Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đỗ Thị Thu Hà (Chuyên ngành Pháp luật Kinh tế, Trường Đại học Luật Hà Nội, người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Ngọc Anh, năm 2023) tập trung nghiên cứu đề tài: "Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài".

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, các quan hệ thương mại tại Việt Nam ngày càng đa dạng và phức tạp, dẫn đến nguy cơ phát sinh các tranh chấp kinh tế gia tăng. Việc lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp tối ưu có ý nghĩa quan trọng đối với cộng đồng doanh nghiệp. Phương thức trọng tài thương mại (TTTM) sở hữu nhiều ưu điểm vượt trội như tôn trọng tối đa quyền tự định đoạt của các bên, bảo mật thông tin, thủ tục linh hoạt và phán quyết mang tính chung thẩm. Sau khi Luật Trọng tài thương mại năm 2010 (Luật TTTM 2010) được ban hành, hoạt động trọng tài tại Việt Nam đã từng bước vận hành theo các chuẩn mực mới. Tuy nhiên, sau hơn một thập kỷ thực thi, nhiều quy định pháp lý đã bộc lộ bất cập, không còn bắt kịp sự phát triển của nền kinh tế, dẫn đến tình trạng số lượng vụ việc giải quyết bằng TTTM còn rất khiêm tốn so với Tòa án.

Tác giả đã điểm qua các công trình nghiên cứu tiêu biểu trước đó như: sách chuyên khảo của PGS.TS. Đỗ Văn Đại (Pháp luật trọng tài thương mại Việt Nam - Bản án và Bình luận bản án, 2017); cuốn Sổ tay pháp luật về trọng tài và hòa giải do Tòa án nhân dân tối cao và Tổ chức Tài chính Quốc tế (WB/IFC) phát hành năm 2017; các luận văn thạc sĩ của Lê Thị Dẻo (2010), Trần Thị Thắm (2013); các luận án tiến sĩ của Đào Văn Hội (2003), Nguyễn Đình Thơ (2007). Tác giả nhận định các nghiên cứu trước phần lớn thực hiện trước hoặc ngay sau khi Luật TTTM 2010 ra đời nên chủ yếu thiên về lý luận, chưa đánh giá toàn diện các vướng mắc thực tiễn phát sinh sau thời gian dài áp dụng đạo luật này.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận là làm rõ thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài tại Việt Nam, từ đó đề xuất các kiến nghị hoàn thiện hệ thống quy phạm nhằm nâng cao hiệu quả tố tụng trọng tài.

Để thực hiện mục tiêu trên, khóa luận xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Khái quát một số vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp thương mại bằng TTTM như khái niệm, đặc điểm, nguồn luật điều chỉnh, phân biệt với các phương thức giải quyết tranh chấp khác.
  2. Nghiên cứu thực trạng pháp luật thông qua việc phân tích các quy định hiện hành và đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại bằng TTTM tại Việt Nam.
  3. Đưa ra các định hướng và giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại bằng TTTM.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hệ thống các quy định pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại bằng TTTM tại Việt Nam cùng thực tiễn áp dụng các quy định này.

Phạm vi nghiên cứu được xác định rõ:

  • Phạm vi không gian: Tập trung vào quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện tại Việt Nam, có mở rộng so sánh, tham khảo kinh nghiệm lập pháp của một số quốc gia như Singapore, Vương quốc Anh, Trung Quốc.
  • Phạm vi thời gian: Trọng tâm là Luật TTTM 2010 và các văn bản hướng dẫn hiện hành, đồng thời đối chiếu với các văn bản tiền nhiệm (Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003, Luật Doanh nghiệp 2005) và các luật chuyên ngành liên quan.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng trên nền tảng lý luận về mâu thuẫn xã hội của Triết học Mác - Lênin, coi xung đột lợi ích trong kinh doanh là tất yếu khách quan của nền kinh tế thị trường. Khung pháp lý tham chiếu của công trình bao gồm các chuẩn mực quốc tế và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam:

