Luận văn: Pháp luật quản lý thuế xuất nhập khẩu từ thực tiễn tỉnh Điện Biên

Nghiên cứu luận văn thạc sĩ luật học chuyên sâu về pháp luật quản lý thuế xuất khẩu nhập khẩu. Phân tích thực tiễn và đề xuất giải pháp từ kinh nghiệm tại tỉnh

Chuyên ngành

Luật Kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ
88
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan pháp luật quản lý thuế xuất nhập khẩu

Thuế xuất nhập khẩu là loại thuế đánh vào hàng hóa lưu thông qua biên giới quốc gia. Loại thuế này đóng vai trò kép trong nền kinh tế. Thứ nhất, thuế xuất nhập khẩu tạo nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước. Thứ hai, thuế là công cụ điều tiết vĩ mô hiệu quả. Nhà nước sử dụng thuế để kiểm soát dòng hàng hóa, bảo hộ sản xuất trong nước và thực hiện mục tiêu đối ngoại. Tại Việt Nam, pháp luật quản lý thuế xuất nhập khẩu bao gồm nhiều tầng nấc văn bản. Đứng đầu là Luật Quản lý thuế và Luật Thuế xuất nhập khẩu. Tiếp theo là các nghị định, thông tư hướng dẫn chi tiết. Hệ thống pháp luật này điều chỉnh toàn bộ quy trình từ khai thuế, tính thuế đến thu thuế và xử lý vi phạm. Điện Biên là tỉnh biên giới phía Tây Bắc. Tỉnh có cửa khẩu quốc tế và nhiều cửa khẩu phụ. Hoạt động xuất nhập khẩu tại Điện Biên mang đặc thù riêng. Pháp luật thuế áp dụng tại đây chịu ảnh hưởng của điều kiện địa lý, kinh tế và dân trí. Việc nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật tại Điện Biên có ý nghĩa quan trọng.

1.1. Khái niệm và bản chất pháp luật thuế xuất nhập khẩu

Pháp luật quản lý thuế xuất nhập khẩu là tổng hợp các quy phạm pháp luật quy định về quyền, nghĩa vụ của người nộp thuế và cơ quan quản lý thuế. Bản chất của hệ thống pháp luật này thể hiện ở ba chức năng chính. Chức năng thứ nhất là tạo nguồn thu cho ngân sách. Chức năng thứ hai là điều tiết hoạt động thương mại quốc tế. Chức năng thứ ba là bảo vệ nền sản xuất nội địa. Các quy phạm pháp luật được phân loại theo hai căn cứ. Theo giá trị pháp lý, gồm văn bản luật và văn bản dưới luật. Theo nội dung, gồm quy phạm chung và quy phạm riêng cho từng loại hàng hóa, từng đối tượng cụ thể.

1.2. Vai trò của pháp luật thuế trong quản lý nhà nước

Pháp luật thuế xuất nhập khẩu là phương tiện để cơ quan nhà nước quản lý hoạt động thu thuế hiệu quả. Trước hết, pháp luật đặt ra khung pháp lý rõ ràng cho mọi hoạt động thu, nộp thuế. Người nộp thuế biết rõ nghĩa vụ. Cơ quan thuế có căn cứ để thực thi. Thứ hai, pháp luật là công cụ bảo vệ quyền lợi nhà nước và nhân dân. Pháp luật cho phép kiểm tra, giám sát lại cơ quan thu thuế. Dựa vào pháp luật, nhà nước giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm. Số thu từ thuế xuất nhập khẩu luôn chiếm khoảng một phần ba tổng thu ngân sách quốc gia.

