CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước 1. Nhóm các công trình nghiên cứu về các học thuyết nền tảng của quản trị công ty cổ phần mô hình có ban kiểm soát Trong các loại hình công ty thì công ty cổ phần với đặt điểm là công ty đối vốn điển hình, là một trong những chủ thể kinh doanh phổ biến và quan trọng bậc nhất trong môi trường thương mại của bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới. Quản trị công ty vì vậy rất được quan tâm và được nhắc đến nhiều trong các công trình nghiên cứu từ xưa đến nay, đặc biệt là các học thuyết kinh điển trong nhiều lĩnh vực khác nhau.
Học thuyết về pháp nhân Trong các loại hình công ty thì tư cách pháp nhân của công ty cổ phần không bị đem ra bàn cãi. Với tư cách là một pháp nhân, việc nghiên cứu các học thuyết pháp nhân có nhiều ý nghĩa để lý giải các vấn đề quản trị công ty cổ phần, vì vậy đa phần các quốc gia lựa chọn học thuyết pháp nhân để xây dựng các quy định pháp lý về quản trị công ty. Có thể kể đến những học thuyết về pháp nhân sau: Học thuyết pháp nhân là một hư cấu pháp lý (học thuyết cổ điển): Theo thuyết này, ngoài thể nhân (con người) thì các chủ thể quyền lợi khác chỉ là những chủ thể giả tạo, do pháp luật tạo ra. Cùng với khả năng tạo ra pháp nhân, luật pháp cũng có thể tước bỏ sự tồn tại của pháp nhân đó.
Học thuyết này đã không lý giải tại sao cần phải tạo đặt ra hư cấu ấy. Học thuyết phủ nhận pháp nhân, học thuyết này cố gắng chứng minh thể nhân (con người) là người cuối cùng thu được lợi nhuận từ các quan hệ pháp lý và kết luận ngoài thể nhân không tồn tại bất cứ một chủ thể nào khác, pháp nhân chỉ là một hư cấu để che đậy một sự thực và không công nhận pháp nhân. Học thuyết này cũng đã bị chỉ trích vì đã không chú trọng yếu tố thời gian và không thể coi quyền lợi của pháp nhân chỉ là các quyền lợi của hội viên được. Học thuyết thừa nhận tính cách thực sự của pháp nhân chỉ ra rằng: các pháp nhân không do các quốc gia hay quyền lập pháp tạo lập ra được.
Quốc gia chỉ chứng nhận và kiểm soát các pháp nhân ấy mà thôi. Học thuyết này là tiền đề cho tự do ý chí và tự do lập hội. Học thuyết này cũng được pháp luật của các nước thừa nhận và sử dụng để xây dựng những quy định pháp lý về hội kinh doanh hoặc công ty. Khi nghiên cứu về quản trị công ty cổ phần, các học thuyết về pháp nhân 7 sẽ là nguồn gốc để giải thích vai trò của người đại diện; sự xung đột lợi ích giữa người quản lý và công ty; vấn đề kiểm soát giao dịch tư lợi… Lý thuyết về đại diện Trong tác phẩm An Inquiry into the Nature and Cause of the Wealth of Nation thường được gọi là The Wealth of Nations (Tìm hiểu về bản chất và nguồn gốc của cải của các quốc gia) là tác phẩm kinh điển của kinh tế chính trị do Adam Smith viết và xuất bản lần đầu năm 1776.
Adam Smith đã cho rằng với đặc tính của công việc quản lý, các cổ đông không nên kỳ vọng và tin tưởng rằng người quản lý công ty sẽ hành động như họ muốn, bởi lẽ người quản lý công ty luôn có xu hướng thiếu siêng năng, mẫn cán và lợi dụng vị trí của mình để tìm kiếm lợi ích cá nhân cho chính họ hơn là cho các cổ đông và công ty1. Lý thuyết về đại diện được phát triển bởi Alchian và Demsetz năm 1972 sau đó được Jensen và Meckling phát triển thêm. Tiêu biểu như nghiên cứu của Jensen.MC và Meckling.WH (1976), Theory of Firm: Managerial Behaviour, Agency Costs and Ownership Structure, Journal of Financial Economics. Trong lý thuyết này, các cổ đông là các chủ sở hữu hoặc là người đứng đầu công ty, thuê những người khác thực hiện công việc.
