Chương 1: Khái quát chung về giao kết và thực hiện Hợp đồng thương mại. Chương 2: Thực trạng giao kết và thực hiện Hợp đồng thương mại tại Công ty Nhiệt điện Uông Bí Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả giao kết và thực hiện Hợp đồng thương mại tại Công ty Nhiệt điện Uông Bí. 8 CHƢƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm chung về Hợp đồng thƣơng mại 1.Khái niệm a/ Khái niệm về Hợp đồng Theo Điều 385 BLDS 2015 “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự”.
Hợp đồng là một hành vi pháp lý cơ bản và thông dụng nhất, là sự thể hiện ý chí của các chủ thể để làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ. BLDS năm 2015 đã bỏ cụm từ “dân sự” sau hai từ “hợp đồng” trong với BLDS năm 2005, điều này giúp cho cách hiểu về khái niệm hợp đồng trong BLDS được rộng hơn, bao trùm cả hợp đồng dân sự, hợp đồng lao động, hợp đồng kinh doanh hay HĐTM, hợp đồng đầu tư. Quy định mới về khái niệm hợp đồng này làm tăng tính khả thi, minh bạch trong thực tiễn áp dụng, mở rộng phạm vi điều chỉnh của BLDS. Ý chí của các chủ thể đóng vai trò quan trọng trong hợp đồng, khi sự thống nhất của các ý chí là thực chất và không trái pháp luật thì nó sẽ làm phát sinh các nghĩa vụ, nghĩa vụ này ràng buộc các chủ thể, buộc các chủ thể hợp đồng phải thực hiện.
Do đó, yếu tố thoả thuận, thống nhất ý chí có ý nghĩa chủ đạo trong việc thiết lập lên hợp đồng, tuy nhiên chỉ những thoả thuận làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ của các chủ thể mới tạo nên quan hệ hợp đồng. b/ Khái niệm về HĐTM Hiện nay, khái niệm về HĐTM không có trong tất cả các văn bản pháp luật, khái niệm này chỉ tồn tại dưới dạng là một thuật ngữ pháp lý. Ngay trong LTM 2005 cũng không có khái niệm cụ thể thế nào là HĐTM nhưng có thể hiểu HĐTM là một dạng cụ thể của hợp đồng dân sự phục vụ cho mục đích kinh doanh. Như vậy HĐTM cũng là những giao dịch có bản chất dân sự, được thiết lập trên cơ sở thỏa thuận tự nguyện, bình đẳng của các bên, cùng hướng tới lợi ích của mỗi bên và lợi ích chung khi tham gia giao kết hợp đồng và đều có những vấn đề cơ bản của một 9 hợp đồng dân sự, chỉ khác về mục đích là phục vụ cho mục đích kinh doanh thương mại.
Xuất phát từ khái niệm hoạt động thương mại được qui định trong Khoản 1 Điều 3 LTM 2005 “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác” thì có thể hiểu HĐTM là hình thức pháp lý của hành vi thương mại, là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên mà ít nhất một trong các bên phải là thương nhân hoặc các chủ thể có tư cách thương nhân nhằm xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên trong việc thực hiện hoạt động thương mại. Khái niệm trên giúp cho các bên tham gia HĐTM hiểu rõ bản chất của HĐTM là một sự thỏa thuận, mục đích của HĐTM là nhằm mục đích thương mại và chủ thể tham gia hợp đồng là thương nhân hoặc tổ chức cá nhân khác hoạt động có liên quan đến thương mại. Tóm lại HĐTM là sự thỏa thuận giữa các chủ thể thương mại với nhau và với các chủ thể có liên quan về việc xác lập, thay đổi, hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong hoạt động thương mại. Hợp đồng là phương tiện không thể thiếu trong hoạt động thương mại để các chủ thể thực hiện mục tiêu thương mại của mình.
HĐTM trở thành phương tiện phục vụ cho mục đích kinh doanh trên nguyên tắc các chủ thể tự nguyện, bình đẳng với nhau. Đặc điểm Từ các khái niệm trên thì HĐTM mang những đặc điểm của hợp đồng dân sự nói chung, đồng thời mang những nét đặc trưng nhất định, trong đó có hai yếu tố cơ bản: Thứ nhất, nội dung là các hoạt động thương mại; Thứ hai, được ký kết giữa các chủ thể là thương nhân hoặc ít nhất một bên chủ thể là thương nhân. a/ Chủ thể của Hợp đồng thương mại Chủ thể đầu tiên của HĐTM là thương nhân. Thương nhân được xem là các chủ thể hoạt động một cách thường xuyên trong các hoạt động có liên quan đến thương mại, các chủ thể khác được xem là các chủ thể hoạt động không thường 10 xuyên đó là tất cả các chủ thể của luật dân sự khi tham gia các hoạt động thương mại.
Từ một đặc điểm của HĐTM là được ký kết giữa các chủ thể là thương nhân, hoặc có ít nhất một chủ thể là thương nhân, có thể thấy hoạt động thương mại là hoạt động của các thương nhân hoặc giữa thương nhân với các chủ thể khác. Khoản 1 Điều 6 LTM 2005 quy định “Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh”. Trong HĐTM, có thể có những hợp đồng đòi hỏi các bên đều phải là thương nhân như: hợp đồng đại diện cho thương nhân, hợp đồng đại lý thương mại… hay có những hợp đồng chỉ đòi hỏi có ít nhất một bên là thương nhân như: hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa, hợp đồng dịch vụ bán đấu giá hàng hóa, hợp đồng môi giới thương mại…). Ngoài ra, các tổ chức, các nhân không phải là thương nhân cũng có thể trở thành chủ thể của HĐTM khi họ có hoạt động liên quan đến thương mại.
