chương 1 có nhiệm vụ làm sáng tỏ một số khái niệm cơ bản như: thương mại, TMHH, TMDV, Pháp luật về thương mại hàng hoá và thương mại địch vụ. "Đây là những vấn để có liên quan đến việc: Học phần 2 sẽ được triển khai với những giao dich TMHH và TMV nào và tiếp cận từ những cơ sở pháp lý nào? ‘Nol dung chính cần đưa vào giảng day: (4) Quan niệm về thương mại, TMHH, TMDV( (ong đó bao gdm cả việc chỉ ra nội hàm của các khái niệm này) (đi) Đặc điểm của thương mại hàng hoá và thương mại dịch vụ (trong đó làm ro chủ thể thực hiện các giao dịch TMHH, TMDV; mục dich của chủ thể khi tham gia giao dich và hình thức pháp lý của các giao dich đó) Co sở pháp lý của hoạt động thương mại hàng hoá, thương mại ich vụ: | Phân này chỉ ra nguồn pháp luật được đưa vào giảng day:chi bao gồm Luật | Thương mại hay còn bao gôm những văn bản pháp luật khác nữa) “Trong khuôn khổ hội thảo, bài tham luận được viết không với tinh chất Bài giảng mà chỉ nêu vấn đẻ, để xuất hướng nghiên cứu giảng day để các nhà khoa học, các nhà giáo cùng choý kiến thảo luận | 1+ Quan niệm về thương mại, thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ | ~ Vé khái niệm thương mại Tổ bộ môn Luật Thương mại “Trong tổng thể chương tình, khái niệm Thương mại có thể đã được giới thiệu ở phần Nhập môn Luật thương mại. Thiết nghĩ trong phân này, vẫn nên khẳng định lại vì lý do khái niệm này có ý nghĩa chỉ phối rất lớn tới cách hiểu về Thương mại hàng hoá. và Thươngmại địch vụ.
“rên thế giới, thuật ngữ Thương mại được sử dụng với nhiều ý nghĩa khác nhau. Các thuật ngữ Trade, Business trong Tiếng Anh, commerce trong tiếng Pháp hay Commercim trong tiếng latinh đều có ý nghĩa vừa là mua bán, trao đổi hàng hoá địch vụ vừa có ý nghĩa là hoạt động kinh doanh. Như vậy, Thương mại edn được hiểu với 2ý nghĩa: Theo nghĩa rộng, Thương mại là toàn bộ các hoạt động kinh doanh nhằm mục ‘ich sinh lợi của các chủ thể kinh doanh trên thi trường. Theo nghũa hep, Thương mai là "hoạt dong diễn ra trong lĩnh vực phân phối lưu thông, là quá trình mua bán hàng hoá, địch vụ và mục tiê lợi nhuận.
"Xuất phát từ nhiều tiêu thức khác nhau, thương mại được phân c thành nhiều. loại khác nhau: Theo phạm vi hoạt động, thương mại được chia thành Thương mại nội địa (nội thương) và thương mại quốc tế (ngoại thương). Theo mức độ can thiệp của nhà nước vào quá trình thương mại, cổ thương mái tự do và thương mại có sự bảo hộ. “Theo kỹ thut giao dich, có thương mại truyền thống và thương mại điện tử, | ‘Va dic biêtà, theo tinh chất, đặc điểm của sản phẩm trong quá tình tái sản xuất | xii, thương msi được chia thành TMH và TMDY.
Tiếp cận khái niệm này theo nghĩa rộng, trong các hiệp định cia WTO, hiệp định song phương như Hiệp định | thương mại Việt nam - Hoa kỳ, bên cạnh TMHH và TMDV còn bao gồm TM đầu tư và “Thương mại sở hữu trí tuệ. Như vậy có thể hiểu, TMHH và TMDV là hai bộ phận cơ bản cấu thành nên khái niệm thwong mai. ~ Về khái niệm thương mại hàng hoá C6 quan điểm cho rằng, trong nền kinh tế thị trường, khi tất cả các quan hệ kinh. | tế đều được tién tệ hoá, các yếu tố của sản xuất như đất đai, tài nguyên, vốn và tài sản, sức lao động, công nghệ và quản lý, chất xám, các sản phẩm và dịch vụ tạo ra.