  • Chuẩn mực quốc tế: Luật Mẫu về Trọng tài thương mại quốc tế của Ủy ban Liên Hợp Quốc về Luật Thương mại quốc tế (UNCITRAL Model Law 1985, sửa đổi 2006); Công ước New York năm 1958 về Công nhận và Cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài (Việt Nam gia nhập ngày 12/9/1995, có hiệu lực từ ngày 11/12/1995).
  • Hệ thống pháp luật quốc gia: Luật Trọng tài thương mại số 54/2010/QH12; Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 (Chương XXXII và XXXIV); Luật Thi hành án dân sự số 26/2008/QH12 (sửa đổi, bổ sung số 64/2014/QH13); Nghị định số 63/2011/NĐ-CP; Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Luật Thương mại 2005; Luật Đầu tư 2020; Bộ luật Hàng hải 2015; Luật Hàng không dân dụng 2006; Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2023; Bộ luật Lao động 2019.

Khóa luận sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu theo từng chương:

  • Phương pháp diễn dịch và diễn giải (Chương 1) nhằm làm rõ hệ thống khái niệm, đặc trưng pháp lý, cơ cấu nguồn luật và nội dung điều chỉnh của pháp luật TTTM.
  • Phương pháp phân tích quy phạm và phương pháp thống kê, tổng hợp dữ liệu thực tiễn (Chương 2) để mổ xẻ các điều khoản luật, đối chiếu văn bản quy phạm với số liệu thụ lý vụ việc thực tế.
  • Phương pháp luật học so sánh và phương pháp tổng hợp (Chương 3) để đối chiếu quy định của Luật TTTM 2010 với Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, so sánh với pháp luật trọng tài của Singapore, Anh, Trung Quốc nhằm đề xuất các định hướng sửa đổi cụ thể.

Nguồn dữ liệu thực tiễn trong khóa luận được trích xuất từ: Báo cáo số 74/BC-BTP (ngày 08/7/2016) của Bộ Tư pháp về sơ kết 4 năm thi hành Luật TTTM 2010; Báo cáo khảo sát Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) năm 2016 và 2017; Báo cáo thống kê hoạt động giải quyết tranh chấp giai đoạn 1993 - 2022 của Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC); Số liệu xét xử của Tòa kinh tế thuộc Tòa án nhân dân TP. Hà Nội và Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh; Thông tin tại các hội nghị, hội thảo chuyên môn năm 2018 và 2023.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Khái quát về giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài thương mại và pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài thương mại

Chương 1 hệ thống hóa các vấn đề lý luận nền tảng về thiết chế trọng tài thương mại. Bản chất của TTTM là phương thức tài phán phi chính phủ; thẩm quyền của Trọng tài viên (TTV) và Hội đồng trọng tài (HĐTT) được xác lập dựa trên "quyền lực hợp đồng" hoặc "quyền lực đại diện" xuất phát từ thỏa thuận tự nguyện của các bên.

Tác giả phân tích các đặc điểm căn bản của TTTM:

  • Chủ thể giải quyết là các Trọng tài viên độc lập, hoạt động thông qua hai mô hình: trọng tài vụ việc (ad-hoc) hoặc trọng tài quy chế/thường trực (các trung tâm trọng tài).
  • Trọng tài chỉ thụ lý vụ việc khi có thỏa thuận trọng tài hợp pháp và vụ việc thuộc thẩm quyền theo luật định.
  • Thủ tục kết hợp chặt chẽ giữa yếu tố thỏa thuận của đương sự và phán quyết có tính chung thẩm của HĐTT (không qua xét xử nhiều cấp).
  • Trọng tài nhận được sự hỗ trợ từ cơ quan tư pháp nhà nước (Tòa án hỗ trợ chỉ định TTV, thu thập chứng cứ, áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, xem xét hủy phán quyết; Cơ quan Thi hành án dân sự cưỡng chế thi hành).