II. Thực trạng áp dụng pháp luật thuế xuất nhập khẩu ở Điện Biên

Điện Biên là tỉnh biên giới nằm ở phía Tây Bắc Việt Nam. Tỉnh có đường biên giới dài tiếp giáp với Lào và Trung Quốc. Hệ thống cửa khẩu tại Điện Biên bao gồm cửa khẩu quốc tế Tây Trang và nhiều cửa khẩu phụ. Hoạt động xuất nhập khẩu tập trung vào hàng nông sản, vật liệu xây dựng và hàng tiêu dùng. Trong những năm gần đây, kim ngạch xuất nhập khẩu qua địa bàn có xu hướng tăng trưởng. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng pháp luật thuế xuất nhập khẩu tại Điện Biên còn nhiều hạn chế. Thứ nhất, hạ tầng cửa khẩu chưa đồng bộ. Thứ hai, đội ngũ công chức hải quan còn mỏng. Thứ ba, nhận thức pháp luật của doanh nghiệp và người dân biên giới còn thấp. Tình trạng buôn lậu, gian lận thương mại vẫn diễn biến phức tạp. Các phương thức vi phạm ngày càng tinh vi. Công tác kiểm tra, kiểm soát gặp nhiều khó khăn do địa hình đồi núi hiểm trở. Nợ đọng thuế xuất nhập khẩu tại địa phương vẫn tồn đọng kéo dài.

2.1. Thuận lợi trong triển khai pháp luật thuế tại Điện Biên

Điện Biên có nhiều thuận lợi trong triển khai pháp luật thuế xuất nhập khẩu. Thứ nhất, tỉnh được hưởng chính sách ưu đãi đầu tư vùng biên giới. Nhà nước có nhiều cơ chế hỗ trợ phát triển kinh tế cửa khẩu. Thứ hai, quan hệ thương mại với Lào và Trung Quốc ngày càng mở rộng. Kim ngạch thương mại qua cửa khẩu Tây Trang tăng trưởng ổn định. Thứ ba, hệ thống thông quan điện tử đã được triển khai. Việc áp dụng công nghệ thông tin giúp giảm thời gian xử lý hồ sơ. Đội ngũ công chức hải quan từng bước được đào tạo bài bản hơn.

2.2. Khó khăn và thách thức trong thực tiễn quản lý thuế

Địa hình đồi núi hiểm trở là rào cản lớn nhất. Đường biên giới dài, nhiều đường mòn lối mở gây khó khăn cho kiểm soát. Thứ hai, trình độ dân trí vùng biên giới còn thấp. Nhiều hộ kinh doanh chưa hiểu rõ quy định pháp luật thuế. Thứ ba, tình trạng gian lận thương mại ngày càng tinh vi. Các đối tượng lợi dụng chính sách ưu đãi để trốn thuế. Nợ đọng thuế xuất nhập khẩu tại Điện Biên còn lớn. Công tác thu hồi nợ thuế gặp nhiều trở ngại. Nguồn nhân lực hải quan mỏng, chưa đáp ứng yêu cầu quản lý.

III. Giải pháp hoàn thiện pháp luật thuế xuất nhập khẩu

Để nâng cao hiệu quả quản lý thuế xuất nhập khẩu tại Điện Biên, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Giải pháp đầu tiên là hoàn thiện khung pháp lý. Các quy định cần bám sát thực tiễn biên mậu. Chính sách thuế phải phù hợp với đặc thù kinh tế vùng biên giới. Giải pháp thứ hai là nâng cao năng lực thực thi. Đội ngũ công chức hải quan cần được đào tạo chuyên sâu. Trang thiết bị tại cửa khẩu cần được đầu tư hiện đại hóa. Giải pháp thứ ba là đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin. Hệ thống hải quan điện tử cần được nâng cấp toàn diện. Giải pháp thứ tư là tăng cường tuyên truyền pháp luật. Doanh nghiệp và người dân cần được hướng dẫn đầy đủ quyền lợi và nghĩa vụ. Giải pháp thứ năm là phối hợp liên ngành. Cơ quan hải quan cần hợp tác chặt chẽ với công an, biên phòng và chính quyền địa phương. Sự phối hợp này giúp phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm.

