tại 5 đơn vị sử dụng ngân sách trong năm 2020 để đánh giá hiệu quả.

3.2. Tăng cường giám sát chấp hành ngân sách

Triển khai hệ thống giám sát điện tử theo dõi dòng tiền ngân sách từ khâu phân bổ đến giải ngân. Thành lập tổ thanh tra chuyên trách kiểm tra đột xuất các đơn vị sử dụng ngân sách. Áp dụng công nghệ blockchain để ghi nhận giao dịch minh bạch. Đào tạo 100% cán bộ quản lý tài chính về kỹ năng giám sát. Xây dựng cơ chế khen thưởng đơn vị chấp hành tốt, phạt đơn vị vi phạm.

IV. Kết luận và đề xuất ứng dụng luận văn quản lý chi NSNN

Luận văn khẳng định quản lý chi NSNN hiệu quả là yếu tố then chốt phát triển kinh tế-xã hội quận Thanh Khê. Kết quả nghiên cứu chỉ ra những tồn tại trong lập dự toán, chấp hành và quyết toán ngân sách. Giải pháp đề xuất tập trung vào cải cách quy trình, tăng cường giám sát và ứng dụng công nghệ. Việc áp dụng những giải pháp này sẽ nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách, giảm thiểu lãng phí. Kết quả nghiên cứu có thể nhân rộng tại các quận huyện khác trong thành phố Đà Nẵng.

4.1. Đánh giá kết quả nghiên cứu luận văn

Nghiên cứu đã thu thập và phân tích dữ liệu từ 2015-2018, khảo sát 50 đơn vị sử dụng ngân sách. Kết quả cho thấy quản lý chi NSNN còn nhiều hạn chế về quy trình, thiếu minh bạch. Luận văn đề xuất 15 giải pháp cụ thể, trong đó 7 giải pháp có thể triển khai ngay. Điểm mới của nghiên cứu là ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý ngân sách. Kết quả khảo sát chuyên gia đánh giá cao tính khả thi của giải pháp.

4.2. Khuyến nghị chính sách cho quận Thanh Khê

Chính quyền quận nên ưu tiên đầu tư hạ tầng công nghệ thông tin cho quản lý ngân sách. Ban hành quy chế xử phạt nghiêm khắc đối với đơn vị vi phạm. Tổ chức đào tạo định kỳ cho cán bộ quản lý tài chính. Thiết lập cơ chế phối hợp giữa Kho bạc nhà nước, Chi cục thuế và Phòng Tài chính. Triển khai thí điểm mô hình ngân sách theo kết quả tại 3 đơn vị trọng điểm trong năm 2021.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

31/05/2026
Luan van tuong bv chinh thuc

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CẤP QUẬN (HUYỆN) 1. TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1. Ngân sách nhà nước 1. Khái niệm về Ngân sách nhà nước Tài chính nhà nước là một phạm trù kinh tế - lịch sử, gắn liền với sự ra đời của nhà nước và nền kinh tế hàng hoá tiền tệ.

Nhà nước sử dụng quyền lực của mình tham gia vào quá trình phân phối sản phẩm xã hội dưới hình thức tiền tệ như thuế bằng tiền, vay nợ… để phục vụ cho hoạt động của mình hình thành nên NSNN, bộ phận quan trọng nhất của khu vực tài chính nhà nước. Tuy nhiên thuật ngữ “ngân sách nhà nước” chỉ thực sự xuất hiện khi nền sản xuất xã hội phát triển đến một giai đoạn nhất định. Lúc này các khoản thu, chi của nhà nước được thể chế hoá bằng luật pháp, tách việc thực hiện quyền lập pháp về NSNN thuộc về Quốc hội và quyền hành pháp về NSNN giao cho Chính phủ điều hành. Điều 4, Luật NSNN năm 2015 định nghĩa: Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước [1].

Trong hệ thống tài chính, NSNN là khâu chủ đạo, đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc duy trì sự tồn tại của bộ máy quyền lực Nhà nước. Trong thực tiễn, hoạt động NSNN là hoạt động thu (tạo lập) và chi tiêu (sử dụng) quỹ tiền tệ của nhà nước, làm cho nguồn tài chính vận động giữa một bên là các chủ thể kinh tế, xã hội trong quá trình phân phối tổng sản phẩm quốc dân dưới hình thức giá trị và một bên là Nhà nước. Đó chính là bản 11 chất kinh tế của NSNN. Đứng sau các hoạt động thu, chi là mối quan hệ kinh tế giữa nhà nước và các chủ thể kinh tế xã hội.

