CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐO LƯỜNG CÁC KHOẢN ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN THEO GIÁ TRỊ HỢP LÝ 1.1 Vấn đề đo lường trong kế toán 1.1 Khái niệm và ý nghĩa của đo lường trong kế toán Đo lường có nghĩa là gán các con số cho đối tượng nghiên cứu. Đo lường là xác định dữ liệu (DATA) thể hiện đặc tính của hệ thống vật chất theo các quy định pháp luật có liên quan (Norman Campell, 1938). Hay, Đo lường bao hàm việc quy đổi thành tiền các yếu tố cần được ghi nhận và trình bày trên báo cáo tài chính (IASB-Framework). Như vậy, hiện nay tồn tại một sự đa dạng về các cơ sở đo lường được sử dụng ở những mức độ khác nhau hoặc có sự kết hợp với nhau.
Quá trình đo lường sử dụng nhiều thước đo liên quan đến việc sắp xếp biến định tính (là biến thể hiện thuộc tính tình trạng, giá trị không có nghĩa về mặt số học) và biến định lượng (là biến thể hiện thuộc tính số lượng và giá trị có nghĩa về mặt số học). Đo lường để định giá. Mục tiêu của đo lường là cung cấp các dữ liệu, thông tin có chất lượng tốt nhất, ít sai sót nhất, xác định lại đúng tiệm cận (gần đúng) với giá trị thực của đối tượng kế toán tại thời điểm lập báo cáo tài chính. Đo lường là một vấn đề quan trọng trong kế toán vì liên quan trực tiếp đến quyết định quản trị và đánh giá quyết định này, quyết định đầu tư và hiệu quả đầu tư… Có nhiều mô hình đo lường trong kế toán xuất phát từ nhiều cách tiếp cận khác nhau, có nhiều tranh luận, không dễ thống nhất và là vấn đề của tương lai.2 Thang đo (Scales) Để đo lường, kế toán sử dụng 4 loại thang đo: danh nghĩa, thứ tự, khoảng cách và tỷ số.1 Thang đo danh nghĩa (Nominal) Trong thang đo danh nghĩa, các con số chỉ có ý nghĩa như là những nhãn hiệu, và không phải là giá trị định lượng.
Trong kế toán, dùng thang đo danh nghĩa là để phân loại và biểu hiện tài sản và nợ phải trả, vốn chủ sở hữu,…dưới dạng những con số khác nhau.2 Thang đo thứ tự (Ordinal) Thang đo thứ tự có đặc điểm như thang đo danh nghĩa cộng thêm đặc tính có trật tự thứ bậc, được thiết lập khi có một hoạt động xếp hạng các đối tượng trong một câu hỏi có liên quan đến một tài sản xác định. Chẳng hạn như: nhà đầu tư A có 7 cơ hội đầu tư với số tiền 100 triệu đồng. Nhà đầu tư phải xếp hạng cơ hội để ưu tiên sử dụng 100 triệu đồng này.3 Thang đo khoảng cách (Interval) Thang đo khoảng cách có sức mạnh như thang đo danh nghĩa và thang đo thứ tự, cộng thêm một đặc tính phù hợp với khái niệm tương đồng về khoảng cách. Thang đo khoảng cách cho thông tin nhiều hơn thang đo thứ tự.
Chẳng hạn như: khung thời gian khấu hao tài sản cố định.4 Thang đo tỷ số (Ratio) Thang đo tỷ số có tất cả đặc tính của các thang đo trên, cộng với một đặc tính có nguồn gốc tuyệt đối là giá trị không, thể hiện số lượng thực của một biến số. Là thang đo mà ở đó: biết được sự xếp hạng các đối tượng hoặc sự kiện liên quan đến tài sản xác định, biết được khoảng cách giữa các đối tượng, biết được nguồn gốc duy nhất, điểm 0 (tự nhiên) xuất hiện nơi mà khoảng cách từ nó đến mục tiêu là tối thiểu, chuyển tải hầu hết thông tin. Chẳng hạn như: nếu A có giá 10 triệu đồng và B có giá 40 triệu đồng thì có thể nói B gấp bốn giá A. Điểm 0 xuất hiện.3 Các cơ sở đo lường Cơ sở dùng để đo lường giá trị tài sản bao gồm: giá đầu vào và giá đầu ra.1 Giá đầu vào (Exchange input value) Giá đầu vào được sử dụng trong đo lường giá trị tài sản có thể là: - Giá gốc (Historical cost): là số tiền (hoặc tương đương tiền) đã trả hay giá trị hợp lý tại thời điểm có tài sản (IASB Framework).
Tức là số tiền (hoặc tương đương tiền) đã thanh toán để có một tài sản hoặc thanh toán một khoản nợ phải trả. - Giá hiện hành (Current cost): là số tiền hoặc tương đương tiền sẽ phải trả để có được tài sản tương tự vào thời điểm hiện tại. Hay là số tiền hoặc tương đương tiền sẽ phải trả để có một tài sản tương đương hoặc được nhận để đổi lấy một khoản trả tương đương.2 Giá đầu ra (Exchange output value) Giá đầu ra được sử dụng trong đo lường giá trị tài sản có thể là: - Giá trị thuần có thể thực hiện được (Net realizable value): là số tiền (hoặc tương đương tiền) thuần sẽ thu được khi bán tài sản hoặc sẽ phải trả để thanh toán khoản nợ hiện tại. - Hiện giá (Present value): giá trị hiện tại của các khoản tiền thuần sẽ nhận từ việc sử dụng tài sản hoặc sẽ trả để thanh toán nợ.
