chứng từ kèm theo và ngân hàng không có trách nhiệm kiểm tra việc thực hiện các điều kiện đó).1 - Các tranh chấp liên quan tới trách nhiệm của các bên tham gia vào phương thức tín dụng chứng từ (L/C): tranh chấp do người mua vi phạm nghĩa vụ liên quan tới L/C (không mở L/C, mo L/C chậm.); tranh chấp do người bán vi phạm nghĩa vụ liên quan tới L/C (bộ chứng từ người bán xuất trình không phù hợp với L/C, người bán không thể lập được bộ chứng từ thanh toán phù hợp do đã chấp nhận một L/C có các điều khoản mà người mua đã khống chế.); tranh chấp do các ngân hàng vi phạm nghĩa vụ liên quan tới L/C (ngân hàng phát hành L/C không mở L/C đúng như yêu cầu trong đơn xin mở L/C, ngân hàng đã thông báo một L/C thiếu tính chân thật bề ngoài. Khái quát về giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại quốc tế tại tòa án quốc gia Giải quyết tranh chấp tại tòa án quốc gia là phương thức giải quyết tranh chấp mang tính truyền thống, bên cạnh các phương thức giải quyết tranh chấp khác như thương lượng, hòa giải và trọng tài. Là phương thức giải quyết tranh chấp mang tính chất quyên lực nhà nước, giải quyết tranh chấp bằng Tòa án có vai trò quan trọng và thường được coi là giải pháp cuối cùng dé giải quyết dứt điểm tranh chấp khi các phương thức khác không có hiệu quả. Thủ tục tố tụng trong quá trình tòa án giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế nói chung, hợp đồng thương mại quốc tế nói riêng, được quy định rất chặt chẽ trong pháp luật các quốc gia.
Thông thường, thủ tục tố tụng này chính là thủ tục tố tụng dân sự (được quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự - các nước theo cách thức này là Anh, Đức, Hoa Kỳ, Việt Nam.) hoặc có thể còn gồm ! Xem thêm PGS. Nguyễn Thị Quy, Thanh toán quốc tế bằng L/C - Các tranh chap thường phat sinh và cách giải quyết, Nxb. Chính trị quôc gia, Hà Nội, 2003, tr. 213 các quy định riêng biệt do đặc thù của tranh chấp thương mại (về thời hiệu khởi kiện, thoi hạn tố tụng, cơ cau hội đồng xét xử.
Một số nước (ví dụ Pháp) có quy định riêng về Luật Tổ chức và hoạt động của Tòa án thương mại. Tòa án quốc gia khi thụ lí vụ việc tranh chấp, sẽ trên cơ sở hệ thuộc Luật toa án (Lex fori) ap dụng chính pháp luật tố tụng của nước mình cho việc giải quyết tranh chấp đó. Trong quá trình giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại quốc tế tại tòa án quốc gia, các hoạt động đặc thù, so với giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại trong nước, bao gồm: (i) Xác định thâm quyền xét xử (giải quyết xung đột thâm quyền xét xử); (ii) Xác định luật áp dụng (giải quyết xung đột pháp luật); (iii) Công nhận và thi hành bản án của tòa án nước ngoài. THAM QUYEN GIẢI QUYET TRANH CHAP HỢP DONG THUONG MAI QUOC TE TAI TOA AN QUOC GIA Tranh chấp hợp đồng thương mai quốc tế liên quan đến pháp luật các quốc gia khác nhau nên việc xác định thẩm quyền của tòa án đối với tranh chấp (tòa án nước nào có thẩm quyền xét xử tranh chấp đó) là một van đề khá phức tạp.