3.1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật thuế xuất nhập khẩu

Hệ thống pháp luật thuế xuất nhập khẩu cần được rà soát và sửa đổi toàn diện. Các quy định về thuế biên mậu cần được ban hành riêng biệt. Mức thuế suất cần phản ánh đúng thực tế giao thương vùng biên. Quy trình khai thuế, nộp thuế cần được đơn giản hóa. Giảm bớt thủ tục hành chính tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp. Các văn bản dưới luật cần được cập nhật kịp thời theo tinh thần luật mới. Tránh tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn giữa các quy định. Ban hành cơ chế ưu đãi thuế phù hợp cho hàng hóa xuất khẩu tại chỗ.

3.2. Nâng cao năng lực thực thi và kiểm tra thuế

Năng lực thực thi pháp luật thuế là yếu tố quyết định hiệu quả quản lý. Cần tăng cường đào tạo nghiệp vụ cho công chức hải quan tại Điện Biên. Nội dung đào tạo tập trung vào kỹ năng kiểm tra hồ sơ và phát hiện gian lận. Đầu tư trang thiết bị soi chiếu hiện đại tại các cửa khẩu. Áp dụng quản lý rủi ro trong kiểm tra thuế. Hàng hóa có mức độ rủi ro thấp được thông quan nhanh. Hàng hóa có dấu hiệu bất thường bị kiểm tra kỹ. Tăng cường kiểm tra sau thông quan để phát hiện sai phạm. Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu chung về doanh nghiệp xuất nhập khẩu.

IV. Kết luận và kiến nghị ứng dụng thực tiễn Điện Biên

Pháp luật quản lý thuế xuất nhập khẩu đóng vai trò nền tảng trong quản lý nhà nước. Tại Điện Biên, thực tiễn triển khai pháp luật thuế cho thấy nhiều kết quả tích cực. Nguồn thu ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu tăng trưởng qua các năm. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều tồn tại cần khắc phục. Hạ tầng cửa khẩu chưa đáp ứng yêu cầu phát triển. Năng lực đội ngũ công chức còn hạn chế. Tình trạng gian lận thương mại vẫn phức tạp. Từ phân tích thực tiễn, bài viết đưa ra một số kiến nghị. Thứ nhất, cần ban hành cơ chế đặc thù cho thuế biên mậu Điện Biên. Thứ hai, tăng cường đầu tư hạ tầng cửa khẩu Tây Trang. Thứ ba, đào tạo nguồn nhân lực hải quan chất lượng cao. Thứ tư, đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý thuế. Thứ năm, tăng cường hợp tác quốc tế trong phòng chống gian lận. Các giải pháp cần được triển khai đồng bộ, có lộ trình cụ thể. Mục tiêu cuối cùng là xây dựng hệ thống quản lý thuế hiện đại, minh bạch và hiệu quả tại vùng biên giới Điện Biên.

4.1. Tổng kết các vấn đề cốt lõi từ thực tiễn

Thực tiễn áp dụng pháp luật thuế xuất nhập khẩu tại Điện Biên đặt ra nhiều vấn đề đáng quan tâm. Thứ nhất, khung pháp lý hiện hành chưa có quy định riêng cho thuế biên mậu. Thứ hai, hạ tầng kỹ thuật tại cửa khẩu còn thiếu thốn. Thứ ba, nhận thức pháp luật của cộng đồng doanh nghiệp và người dân còn hạn chế. Thứ tư, công tác phối hợp giữa các lực lượng chức năng chưa chặt chẽ. Thứ năm, cơ chế xử lý vi phạm chưa đủ sức răn đe. Những vấn đề này cần được giải quyết căn cơ, đồng bộ để nâng cao hiệu quả quản lý thuế.

4.2. Định hướng phát triển trong thời gian tới

Trong thời gian tới, Điện Biên cần định hướng phát triển theo ba trụ cột. Trụ cột thứ nhất là hiện đại hóa hạ tầng cửa khẩu. Đầu tư xây dựng khu thương mại tự do tại cửa khẩu Tây Trang. Trụ cột thứ hai là chuyển đổi số toàn diện. Triển khai hệ thống hải quan số, kết nối liên thông với các cơ quan liên quan. Trụ cột thứ ba là phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Tuyển dụng và đào tạo đội ngũ công chức am hiểu pháp luật quốc tế. Song song đó, tăng cường hợp tác thương mại với các tỉnh biên giới Lào và Trung Quốc.