Tổ bộ môn Luật Thương mại hàng hoá và trở thành đối tượng mua bán, và như thế ngay cả thương mại trong sở hữu trí tuệ và đầu tư đều có thể quy về TMHH và TMDV. 'Nếu tiếp cận từ góc độ này thì khuôn khổ 45 tiết của HP2 sẽ trở nên rất chật hẹp, hơn nữa, trong tổng thể chương tình đào tạo, chúng ta đã có môn học Luật đầu tư 30 tiết và I học phần tự chọn với nội dung: Pháp luật vẻ sở hữu công nghiệp trong hoạt động thương mại. Chính vì vậy, theo tôi, có thể giới thiệu khái niệm TMHH với ý nghĩa 1â hoạt động kinh doanh mọi loại hàng hoá (theo nghĩa rộng) nhưng có giới han pham, nghiê vũ n yếu của học phần và của môn học là hoạt động kinh doanh hàng hoá cứu chủ theo quy định của Luật Thương mại và các văn bản hướng dẫn thì hành, tức là chỉ iếp cần khái niệm thương mại hàng hoá theo nghĩa hẹp. Ưu điểm của phương án này là người học nắm bất được xu thế của TMHH trong bối cảnh hội nhập, yêu cầu của việc hoàn thiện pháp luật hướng tối sự tương thích với các quy định của WTO và các hiệp định song phương, đồng thời, trong phạm vì môn học LTM Việt nam (chứ không phải ‘Mon học LTMQT), người học xác định được trong tam cần nghiên cứu là quan hệ 'TMHHH giữa các tổ chức, cá nhân kinh doanh trong nước.
"Xuất phát từ giới hạn nghiên cứu này, các hình thức chủ yếu của thương mại hàng hoá cần đưa vào giảng day trong chương trinh bao gồm: (i) hành vi mua bán hàng hoá (ii) hành vi đấu thấu, đấu giá hàng hoá. Đấu thầu là một hình thức mua hàng thông qua mời thầu nhằm lựa chọn thương nhân dự thấu dép ứng được các điều kiện về giá cả, Kĩ thuật. do bên mời théu đặt ra. Còn đấu giá, mặc dù LTM hiện hành quy định rõ về hành vi “kinh doanh dịch vụ đấu giá”, nhưng theo tôi, đấu giá là một phương thức bán hàng.
Bản chất của đấu thấu, đấu giá không phải là dịch vụ mà là mua bán hàng hoá. = Về khái niệm thương mại địch vụ ay là một vấn để rất phúc tạp, bởi vì không thể tim thấy một định nghĩa chính thức nào về “ địch vụ” trong pháp luật thương mại của các nước và quốc tế. Ngay trong các hiệp định của WTO cũng không định nghĩa thé nào là địch vụ mà chỉ đưa ra 4 phương thức cung cấp dich vụ!. Tuy nhiên dưới góc độ nghiên cứu, có thể hiểu dịch vụ là sự thực hiện những công việc nhất định, đáp ứng nhu cẩu người sử dung và được trả ‘wo sốn: () cứng cấp qua in gớ, ví ly ich vụ bu cính viếnthông(2)iên thụ ngoài btn giới, heo để khánh dnt oe của người cung ep dich xà để mua DV, ví d da hoc) Hien đa thương mạ: tình lập chỉ "hạnh cong để cong cấp DV,(0hiện điện thé herd điện đế tận hước khách bằng để cung Ôn dịch wo.