Một tranh chấp về hợp đồng thương mại quốc tế có thé thuộc thâm quyền xét xử của toa án nhiều quốc gia khác nhau - xung đột về thâm quyền xét xử (Conflict of Jurisdiction). Việc xác định thâm quyền xét xử của tòa án một quốc gia nào đó - giải quyết xung đột về thầm quyền xét xử - phụ thuộc vào quy định của điều ước quốc tế mà quốc gia đó là thành viên và pháp luật tố tụng dân sự - thương mại của quốc gia đó. Nhìn chung, theo quy định của các điều ước quốc tế và pháp luật các nước thì cơ sở để xác định thâm quyền xét xử đối với các tranh chấp về hợp đồng thương mại quốc tế bao gồm thỏa thuận lựa chọn của các bên tranh chấp và các tiêu chí cụ thé khác. Tham quyền xét xử theo thỏa thuận lựa chọn của các bên tranh chấp Khởi nguồn từ nguyên tắc tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự, pháp luật các nước trên thế giới cũng như các điều ước quốc tế đều mở ra cơ hội cho các bên chủ thể thỏa thuận chọn cơ quan có thâm quyên giải quyết tranh chấp, trong đó có tòa án.! Thực tiễn cho thấy, không ít điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia cho phép chủ thé hợp đồng lựa chọn tòa án của một nước nào đó (có thé là toà án nước ngoài) dé giải quyết tranh chấp.
Trong các hợp đồng thương mại quốc tế, ngoài những nội dung cơ bản được dé cập trong hợp đồng nói chung (vi dụ: đối tượng, chất lượng, số lượng, giá cả, phương thức thanh toán.) thường có điều khoản về giải quyết tranh chấp (dispute settlement/jurisdiction), trong đó nhiều trường hợp có thỏa thuận tham quyền giải quyết tranh chấp, bao gồm tòa án. Tuy vậy, thỏa thuận này mới chỉ là sự thống nhất giữa các chủ thể mà chưa có giá trị đương nhiên xác lập thâm quyền cho tòa án được chọn, bởi nó còn phụ thuộc vào quy định của Tư pháp quốc tế nước có tòa án được chọn. Thỏa thuận lựa chọn tòa án xét xử chỉ có giá trị nêu thỏa thuận đó phù hợp với quy định của điều ước quốc tế, pháp luật quốc gia có liên quan. Cho đến nay, đã có những điều ước quốc tế quy định về việc các bên tham gia hợp đồng thương mại quốc tế thỏa thuận lựa chọn một cơ quan giải quyết tranh chấp cụ thể (trong đó có tòa án) như: Công ước La Hay ngày 25/11/1965 về lựa chọn toa án (Convention on the Choice of Court, dưới đây gọi tat là Công ước La Hay 1965), Công ước La Hay ngày 30/6/2005 về thỏa thuận lựa chon toa án (Convention on Choice of Court Agreements, dưới đây gọi tắt là Công ước La Hay 2005) được ban hành trong khuôn khổ Hội nghị 1 Xem thêm Banh Quốc Tuấn, “Quyền thỏa thuận lựa chọn tòa án giải quyết tranh chấp dân sự có yêu tố nước ngoài”, Tạp chí Khoa học - Đại học quốc gia Hà Nội, Luật học, số 28 (2012), tr.
215 La Hay về Tư pháp quốc tế (Hague Conference on Private International Law); Công ước Brussels ngày 27/12/1968 về thâm quyền xét xử của Tòa án và việc thực thi phán quyết của tòa án về các vấn đề dân sự và thương mai (Convention on Jurisdiction and the Enforcement of Judgments in Civil and Commercial Matters, dưới đây gọi tat là Công ước Brussels 1968). Nhìn chung, theo các điều ước quốc tế có quy định về thẩm quyền xét xử theo thỏa thuận lựa chọn của các bên tranh chấp thì các bên tranh chấp có thé thỏa thuận lựa chọn một hoặc một số tòa án có thâm quyên giải quyết tranh chấp hợp đồng giữa các bên và chỉ tòa án được lựa chọn có quyền giải quyết tranh chấp. Khi các bên tranh chấp đã thỏa thuận lựa chọn tòa án nhất định có thẩm quyên giải quyết tranh chấp thì các tòa án không được các bên thỏa thuận lựa chon sẽ không có thẩm quyền giải quyết đối với vụ tranh chấp. Thỏa thuận lựa chọn tòa án giải quyết tranh chấp phải được lập thành văn bản hoặc hình thức khác sao cho các thông tin có thể tiếp cận và sử dụng được cho việc xem xét sau này.
