Chương I: Yêu câu va giãi pháp hoàn thiện nâng cao hiệu quả pháp ut về thẩm quyên của Toa án trong giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại. NỘI DUNG CHƯƠNG LNHUNG VAN BE CHUNG VE THAM QUYEN CUATOA AN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHAP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI 111. Tranh chấp kinh doanh, thương mại và thẩmquyền giải quyết tranh chấp kinh đoanh, thương mại 1. Khái niệm về Thâm quyên của Toà án trong giải quyết tranh chấp kinh doanh, tucong mai Tir Hiển pháp năm 1992, Khái niệm Thẩm quyển của Toà án đã duoc nhắc tới, bên cạnh đó Khái niệm Thẩm quyên của Toà án cũng đã được quy định trong Bộ luật Té tụng Hình sự, Bộ luật Tổ tung Dân sự, Luật Tổ tung Hanh chính, Luật Tổ chức Toa án nhân dân và một số văn ban quy pham pháp luật khác.
Tir các quy định trong các văn ban pháp quy nêu trên, ta có thé đưa ra nhận xétnhu sau: “ Thẩm quyền của Toà án là phạm vi quyền hạn của Toà Gea trong việc tìuực hiện Pháp luật với công việc chỉnh là xét xử các loi vu ám theo quy dinh của pháp luật Mất khác, Thẩm quyên của Toa án cũng co thể hiểu 1a su phân chia xanh giới, phén định quyên han của Toa án đổi với các cơ quan khác của hệ thống chính quyền 1. Khái niệm tranh chấp kảnh doanh, thương mại Theo cuốn từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học (NXB Giáo duc, 2018) thi "Tranh chap” nghĩa lã "Đầu tranh giảng co khi có ý kiến bất đồng, thường là trong van để quyên lợi giữa hai bên” Xét về khái niệm tranh chấp kinh doanh, thương mại, chúng ta có thé đất ra câu hoi tại sao không tách riêng thành từng khái niệm tranh chấp kinh doanh va tranh chấp thương mại riêng biệt ma lại phải đặt cạnh nhau thành tranh chap kinh doanh thương mại. Để trả lời câu hỗi trên, ta co thể nhận xét như sau Kế từ sau cải cách đổi mới năm 1986, đến năm 1997, khai niệm tranh. chap thương mại mới được quy định tại Luật Thương mại:” Tranh chấp Thương mại là tranh chấp phát sinh do việc không thực hiện hoặc thực hiện không ding hop đồng trong hoạt đông thương mại”, quy định trên tại thời điểm hiện nay đã lược bỏ nhiều tranh chấp không được coi 1a tranh chấp thương mại Qua thực tiến, Pháp lệnh trọng tai Thương mại ra đời ngày 25/2/2003 cỏ đưa ra khái niêm "Hoạt đông thương mai” là "việc thực hiện một hay nhiều hàmh vi thương mat của cá nhân, tổ chức kinh doanh bao gỗm ma bắn hàng hoá, cung ng dich vu: phân phdt; đại diện, đại I thương mai, 3ÿ gửi; thuê, cho thud; thuê rma: xdy cheng: tư vẫn; Xỹ thuật; Ì - xăng: đẫm the tài chính, ngân hằng; bảo hiễm; thăm đồ, Rat thác; vận chuyễn hàng hoá, “hành khách bằng đường hàng không đường bién, đường sắt.
đường bộ và các ảnh vi thương mại Khác theo quy @inh cũa pháp luật” mặc di Pháp lệnh không dé cập đến khái niệm tranh chấp thương mại nhưng quy định trên cũng có thé coi là mỡ rông hơn khái niệm vẻ "tranh chấp thương mai” phủ hop với tình bình thương mại Việt Nam từ thời điểm đó cũng như phù hợp với Luật pháp Quốc tế. Tại Luật Thương mại 2005 định ngiấa ring "Hoạt động thương mai la hoạt động nhắm mục đích sinh loi, bao gồm mua bản hang hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiễn thương mai và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác (khoăn 1 Biéu 3). Theo Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định "Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một sổ hoặc tat cả các công đoạn của qua trình, đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thu sản phẩm hoặc cung ứng dich vụ trên thi trường nhằm mục đích sinh lợi"( Khoăn 16 Điều 4) Tir những quy định và định nghĩa đã nêu ra, ta có thể thấy hoạt đông kinh doanh vả hoạt động thương mại có nhiễu điểm tương đồng vẻ đầu tự mục đích sản sinh lợi nhuận, đâu tư cung ứng dich vụ hay tiêu thụ sản phẩm, v. do vậy hoạt động kinh doanh va thương mại không thé tách rời mà.
Tuôn phải song bảnh cùng nhau, cụ thể tại các văn ban pháp quy hiện tại như Bộ luật Tô tụng dân sự 2015 quy đính chung la hoạt động Kinh doanh thương mai (KDTM). Bộ luật Té tung dân sự 2015 đã có những thay đổi tiền bộ khi không liệt kê từng tranh chấp vẻ KDTM, mà xac định tranh chấp phát sinh trong hoạt động KDTM giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau đều có muc dich lợi nhuận Tranh chấp vé quyền sỡ hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau vả đều vi mục đích lợi nhuận. Tranh chấp giữa người chưa phải 1a thành viên công ty nhưng có giao dich vẻ ch nhương phan vốn góp với công ty, thành viên công ty. Quy định nay có thể coi là tién bộ so với quy định tại BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung 2011 khi chỉ liệt kê từng tranh chấp vẻ Kinh doanh thương mại.