Nói cách khác, NSNN phản ánh mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nước với các chủ thể trong phân phối tổng sản phẩm xã hội, thông qua việc tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước, chuyển dịch một bộ phận thu nhập bằng tiền của các chủ thể đó thành thu nhập của Nhà nước và Nhà nước chuyển dịch thu nhập đó đến các chủ thể được thể hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Hệ thống ngân sách nhà nước Hệ thống ngân sách nhà nước được hiểu là tổng thể các cấp ngân sách có mối quan hệ hữu cơ với nhau trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thu, chi của mỗi cấp ngân sách. Tổ chức hệ thống ngân sách gắn bó chặt chẽ với việc tổ chức bộ máy Nhà nước và vai trò, vị trí của bộ máy đó trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Điều 6, Luật NSNN 2015 quy định: Hệ thống ngân sách nhà nước gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương.

Ngân sách địa phương bao gồm: Ngân sách cấp thành phố, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là ngân sách cấp thành phố); Ngân sách cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc thành phố (gọi chung là ngân sách cấp huyện) và Ngân sách cấp xã, phường (gọi chung là ngân sách cấp xã). [1] Ngân sách địa phương chịu trách nhiệm quản lý chi NSNN địa phương, đảm bảo thực hiện các nhiệm vụ tổ chức quản lý toàn diện kinh tế, xã hội của chính quyền cấp tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương. Chính quyền cấp tỉnh cần chủ động, sáng tạo trong việc động viên khai thác thế mạnh trên địa bàn địa phương để đảm bảo chi và thực hiện cân đối ngân sách của cấp mình. Ngân sách cấp huyện, do chính quyền cấp huyện tổ chức thực hiện quản lý chi theo quy định phân cấp của tỉnh nhằm khai thác tốt nguồn thu để 12 đảm bảo nhiệm vụ chi ngân sách cấp mình.

Ngân sách cấp xã, phường do chính quyền cấp xã phường tổ chức thực hiện theo quy định của cấp huyện nhằm đảm bảo các nhiệm vụ phát sinh trên địa bàn địa phương mình quản lý. Chi ngân sách nhà nước 1. Khái niệm Chi ngân sách nhà nước là việc phân phối và sử dụng quỹ NSNN theo dự toán ngân sách đã được cơ quan có thẩm quyền quyết định nhằm duy trì hoạt động của bộ máy nhà nước và đảm bảo thực hiện các chức năng của Nhà nước theo những nguyên tắc luật định. [1] Xét về mặt bản chất, chi NSNN là hệ thống những quan hệ phân phối lại các khoản thu nhập phát sinh trong quá trình sử dụng có kế hoạch quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước nhằm thực hiện tăng trưởng kinh tế, từng bước mở mang các sự nghiệp văn hoá - xã hội, duy trì hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước và bảo đảm anh ninh quốc phòng.

Chi NSNN có quan hệ chặt chẽ với thu NSNN. Thu NSNN để đảm bảo nhu cầu chi NSNN, ngược lại sử dụng vốn ngân sách để chi tiêu cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế lại là điều kiện để tăng nhanh thu nhập của ngân sách. Do vậy, việc sử dụng vốn, chi tiêu ngân sách một cách có hiệu quả, tiết kiệm luôn luôn được Nhà nước quan tâm. Chức năng Chi ngân sách nhà nước có ba chức năng gồm: Phân bổ nguồn lực, phân phối thu nhập, điều chỉnh và kiểm soát.

- Chức năng phân bổ nguồn lực: Chức năng phân bổ nguồn lực của chi NSNN là chức năng mà nhờ vào đó nguồn lực NSNN thuộc quyền chi phối của Nhà nước được tổ chức, sắp xếp, phân phối một cách có tính toán, cân nhắc theo những tỷ lệ hợp lý nhằm nâng cao tính hiệu quả kinh tế - xã hội 13 của việc sử dụng các nguồn lực đó và bảo đảm cho nền kinh tế phát triển vững chắc và ổn định theo các tỷ lệ cân đối đã định của chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội. - Chức năng phân phối thu nhập: Chức năng phân phối thu nhập là chức năng mà nhờ vào đó chi NSNN được sử dụng vào việc phân phối và phân phối lại các nguồn lực tài chính trong xã hội nhằm thực hiện mục tiêu công bằng trong phân phối. - Chức năng điều chỉnh và kiểm soát: Để quản lý một cách hữu hiệu các hoạt động kinh tế - xã hội thì việc tiến hành điều chỉnh và kiểm soát thường xuyên là cần thiết và khách quan. Vai trò Chi ngân sách nhà nước có vai trò rất quan trọng trong tất cả các lĩnh vực của một quốc gia, thể hiện những điểm chính như sau: Thứ nhất, chi ngân sách là phương tiện tài chính cho sự tồn tại và hoạt động của bộ máy quản lý Nhà nước được thể hiện qua lương, phụ cấp của công chức, viên chức nhà nước, các khoản chi tiêu xây dựng cơ sở vật chất, chi cho quản lý hành chính, chi mua sắm thiết bị cho công sở… Sự tồn tại và hoạt động của Nhà nước là điều kiện đầu tiên và là tiền đề cho việc thực hiện các chức năng khác bởi vì bất kỳ quốc gia nào, thời đại nào, chi ngân sách trước tiên cung cấp nguồn tài chính để đảm bảo bộ máy nhà nước tồn tại, hoạt động, từ đó mà thực hiện được chức năng quản lý hành chính, xã hội.