28/05/2026
Luan van thạc sĩ luật học pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu nhập khẩu từ thực tiễn tỉnh điện biên

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ THUẾ XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ THUẾ XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU 1. Tổng quan về quản lý thuế xuất, nhập khẩu 1. Khái niệm, đặc điểm thuế xuất khẩu, nhập khẩu Thuế và pháp luật về thuế xuất hiện trong nền kinh tế - xã hội nước ta nói riêng và trên thế giới nói chung như một hiện tượng tất yếu, tồn tại và phát triển cùng sự phát triển của nền kinh tế theo mỗi giai đoạn. Các nhà kinh tế học trên thế giới và trong nước cũng đánh giá thuế như một công cụ hữu hiệu để điều tiết nền kinh tế, củng cố quyền lực cũng như gia tăng và bảo vệ lợi ích của Nhà nước.

Có nhiều định nghĩa về thuế đã được đưa ra, ví dụ, theo Các Mác: "Thuế là cơ sở kinh tế của bộ máy cai trị, chứ không phải cái gì khác" [20, tr. Hoặc theo quan điểm của Ngân hàng phát triển châu Á, thuế là nguồn thu chính của các chính phủ để tài trợ cho các dự án và dịch vụ công [40]. Trong Từ điển tiếng Việt định nghĩa: "Thuế là khoản tiền hay hiện vật mà người dân và các tổ chức kinh doanh có nghĩa vụ phải nộp cho nhà nước theo mức quy định, dựa trên mức giá trị tài sản, mức thu nhập, loại hình nghề nghiệp, v. Mặc dù đã có nhiều khái niệm về thuế được đưa ra, tuy nhiên, phải đến khi Luật Quản lý thuế năm 2019 được ban hành (Luật này được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 13 tháng 6 năm 2019, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2020), định nghĩa về thuế ở Việt Nam mới chính thức được pháp luật ghi nhận, theo đó, tại khoản 1 Điều 3 quy định: "Thuế là một khoản nộp ngân sách nhà nước bắt buộc của tổ chức, hộ gia đình, hộ kinh doanh, cá nhân theo quy định của các luật thuế".

Nhằm thực hiện mục tiêu điều tiết nền kinh tế, Nhà nước đặt ra nhiều loại thuế khác nhau, mỗi loại đánh vào một lĩnh vực, một thị trường nhất định, trong đó, 7 thuế xuất khẩu, nhập khẩu là một loại thuế trong lĩnh vực thương mại quốc tế, bao gồm trao đổi hàng hóa, dịch vụ giữa các quốc gia trên thế giới và tuân theo những nguyên tắc nhất định nhằm đem lại lợi ích cho các bên. Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu cũng là một loại thuế tương đối đặc trưng trong hệ thống thuế của mỗi quốc gia, có liên quan trực tiếp đến ngoại thương và chính là một trong những công cụ, những nhân tố cấu thành nên chính sách kinh tế đối ngoại của Nhà nước. Cụ thể hơn, thuế xuất khẩu là loại thuế đánh vào những hàng hóa mà Nhà nước muốn hạn chế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đánh vào những hàng hóa có nguồn gốc từ nước ngoài muốn được tiêu thụ vào thị trường trong nước và mỗi loại thuế này đóng vai trò khác nhau trong việc điều tiết nền kinh tế cũng như bảo đảm lợi ích của Nhà nước. Đến nay, khái niệm về thuế xuất khẩu, nhập khẩu vẫn chưa được ghi nhận trong bất kỳ một văn bản quy phạm pháp luật nào của Việt Nam.