3 “Tổ bộ môn Luật Thường mại thù lao cho việc thực hiệp những cóng việc đó. Do không có một định nghĩa chính thức vé dich vụ nên có lẽ chỉ nên hiểu khái niệm Thương mại dich vụ ở mức độ tương đối - "Đó chính là sự cũng cấp dịch vụ thông qua các phương bức khác mau để đổi Ay tiền công trả cho sự cưng cấp dich vụ đó. Khác với TMHH, đối tượng mua bán ở đây là bàng hoá võ hình, không lưu giữ được ~ Các hình thức của TMDV: ‘WTO phân loại dich vụ thành 12 ngành: (1) địch vụ kính đoanh, bao gốm các dich vụ nghề nghiệp như pháp lý, kế toán kiểm toán, kiến trúc, tw vấn, cho thuê, quảng cáo, dich vụ kỹ thuật.(2) dich vợ liền lạc, bao gồm các dịch vụ bưu chính viễn thông, nghe nhìn.3) Dich vụ xây đụng (4) địch vụ phân phối, bao gồm dai lý hoa hồng, đại ý mượn đanh; (5,6,7,.12) các dich vụ tài chính, môi trường, siáo dục, vận tá, du ch, giải trí, và các địch vy khác bao gồm tất cả các dịch vụ chưa được liệt kê ở trên, Nghiên cứu việc phân loại này của WTO, có thể thấy các hành vi thương mai dich vụ_ ở đây bao gồm 2 nhóm : (i) các địch ve thương mại hỗ trợ trực tiếp cho hoại 'động sản xuất kinh doanh như Đại lý, quảng cáo, dich vụ kỹ thuật.(i) các dich vụ kính doanh không gắn liền với mua bán hàng hoá như: địch vụ tài chính, du lịch giải tr, địch -w lên lạc, ytế, giáo dục, dich vy xây dụng. Việc giảng day tấ cả các địch vụ trên đương nhiên là cần thiết và phù hợp với xu thế hội nhập, Tuy nhiên, trong khuôn khổ số tiết được phép và phâm công giáng day giữa các bộ môn, Bộ môn Luật Thương mai chỉ tên xác định trọng tâm nghiền cứu là các hành vỉ thương mại dich vụ được quy di trong LTM, các hành vi khác chủ yến sẽ được lựa chon, giới thiệu để sinh viên tự nghiên cứu ® Theo quy di hiện hành của LIME 1997, bao gồm các Dịch vụ: - Đại ý, + môi giới, =u) thác, = đại điện, = quảng cáo và các dịch vụ XTTM khác, hạn và gi hiệu những hàn vụ ào là một vấn để gÖf tạp, Văn đề này sẽ dược dễ cập rong bế ca ca “Thểi 2 Dinh Vinh 4 Tổ bộ môn Luật Thương mại Xu hướng sửa đổi LTM cũng không có ý định đưa vào LTM toàn bộ các giao dịch TMDV theo phân ngành của WTO, vì nhiều giao địch TMDV đã được các VBPL, khác quy định như Luật ngân hàng, Luật kinh doanh bảo hiểm.
và thực tế những dich vụ tài chính này hiện cũng được Bộ môn khác đảm nhiệm giảng dạy. ~ Về sự tương đồng và khác biệt giữa TMHH và TMDV “Thương mại, rước hết là sự mua bán, trao đổi một đối tượng nào đồ giữa hai chủ thể. Sự khác nhau giữa TMHH và TMDVỂ chính là ở đối tượng mua bán: hàng hoá hay là dich vụ. Hiểu theo nghĩa rộng, dich vụ cũng là một loại “hàng hoá”, vì vậy “hàng hoá” trong khái niệm TMHH được hiểu với nghĩa hẹp hon, chỉ là những hàng hoá vật chất.
Còn dich vụ là những hàng hoá võ hình nên đối tượng của TMDV là những hàng hoá võ hình. Không ai có thể nhìn thấy lời nói được truyền qua đường day điện thoại như thế nào, nhưng 2 người ở xa hàng ngàn km vin có thể nói chuyện được với nhau và họ sẵn sàng trả tiền cho việc này. Như vậy, địch vụ đã được mua bán. “Tuy nhiên, nhìn nhận hành vi nào là TMHH, hành vi nào là TMDV thật không ‘don giản.