Bên cạnh việc phân tích những ưu điểm của quan hệ đại diện trong nền kinh tế hiện đại, lý thuyết đại diện còn chỉ ra những hạn chế mà người đại diện có thể lạm dụng để trục lợi cá nhân. Luận đề chính của tác phẩm "Của cải" của Adam Smith dựa trên niềm tin rằng "mỗi con người đều chính thức bị thúc đẩy bởi tư lợi". Trong khi các cổ đông kỳ vọng những người đại diện, quản lý hành động vì lợi ích của cổ đông thì chính vấn đề đại diện và sự phân tách giữa sở hữu và quản lý có thể dẫn tới việc nhà quản lý hành động không nhằm mục tiêu tối đa hóa giá trị của cổ đông, mà có thể vì lợi ích của chính bản thân họ. Theo lý thuyết về đại diện, vấn đề xung đột lợi ích lần đầu được Adam Smith nhấn mạnh trong thế kỷ XVIII, sau đó được khám phá bởi Ross.A (1973), The Economic Theory of Agency: The Principal’s Problem, The American Economic Review, và lý thuyết về đại diện của của Jensen, Meckling lại tiếp tục mô tả chi tiết hơn vấn đề này.
Nghiên cứu này đã chỉ ra xung đột lợi ích có thể tồn tại ngay trong mỗi bộ phận quản trị, chẳng hạn giữa các cổ đông (cổ đông đa số và cổ đông thiểu số; cổ đông kiểm soát và cổ đông không kiểm soát; cổ đông cá nhân và cổ đông tổ chức); 1 Adam Smith, The Wealth of Nations, 1776, tr. 8 giữa các thành viên HĐQT (điều hành và không điều hành; bên trong và bên ngoài; độc lập và phụ thuộc)2. Do đó, để giải quyết được các vấn đề xung đột lợi ích nảy sinh từ cơ chế đại diện trong quản trị công ty, lý thuyết này đã đưa ra hai giải pháp là: (1) thiết lập những cơ chế đãi ngộ (compensation mechanisms) thích hợp cho các nhà quản trị, chế độ thù lao và lương thưởng xứng đáng sẽ khiến cho người đại diện ham hoạt động hơn, chăm chỉ hơn và hữu hiệu hơn; (2) thiết lập cơ chế giám sát (supervisory mechanisms) hiệu quả để hạn chế những hành vi không bình thường, tư lợi của người quản lý công ty, cơ chế giám sát hữu hiệu nhất là thông qua những thành viên HĐQT độc lập và thành viên BKS độc lập. Lý thuyết về sự phân chia quyền lực Lý thuyết về sự phân chia quyền lực trong công ty hiện đại đã xuất hiện từ những năm 30 của thế kỷ trước.
Vấn đề phát sinh từ việc phân tách quyền sở hữu và kiểm soát trong lý thuyết đại diện đã được đưa ra trong công trình nghiên cứu: Davis, JH, Schoorman, FD và Donaldson, L (1997), Towards a Stewardship Theory of Management, Academy of Management Review. Các học giả về luật công ty hiện đại quan tâm đến sự phân tách giữa sở hữu và quản trị (the separation of ownership and control), đặc biệt trong các CTCP có nhiều cổ đông, nhất là các công ty niêm yết (listed firms), nơi mà các cổ đông chỉ quan tâm đến giá trị cổ phiếu trên thị trường, cùng với một quyền rất quan trọng là lựa chọn các nhà quản trị mang lại giá trị cao nhất có thể cho cổ phần của họ. Theo cuốn sách, Học thuyết Doanh nghiệp, Nxb. Lao động – xã hội năm 2018 thì sự tách rời giữa quyền sở hữu và quyền quản lý doanh nghiệp này dẫn đến hậu quả là “giám đốc của các doanh nghiệp này trở thành những người quản lý tài chính của người khác… một cách bất cẩn và lãng phí” chứ không “thực sự nghiêm túc như cách mà những người chủ doanh nghiệp xử lý vốn của chính họ” (Smith, 1776).
