Chương 1. Những vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thương mại và pháp luật về đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thương mại. Thực trạng pháp luật về đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thương mại tại Việt Nam. Quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật về đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thương mại.
11 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Pháp luật về nhượng quyền thương mại là nội dung quan trọng của pháp luật điều chỉnh hoạt động thương mại trong nền kinh tế thị trường, đang được nhiều nhà khoa học thuộc các lĩnh vực khác nhau quan tâm nghiên cứu. Ở các phạm vi và mức độ khác nhau, có một số công trình đã được công bố, đề cập đến một vài khía cạnh kinh tế và pháp lý của hoạt động nhượng quyền thương mại nói chung cũng như đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thương mại nói riêng như sau: 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới: 1. Các công trình nghiên cứu về hoạt động nhượng quyền thương mại chủ yếu tập trung vào các nội dung sau: - Phân tích các đặc điểm và cách thức tiến hành hoạt động nhượng quyền thương mại, đặc biệt là nhượng quyền thương mại quốc tế (Editors: Yanos Gramatidis & Dennis Campbell - International Franchising: An in-depth treatment of business and legal techniques.
(Based on reports made in the Spring 1990 conference sponsored by McGeorge School of Law at Waidring, Austria, and chaired by Yanos Gramatidis, Bahas, Gramatidis & Associates, Athens, Greece.) - Kluwer Law and Taxation Publishers. Deventer -Boston 1999); Bên cạnh đó, với cuốn sách chuyên khảo International franchising, của tác giả Dennis Campbell, Antonida Netzer, Center for International Legal Studies, Kluwer Law International, xuất bản năm 2008 đã đề cập đến xu thế toàn cầu hóa của hoạt động nhượng quyền thương mại, chỉ ra tầm quan trọng và hiệu quả đầu tư theo phương thức nhượng quyền. Bên cạnh sự phân tích về những ưu điểm, tiềm năng mà phương thức nhượng quyền thương mại mang lại, các tác giả cũng đã phân tích những khó khăn và hạn chế mà các bên trong quan hệ nhượng quyền thương mại có thể phải đối mặt. Ngoài ra, tác giả còn cung cấp nhiều thông tin liên quan đến sự phát triển của hoạt động nhượng quyền thương mại tại một số quốc gia như Úc, Áo, Canada, Chile, Trung Quốc, Cộng hòa Séc, Đan Mạch, Pháp, Đức, Hy Lạp, Ấn Độ, Indonesia, Israel, Malaysia, Mexico, Na uy.
12 - Đánh giá những tác động của hoạt động nhượng quyền thương mại tới nền kinh tế: Nội dung này được thể hiện trong cuốn Economic Impact of franchised bussiness, a study for the international franchise. Association Educational Foundation, 2004, by the National Economic Consulting Practise of PricewaterhouseCoopers; 1. Nghiên cứu hoạt động nhượng quyền thương mại dưới góc độ pháp luật sở hữu trí tuệ có một số công trình khoa học như: + Protecting and Enforcing Franchise Trade Secrets, Mark S.Vanderbroek and Christian B.Tuner, Frachise Law Journal, number 4, volume 25, spring 2006: Bài viết khẳng định bí mất kinh doanh là yếu tố cốt lõi làm nên thương hiệu của một hệ thống nhượng quyền (ngoài ra có thể kể đến nhãn hiệu), nó là một trong những điều kiện then chốt tạo nên thành công của nhà nhượng quyền để có thể đem nhượng lại “đặc quyền kinh doanh’ của mình trên thị trường. Do đó, nhu cầu bảo vệ bí mật kinh doanh là một nhu cầu hoàn toàn tự nhiên và chính đáng của các thương nhân nhượng quyền thương mại.