Khóa luận xây dựng bảng đối chiếu nhằm phân biệt TTTM với các phương thức giải quyết tranh chấp khác:

Tiêu chí Thương lượng Hòa giải Trọng tài thương mại (TTTM) Tòa án
Chủ thể giải quyết Chính các bên tranh chấp Các bên và bên thứ ba (Hòa giải viên) Hội đồng trọng tài (1 hoặc nhiều TTV) Hội đồng xét xử (Thẩm phán, Hội thẩm)
Bản chất quyền lực Ý chí tự nguyện Ý chí tự nguyện, trung gian thuyết phục Quyền lực ủy thác theo thỏa thuận (phi nhà nước) Quyền lực tư pháp nhân danh Nhà nước
Điều kiện giải quyết Tùy thuộc mong muốn các bên Cần có thỏa thuận hòa giải Bắt buộc có thỏa thuận trọng tài hợp pháp Yêu cầu của đương sự, theo luật định
Tính công khai Kín Kín Xét xử không công khai (kín) Xét xử công khai (trừ trường hợp luật định)
Cấp độ tài phán Không phân cấp Không phân cấp Phán quyết chung thẩm (xét xử 1 cấp) Hai cấp xét xử (sơ thẩm, phúc thẩm), giám đốc thẩm, tái thẩm
Giá trị ràng buộc Không bắt buộc cưỡng chế Mang tính khuyến nghị (trừ khi Tòa án công nhận) Bắt buộc thi hành ngay, cưỡng chế qua THADS Bản án có hiệu lực bắt buộc cưỡng chế thi hành
Công nhận quốc tế Tùy thuộc các bên Tùy thuộc các bên Thuận lợi theo Công ước New York 1958 Phụ thuộc Hiệp định tương trợ tư pháp song phương

Về mặt nguồn luật, tác giả phân tích sự giao thoa giữa truyền thống Common Law (Anh, Mỹ, Singapore - có luật trọng tài độc lập hoặc phân tách trọng tài nội địa/quốc tế) và Civil Law (Đức, Pháp, Nhật Bản, Trung Quốc). Tại Việt Nam, nguồn luật bao gồm hệ thống văn bản luật (Luật TTTM 2010, BLTTDS 2015, Luật THADS), văn bản dưới luật (Nghị định 63/2011/NĐ-CP, Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP) và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Nội dung điều chỉnh của pháp luật TTTM bao trùm 6 nhóm quy phạm: nguyên tắc tố tụng; thẩm quyền; thỏa thuận trọng tài và TTV; trình tự thủ tục tố tụng; thi hành và hủy phán quyết; sự hỗ trợ của cơ quan tư pháp.

Chương 2: Thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài thương mại

Chương 2 phân tích chuyên sâu hai khía cạnh: hệ thống quy định pháp luật hiện hành và số liệu thực tiễn thi hành.

Về mặt quy phạm, khóa luận phân tích 5 nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài:

  1. Tôn trọng thỏa thuận của các bên (nếu không vi phạm điều cấm và trái đạo đức xã hội);
  2. TTV phải độc lập, khách quan, vô tư và tuân theo pháp luật;
  3. Bình đẳng về quyền và nghĩa vụ giữa các bên;
  4. Giải quyết tranh chấp không công khai;
  5. Phán quyết trọng tài có tính chung thẩm.

Về thẩm quyền (Điều 2 Luật TTTM 2010), pháp luật thừa nhận 3 nhóm: tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại; tranh chấp có ít nhất một bên có hoạt động thương mại; tranh chấp khác do luật chuyên ngành quy định. Tác giả chỉ ra 6 trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu theo Điều 18 và các tiêu chuẩn của TTV theo Điều 20. Trình tự tố tụng được mổ xẻ qua quy trình 5 bước: Nộp và thụ lý đơn khởi kiện $\rightarrow$ Thông báo đơn kiện, gửi bản tự bảo vệ và đơn kiện lại $\rightarrow$ Thành lập HĐTT (1 hoặc 3 TTV) $\rightarrow$ Công tác chuẩn bị xét xử (xác minh, thu thập chứng cứ, triệu tập người làm chứng, áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời) $\rightarrow$ Phiên họp giải quyết tranh chấp và ban hành phán quyết trọng tài. Về hủy phán quyết, Điều 68 quy định 5 căn cứ hủy, thẩm quyền thuộc về Tòa án nơi HĐTT tuyên phán quyết.