Tuy nhiên, khái niệm về thuế xuất khẩu, nhập khẩu cũng được các học giả trong nước nghiên cứu, phân tích và làm rõ ở những góc độ khác nhau. Có thể nhìn nhận thuế xuất khẩu, nhập khẩu thông qua một vài khái niệm dưới đây. Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là khoản thu thuế đối với hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu của tổ chức và cá nhân vào ngân sách nhà nước khi thực hiện hành vi xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa theo quy định của pháp luật. Dưới góc độ kinh tế, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là công cụ điều tiết đối với quá trình sản xuất, tiêu dùng trong phạm vi mỗi quốc gia nhằm thực hiện các chính sách kinh tế bảo hộ hàng nội địa hoặc đa phương hóa các quan hệ kinh tế trong nước với các nước trong khu vực hoặc phạm vi toàn cầu.

Dưới góc độ pháp lý, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là khoản thu được ghi nhận trong Luật Thuế xuất khẩu, nhập khẩu do quốc hội ban hành, được tổ chức thu bởi cơ quan Hải quan và được bảo đảm cưỡng chế thực hiện [19, tr. Như vậy, có thể hiểu, thuế xuất khẩu, nhập khẩu (hay còn gọi là thuế quan) là một loại thuế gián thu được Nhà nước đặt ra trong lĩnh vực thương mại quốc tế, là một yếu tố cấu thành nên giá cả hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, được thu vào 8 các loại hàng hóa được phép xuất khẩu, nhập khẩu qua biên giới, độc lập trong hệ thống pháp luật thuế trong nước với các nước trên thế giới. Thuế xuất khẩu, nhập khẩu phải được nộp cho ngân sách nhà nước theo những thủ tục nhất định nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước và đảm bảo nguồn chi cho các hoạt động chung của đất nước. Cũng như nhiều loại thuế khác được Nhà nước ban hành, thuế xuất khẩu, nhập khẩu tồn tại trong một lĩnh vực cụ thể, có những đặc trưng và vai trò nhất định trong sự phát triển kinh tế đất nước.

Vì vậy, thuế xuất khẩu, nhập khẩu cũng có những đặc điểm cơ bản của các loại thuế và những đặc điểm riêng, thể hiện được bản chất của thuế xuất khẩu, nhập khẩu [43]. Thứ nhất, thuế xuất khẩu, nhập khẩu mang tính quyền lực nhà nước, được Nhà nước đặt ra và tổ chức truy thu. Nhà nước là chủ thể duy nhất có thẩm quyền đặt ra và tổ chức thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu, qua đó, thực hiện kiểm soát, điều tiết hoạt động xuất, nhập khẩu nói chung và bổ sung nguồn thu ngân sách nhà nước. Ở Việt Nam, thuế xuất khẩu, nhập khẩu được tổ chức thu bởi cơ quan Hải quan, cơ quan này cũng kết hợp với các cơ quan có thẩm quyền khác trong quản lý thuế xuất khẩu, nhập khẩu.

Thứ hai, thuế xuất khẩu, nhập khẩu là một bộ phận cấu thành nền kinh tế - xã hội đất nước. Cụ thể, thuế xuất khẩu, nhập khẩu thể hiện sự tăng trưởng của nền kinh tế và là một phần vật chất của xã hội thông qua mức thuế nộp vào ngân sách nhà nước mỗi năm. Mức thuế được nộp vào ngân sách nhà nước phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế - xã hội mỗi quốc gia hay nói cách khác, mức thuế xuất khẩu, nhập khẩu thay đổi theo từng chu kỳ kinh tế, phụ thuộc và chịu sự ảnh hưởng lớn từ sự phát triển kinh tế. Thứ ba, thuế xuất khẩu, nhập khẩu mang tính pháp lý cao, được điều chỉnh bởi luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu; luật quản lý thuế và các văn bản luật khác có liên quan.