Đây chính là vấn đề mà tất cả các doanh nghiệp cổ phần hiện nay đã đang và sẽ luôn phải đối mặt để xử lý3. Lý thuyết người quản lý Ở góc nhìn trái ngược với lý thuyết đại diện, lý thuyết người quản lý (Stewardship Theory) xem xét những tình huống mà lợi ích của nhà quản lý không có 2 Nguyễn Thanh Lý (2020), Sách chuyên khảo “Kiểm soát giao dịch có khả năng tư lợi trong công ty đại chúng theo pháp luật Việt Nam”, Nxb. Khoa học xã hội, tr. Dẫn theo: Nhâm Phong Tuân và Nguyễn Anh Tuấn (2013), Quản trị công ty vấn đề đại diện của các công ty đại chúng tại Việt Nam, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Kinh tế và kinh doanh, tập 29, số 1/2013.
3 Phan Thanh Tú, Vũ Mạnh Chiến, Phạm Văn Kiệm, Lưu Đức Tuyến, Nguyễn Thị Hồng Nga (2018), “Chương 11: Học thuyết đại diện”, trong sách Học Thuyết Doanh Nghiệp, NXB Lao Động – Xã Hội, trang 205-233. 9 xung đột với lợi ích của chủ sở hữu hoặc nhà quản lý xem lợi ích của mình đi cùng lợi ích của chủ sở hữu. Lý thuyết này có thể nghiên cứu thông qua một số công trình như: James H. David Schoorman & Lex Donaldson (1997), “Toward a Stewardship Theory of Management”, The Academy of Management Review; C.
Smallman (2004), Exploring Theoretical Paradigm in Corporate Governance, International Journal of Business Governance and Ethics, Vol. Kent Baker & Ronald Anderson (2012), Quản trị doanh nghiệp – Lý thuyết, nghiên cứu và thực hành (dịch từ nguyên bản tiếng Anh: Corporate Governance – A synthesis of theory, research, and practice), NXB Kinh tế TP Hồ Chí Minh… Lý thuyết này lập luận rằng khi người quản lý và công ty đồng nhất mục tiêu, các nhà quản lý quan niệm thành công của công ty là thành công của chính họ và điều này sẽ góp phần xây dựng hình ảnh cá nhân mình. Bằng xu hướng thiên về hành động cho lợi ích của của công ty, người quản lý sẽ nhận được lợi ích bền vững, nhiều hơn là hành vi theo chủ nghĩa cá nhân. Dựa trên lý thuyết này, cơ cấu tổ chức và các nội dung quản trị của công ty sẽ hướng đến việc tạo điều kiện và trao quyền cho người quản lý thay vì cơ chế giám sát và kiểm soát theo lý thuyết đại diện.
Lý thuyết các bên liên quan Lý thuyết các bên liên quan được khởi đầu từ nghiên cứu của Freman (1984) về quản trị tổ chức và đạo đức kinh doanh, các nghiên cứu có thể kể đến như: R.Edward Freeman (1984), Strategic Management: A Stakeholder Approach, Pitman Publishing, Boston, MA; Max BE. Clarkson (1995), A Stakerholder Framework for Analysing and Evaluating Corporate Social Performance, Academy of Management Review, Vol. Lý thuyết này mô tả mối quan hệ giữa công ty với các bên liên quan gồm: Nhân viên (employees); người quản lý (manager); chủ sở hữu (owners); nhà cung cấp (suppliers); xã hội (society); chính quyền (government); chủ nợ (creditors); các cổ đông (shareholders); khách hàng (customers).