Về thực tiễn thi hành, tác giả tổng hợp diễn biến hoạt động của TTTM Việt Nam qua các mốc thời gian:

Giai đoạn Thể chế & Cơ sở pháp lý Số liệu vụ việc & Hoạt động thực tế
Trước năm 2003 - Nghị định 20/TTg (1960): Trọng tài Kinh tế Nhà nước (giải thể 1994).
- HĐTT Ngoại thương (1963) & HĐTT Hàng hải (1964).
- Quyết định 204/1993/TTg: Thành lập VIAC.
- Nghị định 116/CP (1994): Thành lập thêm 5 trung tâm.
- Giai đoạn 1993 - 1997: VIAC thụ lý 86 vụ, giải quyết 60 vụ.
- Hoạt động trọng tài chưa phổ biến, các trung tâm địa phương hầu như không thụ lý được vụ việc nào.
2003 - 2010 - Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003.
- Việt Nam gia nhập WTO (2007).
- VIAC thụ lý 289 vụ (trung bình 36,1 vụ/năm, tăng 200% so với trước 2003).
- Tranh chấp có yếu tố nước ngoài chiếm 69,5% (năm 2006 có đương sự từ 14 quốc gia).
- Năm 2007: VIAC nhận 28 vụ (trong khi TAND TP. Hà Nội xử ~300 vụ, TAND TP.HCM xử ~1.000 vụ kinh tế).
- Năm 2009: VIAC tiếp nhận 40 vụ (2 vụ >10 triệu USD); cùng thời điểm SIAC xử 160 vụ, HKIAC xử 649 vụ, BIAC thụ lý 1.830 vụ.
2010 - 2022 - Luật Trọng tài thương mại 2010.
- Nghị định 63/2011/NĐ-CP.
- Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP.
- Cả nước có hơn 44 trung tâm trọng tài nội địa, 01 văn phòng đại diện KCAB (Hàn Quốc), khoảng 700 TTV (187 TTV thuộc VIAC).
- Báo cáo 74/BC-BTP: 2011 - 2015 ban hành 1.831 phán quyết; riêng năm 2015 giải quyết 1.255 vụ (tăng 389 vụ so với 2014).
- Năm 2017: Toàn quốc có ~100.000 vụ tranh chấp kinh doanh tại Tòa án; số vụ tại trọng tài chỉ chiếm dưới 1%.
- Giai đoạn 2010 - 2022 tại VIAC: Giải quyết tổng cộng 2.041 vụ (trung bình 170 vụ/năm), năm 2022 đạt 292 vụ.

Khóa luận cung cấp cơ cấu lĩnh vực tranh chấp tại VIAC năm 2022: Mua bán hàng hóa chiếm trên 40%; Xây dựng 18,1%; Bảo hiểm 8,3%; Hợp tác kinh doanh 4,2%; Tài chính 3,1%; Mua bán & Sáp nhập (M&A) 3,1%; Bất động sản 2,2%; Logistics 2,2%. Tranh chấp có ít nhất một bên là doanh nghiệp FDI tăng từ 7 vụ (năm 2012) lên 116 vụ (năm 2022). Về địa lý, đương sự đến từ 61/64 tỉnh thành (chủ yếu là Hà Nội và TP.HCM) và 65 quốc gia/vùng lãnh thổ (Châu Á chiếm 68,9%, Châu Âu 17,4%).

Đánh giá thực trạng, tác giả chỉ rõ các kết quả tích cực: nhận thức doanh nghiệp cải thiện (Báo cáo PCI 2016, 2017); khung pháp lý hoàn thiện hơn; đội ngũ TTV phát triển và áp dụng phiên họp trực tuyến. Ngược lại, những khó khăn cốt lõi bao gồm:

