CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI VÀ MIỄN TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA 1. Khái niệm và đặc điểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa 1. Khái niệm, đặc điểm của vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa 1. Khái niệm của vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa Hợp đồng mua bán hàng hóa có hiệu lực sẽ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa bên bán và bên mua.
Theo đó, những cam kết trong hợp đồng sẽ ràng buộc các bên về quyền và nghĩa vụ. Hay nói cách khác điều khoản trong hợp đồng mua bán hàng hóa là cam kết mà các bên phải thực hiện. Tuy nhiên, việc thực hiện hợp đồng không phải lúc nào cũng được các bên tuân thủ tuyệt đối dẫn đến phát sinh hành vi vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa. Trong khoa học pháp lý, thuật ngữ vi phạm hợp đồng đã ra đời và tồn tại trong nhiều hệ thống pháp luật trên thế giới, trong đó có Việt Nam.
Tuy nhiên khái niệm về vi phạm hợp đồng nói chung và hợp đồng mua bán hàng hóa nói riêng còn nhiều vấn đề cần bàn. Căn cứ theo từ điển tiếng Việt, vi phạm tức là “không tuân theo hoặc làm trái những điều quy định”[18]. Thông qua khái niệm trên ta có thể thấy vi phạm được thể hiện ở hai khía cạnh là “không tuân theo quy định” và “làm trái quy định”. Từ đó có thể hiểu một cách khái quát vi phạm hợp đồng là không tuân theo hoặc làm trái những gì các bên đã thỏa thuận trước đó.
Theo pháp luật Việt Nam, khái niệm vi phạm hợp đồng lần đầu được nêu tại khoản 12 Điều 3 Luật Thương mại 2005 theo đó “Vi phạm hợp đồng là việc một bên không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng 14 luan an nghĩa vụ theo thỏa thuận giữa các bên hoặc theo quy định của Luật này” [23]. Qua quy định này, “vi phạm” được hiểu là “không thực hiện”, “thực hiện không đầy đủ” hoặc “thực hiện không đúng”. BLDS 2015 không đề cập trực tiếp đến khái niệm vi phạm hợp đồng nhưng thể hiện tinh thần đó trong phần “trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ dân sự” theo đó vi phạm nghĩa vụ là việc việc “không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn”, “thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ” hoặc “thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ” [21, Điều 351]. Với quy định này ta thấy rằng LTM 2005 và BLDS 2015 có sự tương đồng khi quy định về vi phạm.
Về phương diện học thuật, vi phạm hợp đồng được nhiều công trình nghiên cứu đề cập. Theo giáo trình luật thương mại tập 2 thì vi phạm hợp đồng là xử sự của các chủ thể hợp đồng không phù hợp với các nghĩa vụ theo hợp đồng. Biểu hiện cụ thể là không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các nghĩa vụ trong hợp đồng [5]. Với khái niệm, vi phạm hợp đồng chỉ bao gồm “không thực hiện” hoặc “thực hiện không đúng” nghĩa vụ.
Tuy nhiên khái niệm này chỉ tập trung vào nghĩa vụ mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng nhưng lại bỏ qua nghĩa vụ của các bên theo quy định của pháp luật. Mặc dù Điều 3 BLDS 2015 và Điều 11 LTM 2005 đều thể hiện tinh thần tôn trọng quyền tự do, tự nguyện thỏa thuận trong hợp đồng tuy nhiên sự tự do thỏa thuận đó không được trái với các quy định của pháp luật, thuần phong mỹ tục và đức xã hội. Chính vì thế việc bỏ qua nghĩa vụ của các bên theo quy định của pháp luật trong khái niệm vừa nêu là một sự thiếu sót. Còn theo giáo trình Luật kinh tế thì vi phạm hợp đồng là hành vi của một bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo các điều kiện hợp đồng [17, tr 371].
Với khái niệm này vi phạm chỉ bao gồm “không thực 15 luan an hiện” hoặc “thực hiện không đúng” nghĩa vụ. Đồng thời khái niệm sử dụng cụm từ “điều kiện hợp đồng”, cụm từ này mang tính bao quát vì “điều kiện hợp đồng” bao gồm bất kỳ điều kiện nào đã được các bên thỏa thuận cụ thể trong hợp đồng và các quy phạm dự liệu khi các bên không thỏa thuận. Thông qua việc phân tích các khái niệm vừa nêu, vi phạm hợp đồng chỉ bao gồm hai biểu hiện đó chính là “không thực hiện” hoặc “thực hiện không đúng” nghĩa vụ. Riêng “thực hiện không đầy đủ” không được cho là một hành vi vi phạm hợp đồng vì thực hiện không đầy đủ cũng chính là “thực hiện không đúng”, chẳng hạn như khi đến hạn giao hàng bên bán chỉ giao 300 chiếc áo thay vì 600 chiếc áo như thỏa thuận như vậy bên bán đã thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình.
Đặc điểm của vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa Thứ nhất, chủ thể trong quan hệ vi phạm hợp đồng mua bán hàng khá đa dạng. Chủ thể trong quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa đa phần giữa các thương nhân nhằm mục đích sinh lợi. Tuy nhiên đôi lúc trong quan hệ hợp đồng này lại có một bên chủ thể không phải là thương nhân và họ thực hiện hoạt động mua bán không nhằm mục đích sinh lợi nhưng lại chọn LTM 2005 để điều chỉnh mối quan hệ hợp đồng [23, Điều 1]. Các chủ thể này tham gia vào quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa khi một trong các bên có hành vi vi phạm thì lúc này sẽ được phân thành bên vi phạm và bên bị vi phạm.