Họ tham gia hợp đồng không nhằm mục đích sinh lợi nhưng có liên quan đến thương mại, có nhu cầu giao dịch, mua bán hàng hóa và lựa chọn luật áp dụng là LTM. Như vậy, chủ thể trong HĐTM gồm thương nhân, cá nhân, tổ chức khác có hoạt động liên quan đến thương mại (Khoản 1,2 Điều 2 LTM 2005), với tư cách là pháp nhân hay cá nhân nếu tuân thủ được các quy định của pháp luật thì đều có quyền tiến hành các giao dịch thương mại. b/ Đối tượng của Hợp đồng thương mại Các bên khi tham gia ký kết HĐTM thỏa thuận về quyền và nghĩa vụ của mình trong hoạt động thương mại ký kết. Đối tượng của HĐTM có thể là hàng hóa, trong đó Khoản 2 Điều 3 LTM 2005 quy định hàng hóa bao gồm tất cả các loại động sản kể cả động sản hình thành trong tương lai, những vật gắn liền với đất đai, dịch vụ,.
nhưng phải không thuộc danh mục hàng hóa bị cấm. Chính vì hoạt động thương mại bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, xúc tiến thương mại và các hoạt 11 động nhằm mục đích sinh lợi, nên đối tượng của HĐTM không chỉ dừng lại ở hàng hóa hữu hình mà bao gồm cả các loại hình dịch vụ và các hoạt động sinh lợi khác. c/ Luật điều chỉnh Hợp đồng thương mại Nguồn của pháp luật hợp đồng là các căn cứ được sử dụng làm cơ sở để xây dựng, ban hành, giải thích pháp luật cũng như để áp dụng vào việc giải quyết các tranh chấp pháp lý xảy ra trong thực tế, cụ thể nguồn luật điều chỉnh hợp đồng trong hoạt động thương mại ở Việt Nam gồm: Thứ nhất, Các văn bản pháp luật liên quan đến HĐTM. Hai văn bản pháp luật quan trọng nhất hiện nay là LTM 2005 và BLDS 2015, bên cạnh đó còn có luật chuyên ngành.
Những vấn đề nào LTM 2005 và luật chuyên ngành không quy định thì áp dụng BLDS 2015. Trong mối quan hệ giữa LTM và luật chuyên ngành thì luật chuyên ngành được ưu tiên điều chỉnh trước. Đối với HĐTM quốc tế thì ngoài các quy định trên còn ưu tiên áp dụng các công ước quốc tế mà Việt Nam tham gia ký kết hoặc luật của nước mà các bên thỏa thuận áp dụng. Đối với các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (hợp đồng xuất khẩu, hợp đồng nhập khẩu) thì có thể áp dụng Công ước của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG) nếu hợp đồng thuộc phạm vi áp dụng của Công ước này.
Thứ hai, Các nghị quyết, hướng dẫn, tổng kết của tòa án nhân dân tối cao và nghị quyết của Hội đồng thẩm phán liên quan đến các vụ án thương mại, các nghị định của chính phủ, các thông tư của các bộ ban ngành là nguồn của pháp luật HĐTM. Thứ ba, Thói quen và tập quán thương mại: Theo điều 12 LTM 2005 thì các bên được coi là mặc nhiên áp dụng những thói quen trong hoạt động thương mại đã được thiết lập giữa các bên đó mà họ đã biết hoặc buộc phải biết. Trường hợp các bên không có thỏa thuận, pháp luật không quy định thì áp dụng tập quán thương mại, tức là thói quen được thừa nhận rộng rãi trong hoạt động thương mại trên một vùng, miền hoặc một lĩnh vực thương mại, có nội dung rõ ràng được các bên thừa nhận để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động thương mại. Đối 12 với các HĐTM quốc tế thì tập quán thương mại quốc tế như Incoterms, UCP là một trong các nguồn chủ yếu.
d/ Giải quyết tranh chấp Hợp đồng thương mại Trong quá trình tiến hành hoạt động thương mại, các chủ thể tham gia hoạt động thương mại khó tránh khỏi những mâu thuẫn, bất đồng về quyền và nghĩa vụ trong những quan hệ cụ thể. Tranh chấp HĐTM phát sinh khi có một hoặc nhiều chủ thể trong quan hệ hợp đồng vi phạm hoặc bị cho là vi phạm về các quyền và nghĩa vụ được quy định trong hợp đồng. Khi có tranh chấp xảy ra, để đảm bảo quyền lợi của mình, các bên đều muốn giải quyết tranh chấp nhanh chóng, thuận lợi, có hiệu quả và không ảnh hưởng đến quá trình kinh doanh của mình. Các bên có thể lựa chọn phương án giải quyết bằng thương lượng, hòa giải, trọng tài hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết.
Thương lượng là phương thức giải quyết tranh chấp HĐTM thông qua việc các bên cùng nhau bàn bạc, thỏa thuận để tự giải quyết mâu thuẫn phát sinh. Hoà giải là hình thức các bên cùng nhau bàn bạc, thỏa thuận (có thể có sự tham gia của trung gian) để tìm kiếm phương pháp giải quyết tranh chấp phát sinh.