  • Tâm lý ưu tiên Tòa án của doanh nghiệp còn nặng nề (vụ việc trọng tài chiếm chưa tới 1% lượng án kinh tế);
  • Bất cập cơ chế pháp lý: Mâu thuẫn giữa Khoản 2 Điều 21 (TTV có quyền từ chối cung cấp thông tin) và Khoản 3 Điều 21 (TTV phải cung cấp thông tin khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu); vướng mắc về thẩm quyền tại Khoản 2 Điều 2;
  • Hoạt động không đồng đều giữa các tổ chức (chỉ VIAC phát triển mạnh, hơn 40 trung tâm khác hoạt động cầm chừng);
  • Tình trạng Tòa án hủy phán quyết trọng tài có chiều hướng tăng cao: Giai đoạn 2003 - 2011 có 9/26 vụ bị hủy (chiếm 34,6%); giai đoạn 2011 - 2014 có 10/20 vụ bị hủy (chiếm 50%). Riêng tại Tòa kinh tế TAND TP. Hà Nội, số vụ thụ lý yêu cầu hủy phán quyết tăng dần: năm 2015 là 7 vụ, năm 2016 là 11 vụ, năm 2017 là 14 vụ, 6 tháng đầu năm 2018 là 5 vụ;
  • Áp lực cạnh tranh từ các tổ chức trọng tài quốc tế như SIAC, HKIAC do đối tác nước ngoài còn e ngại mức độ phát triển của trọng tài Việt Nam.

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài thương mại

Chương 3 xác định 5 yêu cầu định hướng hoàn thiện pháp luật:

  1. Bám sát đường lối đổi mới kinh tế của Đảng và giảm tải áp lực xét xử cho Tòa án;
  2. Phục vụ thực hiện các cam kết quốc tế (đặc biệt là Công ước New York 1958);
  3. Bảo đảm tính hợp hiến, thống nhất và đồng bộ với hệ thống pháp luật (Bộ luật Dân sự, BLTTDS);
  4. Tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế;
  5. Phù hợp với văn hóa kinh doanh và thực tiễn thương mại Việt Nam.

Tác giả đề xuất các nhóm giải pháp lập pháp cụ thể:

  • Về nguyên tắc tố tụng:
    • Chỉnh lý cụm từ "vi phạm điều cấm" thành "vi phạm điều cấm của luật và trái đạo đức xã hội" tại nguyên tắc tôn trọng thỏa thuận nhằm thống nhất với Bộ luật Dân sự 2015.
    • Pháp điển hóa các tiêu chí cụ thể để nhận diện hành vi vi phạm tính "độc lập, khách quan, vô tư" của TTV (như cấm gặp gỡ riêng, nhận quà tặng hoặc lợi ích vật chất từ một bên đương sự).
    • Bãi bỏ quy định tại Khoản 3 Điều 21 hoặc chỉnh lý nhằm xóa bỏ sự xung đột nội tại với Khoản 2 Điều 21 về nghĩa vụ giữ bí mật và quyền từ chối cung cấp thông tin của TTV.
  • Về thẩm quyền của trọng tài:
    • Hướng dẫn cụ thể Khoản 2 Điều 2 Luật TTTM 2010 ("tranh chấp phát sinh trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại") nhằm loại trừ nguy cơ xung đột thẩm quyền với tranh chấp lao động theo Điều 187 Bộ luật Lao động.
    • Chuyển đổi phương thức xác định thẩm quyền từ "phương pháp liệt kê" sang "phương pháp loại trừ" (tham khảo Luật Trọng tài Singapore): mọi tranh chấp thương mại đều thuộc thẩm quyền trọng tài nếu các bên có thỏa thuận, trừ các lĩnh vực xâm phạm trật tự công, lợi ích công cộng, quyền nhân thân, hôn nhân gia đình, phá sản...
    • Bổ sung quy định mở rộng thẩm quyền mặc nhiên: trường hợp hợp đồng ban đầu không có thỏa thuận trọng tài, nhưng một bên nộp đơn khởi kiện đến trung tâm trọng tài và bên kia không phản đối thẩm quyền trong một thời hạn ấn định thì được coi là đã chấp thuận thẩm quyền của trọng tài.
  • Về thỏa thuận trọng tài, thủ tục tố tụng, thi hành và hủy phán quyết: Tiếp tục chuẩn hóa cơ chế áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của HĐTT, giới hạn chặt chẽ căn cứ hủy phán quyết của Tòa án để tránh việc xem xét lại nội dung tranh chấp, đồng thời tăng cường cơ chế hỗ trợ tư pháp từ Tòa án và Cơ quan THADS.