Thứ hai, vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa là hành vi vi phạm “thỏa thuận” giữa các bên trong hợp đồng. Thỏa thuận là sự trao đổi, bàn bạc, thương lượng để đi đến sự đồng thuận và thống nhất ý chí [8, tr127]. Thông qua sự thỏa thuận các bên tạo thành hợp đồng, tức làm phát sinh, thay đổi chấm dứt quyền và nghĩa vụ giữa các bên 16 luan an trong hợp đồng. Nhưng cũng cần lưu ý rằng chỉ những thỏa thuận tạo ra sự ràng buộc pháp lý mới được coi là hợp đồng.
Đồng thời các thỏa thuận không được trái với quy định của pháp luật, thuần phong mỹ tục và đạo đức xã hội [23, Điều 11]. Sở dĩ nói vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa là hành vi vi phạm “thỏa thuận” giữa các bên trong hợp đồng là vì, khác các loại quyền và nghĩa vụ pháp lý khác do nhà nước quy định, quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng là do các bên tự mình tạo ra trên sơ sở thỏa thuận bình đẳng, tự do và tự nguyện. Pháp luật thừa nhận sự ràng buộc pháp lý phát sinh từ những cam kết hợp pháp, tự nguyện của các bên trong hợp đồng. Nói cách khác, hợp đồng là một sự kiện pháp lý, mà trong đó các chủ thể bằng ý chí của mình tạo ra quyền và nghĩa vụ ràng buộc pháp lý với các bên tham gia.
Vì thế, vi phạm hợp đồng cũng là vi phạm thỏa thuận giữa các bên. Thứ ba, vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa là căn cứ để xác định trách nhiệm vi phạm hợp đồng của các bên vi phạm. Trong quá trình thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa, tính hiệu quả mang lại phần lớn phụ thuộc vào mức độ thiện chí, thái độ hợp tác của các bên. Tuy nhiên, thực tế xảy ra không ít trường hợp có bên vi phạm hợp đồng làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của các bên còn lại.
Chính vì vậy trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa là một phần không thể thiếu để bảo vệ quyền lợi của bên bị vi phạm. Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng có thể được các bên tự thỏa thuận hoặc do luật định. Điều kiện chung để phát sinh trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa là có hành vi vi phạm hợp đồng của một bên hoặc cả hai bên. 17 luan an Khi có vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa, pháp luật quy định các bên có thể đồng thời áp dụng nhiều chế tài trong thương mại khác nhau đối với một hành vi vi phạm.
Các chế tài đó có thể là buộc thực hiện đúng hợp đồng, bồi thường thiệt hại, phạt vi phạm, tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng và hủy bỏ hợp đồng [23, Điều 292]. Các loại vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa Căn cứ theo quy định của LTM 2005 và Công ước Viên 1980. Thì vi phạm hợp đồng được chia thành hai loại đó vi phạm cơ bản và vi phạm không cơ bản. Khái niệm vi phạm cơ bản được quy định tại LTM 2005 theo đó “Vi phạm cơ bản là sự vi phạm hợp đồng của một bên gây thiệt hại cho bên kia đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng” [23, Điều 3].
Còn theo Công ước Viên 1980 quy định, “Vi phạm hợp đồng của một bên được xem là vi phạm cơ bản nếu nó gây thiệt hại cho bên kia đáng kể đến mức làm cho bên kia không đạt được những gì mà họ có quyền mong đợi theo hợp đồng, trừ trường hợp bên vi phạm không thể tiên liệu và một người bình thường đặt trong cùng hoàn cảnh cũng không thể tiên liệu hậu quả đó”[15, Điều 25]. Việc xác định vi phạm cơ bản hợp đồng mang ý nghĩa vô cùng quan trọng vì đây sẽ là căn cứ để các bên trong hợp đồng áp dụng các chế tài đối với bên vi phạm. Theo đó, ngoại trừ các bên tự thỏa thuận thì chỉ khi có vi phạm cơ bản bên bị vi phạm mới có quyền áp dụng chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng hoặc hủy bỏ hợp đồng. Thông qua khái niệm về vi phạm cơ bản hợp đồng thì hành vi được cho là vi phạm cơ bản hợp đồng mua bán hàng hóa phải hội tụ đủ các yếu tố sau đây: 18 luan an Thứ nhất, phải có sự vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa.
Có thể hiểu vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa là việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ hợp đồng mà bên mua và bên bán đã thỏa thuận. Ví dụ: ngày 14/4/2018, Công ty Hoàng Vỹ (bên bán) và công ty Phi Long (bên mua) ký hợp đồng mua bán số 03/2018/PL-TH về việc mua bán 1354 tấn dăm gỗ keo tràm, với tổng số tiền là 1. Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty Hoàng Vỹ đã giao dăm gỗ keo tràm cho Công ty Phi Long theo đúng hợp đồng. Công ty Phi Long đã thanh toán cho công ty Hoàng Vỹ số tiền 1.