Theo BLTTDS 2015 xác định các tranh chấp cụ thể như. Tranh chap giữa công ty với thánh. viên của công ty, tranh chấp giữa công ty với người quản ly trong công ty {rach nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội đẳng quản ti, Giám đốc, Tổng Giám đốc trong công ty cổ phan, giữa các thành viên của công ty với nhau. liên quan đến việc thành lập, hoạt đông, giãi thé, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bản giao tai sản của công ty, chuyển đổi hình thức sở hữu của công ty.
Các tranh chấp khác vẻ lánh doanh thương mai, trừ trường hợp thuộc thẩm quyển giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật hiện hành. Từ các nhận xét trên sẽ đưa ra được khái niệm tranh chấp KDTM la những mâu thuẫn, bat đồng giữa các chủ thể phat sinh trong hoạt động thực. 10 hiện liên tục một hay một số hoặc toản bộ quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sẵn phẩm, cung ứng các dich vụ trên thị trường, xúc tiền thương mai và các hoạt đồng sinh lợi khác. Tuy nhiền còn có một cách nhìn khác vẻ tranh chấp kinh doanh thương, mại sảy ra khi một bên trong quan hệ kinh doanh thương mại đưa ra khẳng định mình bị sâm phạm quyển lợi nhưng bị bên còn lại chồng lại.
Khita định nghĩa tranh chấp KDTM là những mâu thuẫn, bất đẳng vẻ quyén loi giữa các chủ thể phát sinh trong hoạt đông KDTM thi ta cũng thay những hạn chế rằng, mic dit nêu được bản chất của tranh chấp KDTM lả mâu thuẫn vẻ quyển lợi phat sinh khi tham gia hoạt động KDTM nhưng lại không cho thay được biểu hiện rõ rang Biểu hiện của tranh chấp KDTM là quan trọng bối trong mối quan hệ kinh doanh, các bên sẽ có hai hinh thái là hợp tắc, còn nếu hợp tác không thanh công có thé là xung đột về lợi ich, muốn xác định khi nao xưng, đột lợi ích chuyển sang tranh chap thi cân căn cứ vào biểu hiện, biểu hiện la khi một trong các bên thấy ring quyền vả lợi ích của mình bị âm phạm ma không tim được cach giải quyết giữa các bên 1. Đặc điểm của tranh chấp kinh doanh, thieong mại Các tranh chấp kinh doanh, thương mai tại thời điểm hiện tại đã phát sinh đa dạng và mức đô phức tạp của từng tranh chấp cũng khác nhau. Bên canh những tranh chấp đã khá quen thuộc tại các Toa ân từ cấp quận, huyện đến cấp tinh, thành phó như. Tranh chấp hop đồng tin dụng, Tranh chấp hợp đồng kinh tế thì những tranh chấp mới xuất hiện như: tranh chấp hợp đông vân chuyển, tranh chấp trong hoạt động quảng cáo, bảo hiểm, tranh chap giữa thảnh viên công ty với công ty Để nói tới đặc điểm của tranh chấp Kinh doanh, thương mai, ta cân chú ý tới những đặc điểm sau: Thứ nt , các tranh chấp thương mại xảy ra do nguyên nhân lả xung, đột quyên lợi và nghĩa vụ giữa các bên đang xây ra tranh chấp.
Tranh chap chỉ ul phát sinh khi quan hề thương mai xy ra va sự mâu thuẫn về quyền lợi của các "bên xây ra. Đồng thời với sự hợp tác trong kinh doanh thương thì tranh chấp cũng thường xây ra bởi khi "va cham’ vào lợi ích kinh tế thì các bên sé du tranh để giành lại quyên lợi. Ban chất của quan hé thương mai la vé tai sản nên nội dung tranh chấp thường liên quan trực tiếp tới lợi ích kinh tế của các bên. Thông thường, những mâu thuẫn bắt đồng về quyền và nghia vụ giữa các bên phát sinh trong các mối quan hệ cu thể bao gồm: ~ Tranh chap phát sinh trong hoạt động KDTM giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau déu có mục đích lợi nhuận - Tranh chap về quyển sở hữu trí tuê, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều vì mục đích lợi nhuận.
~ Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao. dịch về chuyển nhượng phân von gop với công ty, thành viên công ty. chấp giữa công ty với thành viên của công ty, tranh chấp giữa công ty với người quên lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội đồng quan trị, giám đóc, tổng giám đóc trong công ty cỗ phân, giữa các thành viên. của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, gii thé, sap nhập, hợp nhất, chia, tách, bản giao tai sản của công ty, chuyển đổi hình thức.
sở hữu cla công ty, Một sổ tranh chấp khác vé kinh doanh thương mai trừ trường hợp thuộc thấm quyên giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật Thứ hai, những mâu thuẫn về quyền va nghĩa vụ giữa các bên phải phát sinh từ hoạt đông thương mại. Căn cứ phát sinh tranh chấp thương mai lả ‘hanh vi vi pham hợp đồng hoặc vi phạm pháp luật. Trong nhiều trường hợp, tranh chấp thương mai phát sinh do các bên có vi phạm hợp đồng và xâm hại lợi ich của nhau. Tuy nhiên, cũng có thể có những vi phạm sâm hại lợi ích của các bên nhưng không lém phat sinh tranh chấp.
Tranh chấp thương mại phải là những mầu thun, bat đẳng về quyền va nghĩa vụ giữa các bên phát sinh từ những hoạt động nhằm mục đích snh lợi, bao gồm mua hàng hóa, cung ứng dịch vu, dau tu, mic tiến thương mại va các hoạt động nhằm muc dich sinh lợi khác. Tint ba, các tranh chấp thương mại chủ yếu là những tranh chấp phát sinh giữa các thương nhân (pháp nhân, cá nhân kinh doanh) với nhau.