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả chính kèm số liệu thực chứng: Khóa luận đã hệ thống hóa bức tranh toàn cảnh về hoạt động trọng tài tại Việt Nam qua các mốc số liệu: sự gia tăng thụ lý tại VIAC từ 86 vụ (1993 - 1997) lên 289 vụ (2003 - 2010) và 2.041 vụ (2010 - 2022, đỉnh điểm đạt 292 vụ vào năm 2022); cơ cấu tranh chấp dẫn đầu bởi mua bán hàng hóa (>40%) và xây dựng (18,1%); số lượng hơn 44 trung tâm trọng tài và khoảng 700 TTV toàn quốc. Đề tài chỉ ra thực trạng TTTM chỉ xử lý dưới 1% tổng số tranh chấp kinh doanh so với Tòa án (năm 2017 Tòa án xử lý khoảng 100.000 vụ kinh tế), tỷ lệ hủy phán quyết tăng từ 34,6% (2003 - 2011) lên 50% (2011 - 2014), cùng các dẫn chứng cụ thể từ TAND TP. Hà Nội (thụ lý 14 vụ hủy phán quyết năm 2017).
  • Kiến nghị lập pháp: Khóa luận đề xuất sửa đổi các quy định cụ thể của Luật TTTM 2010, bao gồm việc sửa đổi quy định tại Điều 21 để bảo đảm tính bí mật, áp dụng phương pháp loại trừ thẩm quyền theo mô hình Singapore, công nhận thẩm quyền trọng tài mặc nhiên khi bên bị kiện không phản đối, và chuẩn hóa khái niệm vi phạm điều cấm theo Bộ luật Dân sự 2015.
  • Đóng góp học thuật: Khóa luận cập nhật chuỗi số liệu thực tiễn 12 năm thi hành Luật TTTM 2010 (đến năm 2022/2023), kết nối việc mổ xẻ quy phạm với thực trạng xét xử của Tòa án và hoạt động của các trung tâm trọng tài, mang lại cái nhìn toàn diện hơn so với các công trình nghiên cứu ở giai đoạn 2010 - 2014.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài: Nguồn dữ liệu thực tiễn tập trung chủ yếu vào hoạt động của VIAC và thực tiễn xét xử tại các thành phố lớn (Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh), chưa khảo sát chi tiết hoạt động của hơn 40 trung tâm trọng tài quy mô nhỏ tại các địa phương khác. Phạm vi so sánh quốc tế chủ yếu giới hạn ở Singapore, Anh và Trung Quốc.
  • Hướng nghiên cứu mở rộng: Nghiên cứu hoàn thiện quy chế pháp lý cho trọng tài trực tuyến (Online Dispute Resolution - ODR); khảo sát chuyên sâu tiêu chí "trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam" trong thực tiễn Tòa án hủy phán quyết trọng tài; hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa HĐTT và Tòa án trong việc thu thập chứng cứ và áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo: Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Thương mại quốc tế; các luật sư tư vấn doanh nghiệp, trọng tài viên, thẩm phán chuyên trách giải quyết các vụ việc kinh doanh thương mại.
  • Nội dung giá trị:
    • Hệ thống bảng biểu đối chiếu giữa TTTM và các phương thức giải quyết tranh chấp khác (Thương lượng, Hòa giải, Tòa án) tại Chương 1.
    • Chuỗi dữ liệu thống kê chi tiết về cơ cấu tranh chấp, tỷ lệ hủy phán quyết và thực trạng hoạt động của VIAC giai đoạn 1993 - 2022 tại Chương 2.
    • Các đề xuất sửa đổi cụ thể về kỹ thuật lập pháp đối với Điều 2, Điều 21 Luật TTTM 2010 và phương pháp loại trừ thẩm quyền theo kinh nghiệm Singapore tại Chương 3.

