CHƯƠNG 1: NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VE CÁC CẤU TRÚC (MARITIME FEATURES) TREN BIEN THEO QUY ĐỊNH CUA CÔNG UOC LUAT BIEN NĂM 1982. Khái quát cấu trúc trên bién trong luật bién quốc tế Lãnh thé quốc gia thuộc chủ quyền của mỗi quốc gia!. Xuyên suốt quá trình thụ đắc lãnh thé của minh, các quốc gia dần mở rộng hơn thẩm quyên ra phía biển thê hiện rõ tinh thần của học thuyết Đất thống trị biển?. Trên thực tế yêu sách trên xuất hiện khá phổ biến ở các quốc gia giáp biên, tuy nhiên việc áp dụng học thuyết trên được viện dẫn ở nhiều cơ quan tài phán quốc tế có thâm quyền về luật biển nên nó dan trở thành một trong những nguyên tắc quan trọng của luật biển quốc tế và là cách thức co ban dé dẫn dắt các quốc gia tiếp cận sở hữu vùng biển day tiềm năng về kinh tế, quân sự, chínhtri,.
Hay nói cách khác chủ quyển quốc gia là một điều kiện cơ bản dé quốc gia thống trị biển. Bên cạnh việc xác lập chủ quyên trên biển ở các quốc gia thông qua xác lập các vùng nước lãnh hải, vùng nước quần dao hay hưởng toản ven phan kéo dai tự nhiên không sửa chữa của lãnh thé mình ra bién,. thì các cấu trúc trên biển cũng là yếu tố quan trọng gia tăng khả năng tiếp cận mở rộng chủ quyển trên biển của mỗi quốc gia. Các cầu trúc trên biển (Maritime features) bao gồm: Pao (Island), Đảo đá (Rocks), Cac mỏm đá (Reefs), Bãi cạn lúc chìm lúc nổi (Low-tide elevations),.
Việc phân tích và làm rõ quy định pháp lý về các cấu trúc trên giúp đặt nên tảng xác lập chủ quyển và quyển chủ quyền với các vùng biển. Theo từ điển Tiếng Việt, “cấu trúc” là toàn bộ mối quan hệ của các thành phan bên trong của một chỉnh thể. Hiện nay chưa có quy định pháp lý nào rõ ràng lý giải thuật ngữ “cấu trúc trên biển”. Nhưng từ lý gidi trên ta có 1 Đại học Luật Hà Nội (2022), Giáo trình Luật Quốc tế, NXB Công an Nhân dân, Ha Nội,tr.165 ? Đại học Luật Hà Nội (2022), Giáo trình Luật Quốc tê, NXB Công an Nhân dân, Hà N6i,tr.189 thé đưa ra một khái niệm như sau: Cấu trúc trên biển 1a toàn bộ mối quan hệ của các thành phần bên trong của một chỉnh thé tốn tại trên, trong hoặc dưới mặt nước và đặc biệt là phải tách rời hoàn toàn khỏi đất liền hay nói cách khác ban thân các chỉnh thé đó phải tồn tại đơn lập ở biển hoặc biệt lập với lục dia.
Bởi một chỉnh thê nếu liên quan dù chỉ một chút tới quần đảo hay lục địa thì nó sẽ không còn là một cầu trúc trên biên mà chỉ có thé được coi là một phân của đảo hoặc lục dia. Tuy nhiên, bên cạnh các cấu trúc tự nhiên (các thực thê địa lý xa bờ), còn có các cấu trúc khác cũng tổn tại trên mặt biển biển đưới hình thức nhân tạo như : đảo nhân tạo, công trình, thiết bị.Những thực thê cũng mang đầy đủ tính chất của thuật ngữ “cấu trúc trên biển” được định nghĩa ở trên. Như vậy nếu áp dụng đúng tính chất pháp lý của một sé cầu trúc tự nhiên như trên cho các cấu trúc nhân tạo thì sẽ có vô số căn cứ được quốc gia cơ cầu hóa dé mở rộng tối đa quyên hạn trên biên của mình. Điều đó cũng là thực trạng nan giải đã từng xuất hiện vào thé kỷ XIX, khi các quốc gia tận dụng tối đa các câu trúc trên biên của minh dé mở rộng lãnh hải về phía bién?.