Thuế nói chung và thuế xuất khẩu, nhập khẩu nói riêng là một khoản đóng góp bắt buộc đối với Nhà nước, mọi tổ chức, cá nhân đều phải tuân thủ những quy định của pháp luật về thuế. 9 Thứ tư, thuế xuất khẩu, nhập khẩu là một loại thuế gián thu, là một bộ phận cấu thành của giá hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu. Thứ năm, thuế xuất khẩu, nhập khẩu là thuế đánh vào hàng hóa tiêu dùng hoặc tư liệu sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu qua biên giới quốc gia, không đánh vào dịch vụ. Cụ thể, thuế xuất khẩu đánh vào hàng hóa sản xuất trong nước và đưa ra nước ngoài còn thuế nhập khẩu là thuế đánh vào hàng hóa được phép vận chuyển qua biên giới từ nước ngoài vào nội địa hoặc từ khi phi thuế quan vào thị trường nội địa.

Thứ sáu, thuế xuất khẩu, nhập khẩu là một thoại thuế ít ổn định. Thu ngân sách từ loại thuế này phụ thuộc nhiều vào nhu cầu cung - cầu hàng hóa trên thị trường, giá cả hàng hóa quốc tế, khả năng kiểm soát nạn buôn lậu và sự giao lưu liên minh, liên kết và hội nhập kinh tế thế giới. Khái niệm quản lý thuế xuất khẩu, nhập khẩu Để hiểu được khái niệm quản lý thuế xuất khẩu, nhập khẩu trước hết phải hiểu được khái niệm quản lý thuế. Có quan điểm cho rằng, thuế là một bộ phận của nền kinh tế - xã hội nên quản lý thuế cũng là bộ phận của quản lý kinh tế - xã hội [36].

Vì vậy, khái niệm quản lý thuế chắc chắn được chứa đựng trong khái niệm quản lý nền kinh tế. Quản lý nhà nước đối với nền kinh tế là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của Nhà nước lên nền kinh tế quốc dân, nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực kinh tế trong và ngoài nước, các cơ cấu có thể có để đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế đất nước đặt ra, trong điều kiện hội nhập và mở rộng giao lưu quốc tế [31]. Cũng có quan điểm cho rằng, quản lý thuế là một hoạt động của quản lý thu ngân sách nhà nước. Dưới góc độ kinh tế, quản lý thu ngân sách nhà nước là quá trình xây dựng kế hoạch, quản lý quá trình triển khai các biện pháp hành thu, quá trình nộp các khoản thu vào ngân sách nhà nước và phải tuân thủ các chinh sách chế độ và các văn bản pháp luật về thu ngân sách nhà nước [1, tr.

Khái niệm quản lý thuế hiện nay vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau được nhìn nhận dưới những góc độ khác nhau. Tuy nhiên, từ những khái niệm nêu trên, 10 có thể định nghĩa quản lý thuế là hoạt động của Nhà nước, bằng quyền lực của mình sử dụng pháp luật để tổ chức thu thuế và điều khiển hoạt động thuế nhằm điều tiết nền kinh tế nói chung và những vấn đề về thuế nói riêng. Quản lý thuế xuất khẩu, nhập khẩu là một trong những dạng quản lý thuế. Hoạt động này đương nhiên thuộc quyền lực nhà nước và luôn luôn gắn liền với quyền lực nhà nước.

Do đó, quản lý thuế xuất khẩu, nhập khẩu là quản lý nhà nước trong lĩnh vực thuế xuất khẩu, nhập khẩu bằng việc sử dụng quyền lực của Nhà nước, thông qua pháp luật về thuế xuất khẩu, nhập khẩu và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan tiến hành thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu và điều chỉnh các hoạt động liên quan đến xuất khẩu, nhập khẩu. Các nguyên tắc cơ bản trong quản lý thuế xuất khẩu, nhập khẩu Mặc dù hoạt động quản lý thuế là hoạt động có đặc trưng là mang tính quyền lực nhà nước. Tuy nhiên, tính chất quyền lực ở đây không phải là tuyệt đối. Điều đó có nghĩa rằng, mọi hoạt động quản lý thuế của Nhà nước vẫn phải dựa trên những nguyên tắc nhất định.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