Câu hỏi thường gặp

1. Luật Trọng tài thương mại 2010 quy định bao nhiêu trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu và các căn cứ Tòa án hủy phán quyết trọng tài? Theo văn bản khóa luận, Điều 18 Luật TTTM 2010 quy định 6 trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu. Về việc hủy phán quyết, Điều 68 Luật TTTM 2010 quy định 5 căn cứ để Tòa án xem xét hủy phán quyết trọng tài (không có thỏa thuận/thỏa thuận vô hiệu; thành phần HĐTT hoặc thủ tục trái luật; vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền; chứng cứ giả mạo hoặc TTV không vô tư; phán quyết trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam).

2. Số lượng vụ tranh chấp được giải quyết tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) thay đổi như thế nào qua các giai đoạn từ 1993 đến 2022? Theo số liệu trong khóa luận:

  • Giai đoạn 1993 - 1997: VIAC thụ lý 86 vụ, giải quyết 60 vụ.
  • Giai đoạn 2003 - 2010: VIAC thụ lý 289 vụ, trung bình đạt 36,1 vụ/năm (tăng 200% so với trước 2003).
  • Giai đoạn 2010 - 2022: VIAC giải quyết tổng cộng 2.041 vụ, trung bình khoảng 170 vụ/năm (gấp 9 lần giai đoạn trước 2003 và gấp 4,7 lần giai đoạn 2003 - 2010), đạt mức cao nhất vào năm 2022 với 292 vụ.

3. Tác giả đề xuất tiếp thu kinh nghiệm của Singapore trong việc xác định thẩm quyền của trọng tài thương mại như thế nào? Tác giả đề xuất chuyển từ phương pháp liệt kê các loại tranh chấp thuộc thẩm quyền (như Điều 2 Luật TTTM 2010 hiện nay) sang phương pháp loại trừ theo Luật Trọng tài Singapore. Theo đó, mọi tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại đều thuộc thẩm quyền trọng tài nếu các bên có thỏa thuận, ngoại trừ các trường hợp tranh chấp bị loại trừ do xâm phạm trật tự công, lợi ích công cộng, quyền nhân thân, hôn nhân gia đình, phá sản hoặc sở hữu trí tuệ thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước.

4. Điểm mâu thuẫn nội tại trong Điều 21 Luật Trọng tài thương mại 2010 được tác giả chỉ ra là gì? Khóa luận chỉ ra sự xung đột giữa Khoản 2 Điều 21 (quy định TTV có quyền từ chối cung cấp thông tin liên quan đến vụ tranh chấp nhằm bảo đảm nguyên tắc xét xử kín) và Khoản 3 Điều 21 (quy định TTV có quyền giữ bí mật trừ trường hợp phải cung cấp cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo luật định). Quy định này dẫn đến việc TTV vẫn bị buộc phải cung cấp thông tin khi có yêu cầu, làm suy giảm tính bí mật của trọng tài.

5. Thực trạng Tòa án hủy phán quyết trọng tài tại Việt Nam được tác giả chứng minh bằng những số liệu nào? Văn bản dẫn chứng số liệu: Giai đoạn 2003 - 2011 có 9/26 vụ yêu cầu hủy bị Tòa án chấp nhận hủy (tỷ lệ 34,6%); giai đoạn 2011 - 2014 tỷ lệ này tăng lên 50% (10/20 vụ yêu cầu hủy bị Tòa án chấp nhận). Tại TAND TP. Hà Nội, số vụ thụ lý yêu cầu hủy phán quyết tăng từ 7 vụ (năm 2015) lên 11 vụ (năm 2016), 14 vụ (năm 2017) và 6 tháng đầu năm 2018 thụ lý 5 vụ.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đỗ Thị Thu Hà đã phân tích toàn diện cơ sở lý luận, hệ thống quy định pháp luật và thực tiễn 12 năm thi hành Luật Trọng tài thương mại 2010 tại Việt Nam. Thông qua việc xử lý chuỗi số liệu thực chứng từ VIAC, Tòa án nhân dân và Báo cáo của Bộ Tư pháp, công trình đã làm rõ những chuyển biến tích cực cùng những bất cập căn bản trong cơ chế tài phán trọng tài hiện hành. Các giải pháp hoàn thiện được đề xuất có giá trị tham khảo rõ ràng, bám sát yêu cầu cải cách tư pháp và tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.