Hộp 2: Điều 5 Công ước La Hay 2005 quy định: Tòa án được chọn bởi thỏa thuận lựa chọn tòa án của các bên có thẩm quyền tuyệt đối giải quyết vụ việc, trừ phi thỏa thuận lựa chọn đó là vô hiệu chiếu theo pháp luật nước có tòa án đó. Điều 17 Công ước Brussels 1968 quy định: Nếu các bên đã đồng ý lựa chọn tòa án của một nước thành viên Công ước đê giải quyết tranh chấp thì tòa án đó có thâm quyền xét xử riêng biệt đối với vụ tranh chấp đó. Khi các bên đã thỏa thuận lựa chọn tòa án của một quốc gia kí kết giải quyết. tranh chấp thì tòa án của các quốc gia kí kết khác sẽ không có thâm quyền giải quyết, trừ khi một/các tòa án đã được lựa chọn đã từ chối giải quyết.
Thỏa thuận lựa chọn tòa án phải được thé hiện bằng một trong các hình thức sau: (i) văn bản hoặc chứng thực bang văn ban; (ii) ở hình thức theo thông lệ vốn có giữa các bên; (iii) ở hình thức phù hợp với 216 tập quán mà các bên đã biết hoặc buộc phải biét hoặc ở hình thức được biết đến rộng rãi trong lĩnh vực thương mại quốc tế đó và thường được tuân thủ bởi các bên tham gia cùng loại hợp đồng trong lĩnh vực thương mại quốc tế đó. Quyền thỏa thuận lựa chọn tòa án giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế cũng được pháp luật nhiều nước quy định trong đạo luật riêng về Tư pháp quốc tế hoặc trong pháp luật tố tụng dân sự của quốc gia. Theo pháp luật các nước này, các bên tranh chấp có thé thỏa thuận chọn một tòa án nào đó giải quyết cho tranh chấp đã phát sinh hoặc sẽ phát sinh từ hợp đồng thương mại quốc tế giữa họ. Thỏa thuận lựa chọn tòa án có thể lập thành văn bản hoặc hình thức khác có giá trị pháp lí tương đương.
Hộp 3: Khoản 1 Điều 5 (Choice of Court) Bộ luật Tư pháp quốc tế của Thụy Sĩ ngày 18/12/1987 (Switzerland’s Federal Code on Private International Law) quy định: “Các bên tham gia tranh chấp có thé thỏa thuận lựa chọn một tòa án giải quyết cho tranh chấp đã phát sinh hoặc sẽ phát sinh từ một quan hệ pháp lí cụ thể. Thỏa thuận lựa chọn phải duoc lập thành văn bản, bằng telegram, telex, telecopy hoặc hình thức khác tương đương. Trừ khi có quy định khác, Tòa án được lựa chọn có độc quyên giải quyết vụ tranh chấp”. Điều 7 (“Exclusion of International Jurisdiction by Agreement’) Đạo luật Tư pháp quốc tế của Bi ngày 16/7/2004 (Law of 16 July 2004 holding the Code of Private International Law) quy định: “Đối với những vấn dé mà các bên có quyên tự định đoạt theo pháp luật Bi, khi các bên thỏa thuận hợp pháp chọn Tòa án nước ngoài để giải quyết tranh chấp đã phát sinh hoặc sẽ phát sinh liên quan đến một quan hệ pháp lí, nếu vụ việc dang được xem xét tại Tòa án Bi thì Toa án Bi phải đình chi vụ việc trừ trường hợp thấy rằng bản án của Tòa án nước ngoài không thể được công nhận và thi hành ở Bỉ hoặc trừ trưởng hợp van thuộc thẩm quyền của Tòa án Bi chiếu theo Điều 11.