Trong bài viết này, hai tác giả cũng đồng quan điểm với các nhà lập pháp Việt Nam trong việc xác định khái niệm của bí mật kinh doanh thông qua các yếu tố: (i) có giá trị kinh tế, (ii) mang lại lợi thế cạnh tranh, (iii) không dễ dàng bị công khai, bộc lộ. Từ việc nhận dạng bí mật kinh doanh và khẳng định vai trò của bí mật kinh doanh trong hoạt động nhượng quyền, các tác giả đã đưa ra những khuyến nghị cho các thương nhân trong hệ thống nhượng quyền cách thức để bảo vệ yếu tố tạo nên thành công của mình. Thông qua một vụ tranh chấp điển hình giữa tập đoàn Tan – line (chuyên điều hành và nhượng quyền dịch vụ thẩm mỹ nhuộm da) với ông Bdraley – nguyên là chuyên gia của Tập Đoàn) với nội dung cụ thể như sau: ông Bradley sau khi rời khỏi tập đoàn đã sử dụng bí mât kinh doanh của tập đoàn để tiến hành hoạt động kinh doanh của cá nhân, do đó tập đoàn Tan – line đã khởi kiện ông Bradley tại toà án bang Pennsylvania. Căn cứ vào quy định của Luật Liên bang về bí mật kinh doanh, toà án đã tuyên ông Bradley xâm phạm bí mật kinh doanh của tập đoàn Tan – line và phải bồi thường theo quy định, các tác giả đã chia sẻ kinh nghiệm hiệu quả để thương nhân nhượng quyền bảo vệ bí 13 mật kinh doanh của mình.
Đây là một trong những công trình nghiên cứu về bí mật kinh doanh - một trong các yếu tố cầu thành nên đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thương mại có những đặc điểm và cơ chế bảo hộ tương đối khác biệt với các yếu tố sở hữu tri tuệ khác. + James Otieno-Odek (2006). The role of intellectual property in franchising arrangements. WIPO – KEPSA Seminar on Intellectual property and franchising for small and medium sized enterprises, Nairobi, January 18 and 19, 2006, World Intellectual Property Organization (WIPO) and the Kenya Private Sector Alliance (KEPSA).
Đây là bài viết nằm trong khuôn khổ Hội thảo về Sở hữu trí tuệ và nhượng quyền dành cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ do Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) và Liên minh khu vực tư nhân Kenya (KEPSA) tổ chức tại Nairobi với tên gọi Vai trò của Sở hữu trí tuệ trong thoả thuận nhượng quyền. Với dung lượng gần 10 trang, bài viết đã đề cập đến những vấn đề mang tính khái quát về hoạt động nhượng quyền ở Kenya như: khái niệm hoạt động nhượng quyền, sự phù hợp của hệ thống pháp luật (đặc biệt là pháp luật về Sở hữu trí tuệ) của Kenya để thực hiện hoạt động nhượng quyền, phân loại nhượng quyền…Qua đó, bài viết khẳng định vai trò của các yếu tố Sở hữu trí tuệ đối với bên nhượng và bên nhận trong quan hệ nhượng quyền. Từ đây, tác giả bài viết đưa ra những khuyến nghị đối với các thương nhân đứng trước cơ hội kinh doanh nhượng quyền cũng như những lưu ý về mặt pháp lý đối với vấn đề sở hữu trí tuệ trong hoạt động nhượng quyền. Những khuyến nghị này không nẳm ngoài mục đích nhấn mạnh ưu điểm của hoạt động nhượng quyền so với các hoạt động thương mại khác mà các thương nhân có thể tận dụng được khi lựa chọn hoạt động kinh doanh này.
+ Ratih Puspitaningtyas Faeni (2015). Franchise Business Protection in Context of Intellectual Property Law in Indonesia (Bảo hộ hoạt động nhượng quyền thương mại trong khuôn khổ pháp luật Sở hữu trí tuệ ở Indonesia). Journal of Law, Policy and Globalization, Vol. Bài viết đã đề cập đến nhiều vấn đề pháp lý về hoạt động nhượng quyền tại Indonesia.