Như vậy từ các lý giải trên, ta có thê hiểu thật khó để đưa ra một định nghĩa cụ thê cho các cấu trúc trên biển. Hiện nay trên thế giới cũng như trong nước các nhà làm luật hay các công trình nghiên cứu cũng không đề cập tới một định n ghĩa cụ thé cho các cấu trúc nảy, chúng thường được chỉ ra hoặc liệt kê rõ dưới dạng tên cụ thé cho từng loại cấu trúc. Một số cấu trúc trên biển a, Dao (Island) Đảo là cấu trúc có vai trò quan trọng nhất trên biển, do nó là cầu trúc tự nhiên và luôn nỗi trên bề mặt nước ngay cả khi thủy triều lên cao nhất. Vì đặc 3 Robert Beckman, Trung tâm Luật quốc tế, Đại học quốc gia Singapore, Vai trò của quy chế về các thực thể dia lý xa bờ đối với các yêu sách vùng biển ở Biển Đông, Sách Biển Đông-Quản lý tranh chấp và định hướng giải pháp, tr.
điểm tự nhiên đặc biệt như vậy nên đảo cũng được trao nhiều đặc quyển nhất về vùng biên và nó cũng là công cụ tiềm năng cho các quốc gia áp dụng nguyên tắc “đất thống trị biên”. Tuy nhiên, đồng thời tôn tại nguyên tắc "tự do biển ca" hạn chế việc trao quá nhiều ưu tiên về vùng biển cho các đảo, tránh việc lạm dụng nguyên tắc “đất thống trị biển” dé tạo vùng biển chống lan, làm phức tạp thêm tranh chấp. Theo quan điểm các nhà địa chất, đảo là một vùng đất có nước bao quanh. Tuy nhiên trên thực tế để xác định một cấu trúc có là đảo sẽ vô cùng phức tạp vì nó liên quan trực tiếp tới quan điểm pháp lý của các quốc gia.
Trải qua ba cuộc Hội nghị về luật Biển và hơn 9 năm đàm phán UNCLOS 1982, bảy tiêu chí cơ bản được đưa ra nhằm xác định một cấu trúc là đảo, nhưng chỉ có bốn tiêu chí được đúc kết lại hoàn thiện rõ nét trong bản Dự thảo cuối cùng của UNCLOS 1982, bao gồm: một vùng đất, hình thành tự nhiên, bao bọc bởi nước, ở trên mặt nước khi thủy triều lên“. Việc phân tích bốn tiêu chí trên giúp lam rõ quy chế pháp lý về cau trúc đảo theo quy định UNCLOS 1982 từ đó dé dang áp dụng vào việc lý giải trong thực tế. Về tiêu chí thứ nhất, một vùng đất. Nhân tố đất không được quy định trong UNCLOS 1982 nhưng dưới góc độ nghiên cứu của lĩnh vực khoa học khác thi đất là một vật chất thuộc vỏ Trái đất bao bọc bởi nước và nỗi trên mặt nước và không bao gồm nước hay các phần đất dưới biển.
Có thê nói, dưới quan điểm trên thi đất như một Terra firma (Dat cứng). Tuy nghiên củng tính chất như vậy thì lục địa hay đất liền cũng là một Terra firma hay nói cách khác đảo cũng sẽ là một dạng đất liền. Như vậy ta lại tiếp tục phải phân biệt đảo với lục dia dé tìm ra sự khác biệt mau chốt cho hai tinh chất tưởng như tương đồng nhưng lại có hai thuật ngữ khác nhau. Nếu đặt tiêu chí nảy vao mối quan hệ 4 Nguyễn Bá Diễn (2009), “Quy chê pháp lý quốc tế chung về biển, đảo và những van dé cần áp dụng đối với Hoàng Sa, Trường Sa”, Tap chí Khoa hoc DHOGHN,(25),tt.