Trong cơ chế thị trường các lĩnh vực y tế, giáo dục được xã hội hóa và phát triển mạnh mẽ, nhưng đây là lĩnh vực mà nhà nước cần phải tập trung quản lý và chi ngân sách chiếm tỷ trọng lớn để đảm bảo việc chăm sóc sức khỏe và học tập cho nhân dân và các chính sách an sinh xã hội. Đồng thời thông qua ngân sách để có cơ chế hỗ trợ, kích thích các thành phần kinh tế ngoài nhà nước thực hiện các dịch vụ trên nhằm giảm áp lực 14 ngân sách và đáp ứng nhu cầu của xã hội. Thứ hai, chi ngân sách là một trong những công cụ quan trọng của chính sách tài khóa để Nhà nước thực hiện quản lý vĩ mô nền kinh tế. Chính sách tài khóa quốc gia có 3 công cụ quan trọng: Thu NSNN, chi NSNN và nợ công.

Vì thế, chi NSNN có vai trò rất quan trọng trong quản lý điều hành kinh tế vĩ mô. Trong cơ chế thị trường, thông qua chi ngân sách, Nhà nước can thiệp vào thị trường, hạn chế, khắc phục những khiếm khuyết, mặt trái của nền kinh tế thị trường như: Sự phân hoá giàu nghèo trong xã hội diễn ra nhanh chóng, để hạn chế sự phân hoá đó, thực hiện các chính sách đảm bảo an sinh xã hội, Nhà nước thông qua chi NSNN cung cấp các dịch vụ công mà các thành phần kinh tế khác không có khả năng cung cấp hoặc cung cấp không hiệu quả, chất lượng không cao. Thông qua chi ngân sách, Nhà nước thực hiện tái cơ cấu lại nền kinh tế trên mọi phương diện như: cơ cấu lại vùng kinh tế, thành phần kinh tế, ngành kinh tế, nguồn vốn đầu tư, doanh nghiệp, hàng hoá. Chi NSNN góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, kích thích đầu tư.

Nhà nước tập trung chi đầu tư cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội, trợ giá, hỗ trợ bù chênh lệch lãi suất, hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu và sản xuất hàng nông sản. để thu hút các thành phần kinh tế cùng đầu tư. Tóm lại, chi NSNN là công cụ đáp ứng nhu cầu cơ bản và ở nhiều lĩnh vực, đóng vai trò quyết định, như đảm bảo hoạt động của bộ máy Nhà nước, cung cấp cho xã hội hàng hoá công cộng thuần tuý hành chính pháp lý, dịch vụ thực thi luật pháp, an ninh trật tự, bảo vệ lãnh thổ quốc gia. Đồng thời, Nhà nước sử dụng chi NSNN để quản lý xã hội và thực hiện những chiến lược ưu tiên nhằm thúc đẩy kinh tế phát triển, xoá đói giảm nghèo, điều tiết lạm phát, giải quyết những vấn đề bất cập về sự chênh lệch cơ cấu kinh tế và phát triển giữa các vùng, địa phương.

Giải quyết những vấn đề nêu 15 trên, chỉ có NSNN đảm nhận vai trò mà không một khâu tài chính nào khác có thể làm được. Nội dung chi ngân sách nhà nước Chi ngân sách nhà nước bao gồm các khoản chi sau: - Chi đầu tư phát triển: Là quá trình phân phối và sử dụng quỹ ngân sách nhà nước để đầu tư cơ sở hạ tầng, kinh tế xã hội, phát triển sản xuất và dự trữ vật tư hàng hóa của nhà nước nhằm thực hiện mục tiêu ổn định tăng trưởng vĩ mô và thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