Cụ thể, bài viết đã mô tả bối cảnh và đưa ra định nghĩa hoạt động nhượng quyền, những yêu cầu và thoả thuận nhượng quyền. 14 Qua đó, chỉ ra yếu tố cấu thành nên đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền là các yếu tố thuộc quyền sở hữu trí tuệ. Ngoài ra, bài viết còn sơ lược sự tồn tại và phát triển của hoạt động nhượng quyền cũng như các văn bản điều chỉnh hoạt động thương mại đặc thù này tại Indonesia. Rất nhiều các văn bản qua từng thời kỳ với một số thay đổi nhất định điều chỉnh hoạt động nhượng quyền tại Indonesia được đề cập ở đây.
Thông qua việc phân tích, đánh giá ưu nhược điểm của những văn bản pháp luật này trong tương quan so sánh với pháp luật một số quốc gia khác, bài viết đã đưa ra những khuyến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Indonesia hiện hành về nhượng quyền thương mại và những lưu ý cho các thương nhân khi thực hiện phương thức kinh doanh nhượng quyền. + European Franchise Federation (2016). European code of ethics for franchising. Đây là bộ quy tắc đạo đức của Châu Âu về nhượng quyền thương mại do Liên đoàn Nhượng quyền Châu Âu ban hành.
Bộ Quy tắc này như một cuốn cẩm nang dành cho các quốc gia thành viên Liên minh Châu Âu dựa vào để xây dựng quy tắc hoặc quy định pháp luật về nhượng quyền thương mại của quốc gia mình. Với số lượng các quy tắc không quá đồ sộ, nhưng với cách hành văn khúc triết, ngắn gọn, dễ hiểu, Bộ Quy tắc đã đưa ra định nghĩa về hoạt động nhượng quyền, các thoả thuận dưới dạng những cam kết chung của các bên trong quan hệ nhượng quyền và những cam kết riêng của từng bên trong mối quan hệ tương đối đặc biệt này. Các nguyên tắc được đề cập trong Bộ Quy tắc thực sự là cơ sở mang tính khoa học và thực tiễn để các quốc gia thành viên học tập trong việc xây dựng pháp luật quốc gia mình về hoạt động nhượng quyền. Mặc dù không phải quốc gia thành viên của liên minh Châu Âu, nhưng Việt Nam hoàn toàn có thể tham khảo và học tập những quy định tiến bộ, hiện đại của bộ Quy tắc đạo đức về kinh doanh nhượng quyền đã đề cập ở trên.
+ British Franchise Association Code of Ethical Conduct. Đây là bộ quy tắc ứng xử đạo đức về nhượng quyền của Hiệp hội nhượng quyền Anh. Tương tự như bộ Quy tắc của Liên minh Châu Âu, Bộ Quy tắc của hiệp hội nhượng quyền Anh cũng xây dựng những quy định mang tính nguyên tắc và có tính chất khuyến nghị 15 các thương nhân tham gia hợp đồng nhượng quyền phải tuân thủ. Tuy nhiên, so với Bộ Quy tắc của EU, Bộ Quy tắc ứng xử của Anh có những phần mở rộng thêm như… Điều này cũng là hoàn toàn hợp lý, bởi lẽ Bộ Quy tắc của Châu Âu là cơ sở để các nước thành viên của liên minh xây dựng pháp luật nước mình theo nguyên tắc có thể mở rộng vấn đề hơn bản gốc để phù hợp với tình hình, điều kiện thực tế của các quốc gia thành viên.
Nghiên cứu hoạt động nhượng quyền thương mại dưới góc độ pháp luật cạnh tranh trên thế giới có một số công trình nghiên cứu như sau: + Covenants against competition in franchise agreements, Peter J. Klarfeld, American Bar Association, 2003: Với dung lượng 499 trang, tác giả đã cung cấp cho người đọc một cái nhìn tương đối toàn diện về những điều khoản phản cạnh tranh trong quan hệ nhượng quyền thương mại, đồng thời nhấn mạnh cách thức các thỏa thuận phản cạnh tranh trong hợp đồng nhượng quyền thương mại được giải thích và thi hành trên thực tế.