10 tương quan với các châu lục thì ta sẽ thấy, vùng đất được gọi là đảo bên cạnh tính chất của dạng đá cứng có thé bao gồm cát, bùn, đá,. còn phải có sự thừa nhận về mặt lâu đời gắn liền với đáy biển, tức là sự hình thành từ lúc trai đất xuất hiện rồi xuyên suốt bào mòn chia tách qua các quá trình kiến tạo. Như vậy với cách hiểu trên ta có thé loại bỏ các cấu trúc ko có quan hệ hữu co voi day biển thì không phải là đảo. Về tiêu chí được hình thành một cách tự nhiên.
Tự nhiên tức là không có sự can thiệp của con người. Các vật thé như ngọn hải đăng, đảo nhân tạo,. không nằm trong phạm vi của thuật ngữ đảo này. Bên cạnh đó các đáo có sự can thiệp của con người dé bảo tổn duy trì sự hiện hữu tự nhiên của nó thì vẫn được coi là có tính tự nhiên vi sự can thiệp nay nhằm mục đích duy trì sự tự nhiên của đảo.
Ngoài ra, các đảo san hô hình thành qua nhiều năm bồi đắp cũng có thể coi là đảo dưới góc độ pháp lý của UNCLOS 1982 đo nó đảm bảo tiêu chí tự nhiên và lâu đời cũng cầu trúc hữu co terra firma của vùng đất và độc lập với đáy biển. Về tiêu chí có nước bao bọc. Ở tiêu chí nay ta thay được sự nhất quán rõ nét trong việc phân tách câu trúc đảo với đất liền. Việc có nước bao quanh giúp đảo tổn tại độc lập vì nếu vùng đó chỉ dính một chút vào đất liền thì sẽ chỉ là một phan của đất liền hay phần không tach rời của bờ biển.
Về tiêu chí ở trên mặt nước khi thủy triều lên. Đây là tiêu chí quan trọng giúp phân biệt dao với bãi cạn lic chim lúc nỗi. Tuy nhiên trong UNCLOS 1982 không quy định rõ việc xác định tiêu chí này thông qua hệ thống thủy triều dẫn đến sự giải thích va áp dụng pháp luật quốc tế khác nhau ở các quốc gia. Do việc xác định không liên quan đến chiều cao của cấu trúc nên chỉ cần đáp ứng khi thủy triều lên, vùng đất vẫn nổi thì cấu trúc đó được gọi là đảo không nhất thiết phải áp dụng hệ thống thủy triều nảo.
Tóm lại, câu trúc thỏa mãn bốn tiêu chí là: vùng đất, hình thành tự nhiên, bao bọc bởi nước, nỗi khi 11 thúy triều lên theo quy định của UNCLOS 1982 thì được gọi là dao. Du ngay nay van còn quan điểm khác nhau vẻ van dé này nhưng nó vẫn chưa đủ dé gây ra tranh cãi và đòi hỏi sự nghiên cứu phát triển quy chế. Các tiêu chí nay vẫn được phô biến và áp dụng nhiều nhất trên thế giới. b, Đảo đá (Rocks) Đây là một dạng cấu trúc đặc biệt của đảo, được quy định ở khoản 3 Điều 121 của UNCLOS 1982, theo đó những cầu trúc không phù hợp cho con người đến ở, thiết lập môi trường sống và kinh tế riêng thì gọi là đảo đá.
Dạng cấu trúc đặc biệt này là ngoại lệ của khoản 2 cùng điều luật này, trong khi đảo được ưu tiên với đầy di các vùng biển thì đảo đá với tính chất theo khoản 3 điều 121 lại chi co quy chế pháp lý của 3 vùng biên loại trừ vùng đặc quyển kinh tế và thêm lục địa. Những đảo đá mà con người vẫn có thé sinh sống va thiết lập môi trường kinh tế thi vẫn sở hữu du các vùng biển như quy chế của đảo ở khoản 1 điều 121 UNCLOS 1982. Dù việc quy định về các quy chế khá rõ ràng, tuy nhiên định nghĩa về đảo đá lại hoàn toàn không được đề cập trong Công ước. Trong một số lĩnh vực khác, đảo đá được quy định 1a khối cứng phan đất chặt của Trái Dat (Địa ly) hay một khối don độc, tảng lớn độc lập giữa biển (Hàng hai).