- Giá trị hợp lý (Fair value): Giá có thể nhận được khi bán một tài sản, hoặc có thể được thanh toán để chuyển giao một khoản nợ phải trả trong một giao dịch bình thường giữa các bên tham gia thị trường tại ngày đo lường.4 Các giả thiết và nguyên tắc kế toán tác động đến việc đo lường trong kế toán Thông tin kế toán có ý nghĩa rất quan trọng trong việc phục vụ lập báo cáo tài chính. Để tránh sự tùy tiện cũng như sự chủ quan việc đo lường trong kế toán ảnh hưởng đến thông tin trên báo cáo tài chính. Vì vậy, các giả thiết và nguyên tắc kế toán được đề cập trong khuôn mẫu lý thuyết của Uỷ ban chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS Framework) được xem là cơ sở pháp lý trong việc tổ chức và và thực hiện kế toán, chi phối việc đo lường: 123doc 10 Giả thiết về tính hoạt động liên tục (Going concern) Nguyên tắc này đặt ra giả thiết là doanh nghiệp đang hoạt động và trong thời gian tới cũng không có ý định ngừng hoạt động ít nhất là một năm. Với giả thiết này là cơ sở lập báo cáo tài chính.
Trừ khi giả thiết này bị vi phạm thì giá trị thuần có thể thực hiện được sẽ được sử dụng lập báo cáo tài chính. Cơ sở dồn tích (Accruals basis) Nguyên tắc này bắt buộc việc ghi nhận tài sản, nguồn vốn, doanh thu và chi phí dựa trên cơ sở nghiệp vụ kinh tế phát sinh, chứ không phải dựa trên cơ sở thực thu, thực chi bằng tiền hoặc tương đương tiền. Phù hợp (Matching) Nguyên tắc này yêu cầu việc ghi nhận doanh thu và chi phí phải phù hợp với nhau. Khách quan (Neutrality) Nguyên tắc này chi phối rất lớn đến việc đo lường.
Nó đòi hỏi các loại giá được sử dụng có thể kiểm chứng được. Thông tin trình bày trên báo cáo tài chính phải khách quan. Trước đòi hỏi khắc khe đó, hệ thống kế toán dựa trên giá gốc là ứng cử viên sáng giá đáp ứng được yêu cầu này. Đó cũng là lý do mà hầu như các quốc gia trên thế giới đều chấp nhận giá gốc.
Thận trọng (Prudence) Với mục tiêu chính tránh thổi phòng giá trị tài sản hay giấu bớt nghĩa vụ, chi phí. Nguyên tắc này yêu cầu không được đánh giá cao hơn giá trị của các loại tài sản và các khoản doanh thu cũng như không được đánh giá thấp hơn giá trị của các khoản nợ phải trả và chi phí. Có thể so sánh (Comparability) Để phục vụ cho yêu cầu so sánh ít nhất là trong kỳ kế toán năm. Nguyên tắc này bắt buộc việc sử dụng chính sách và phương pháp hạch toán nhất quán liên tục trong 123doc 11 nhiều kỳ.
Nếu doanh nghiệp muốn thay đổi chính sách và phương pháp hạch toán thì phải giải trình nguyên nhân và phải thuyết minh ảnh hưởng của sự thay đổi này.5 Các mô hình đo lường trong kế toán Do xuất phát từ nhiều cách tiếp cận khác nhau, chính vì vậy mà trong kế toán có nhiều mô hình đo lường khác nhau. Sau đây là các mô hình đo lường giá trị tài sản trong kế toán: 1.1 Kế toán theo giá gốc (Historical cost Accounting) Từ khi hệ thống kế toán kép của Pacioli ra đời năm 1494. Tính đến nay, đây là hệ thống định giá truyền thống lâu đời nhất và cho đến nay hệ thống này vẫn còn giữ vững vai trò chủ chốt trong thực tiễn kế toán. Giá gốc còn được gọi là giá lịch sử, giá phí hay giá thực tế.
Kế toán theo giá gốc là kế toán theo tiền hoặc tương đương tiền đã trả hay giá trị hợp lý tại thời điểm có tài sản (IASB Framework). Một số giả định cơ bản được đưa ra như những tiên đề làm cơ sở cho kế toán theo giá gốc, bao gồm: hoạt động liên tục, kỳ kế toán, đơn vị tiền tệ, nguyên tắc ghi nhận doanh thu và nguyên tắc phù hợp. Một trong những cơ sở cho nhà quản lý đánh giá kết quả hoạt động trong quá khứ và đưa ra kế hoạch trong tương lai đó là số liệu kế toán. Theo nghiên cứu của Ijiri (1975) đưa ra ba lý do khiến giá gốc phù hợp cho việc ra quyết định của nhà quản lý: giá gốc ảnh hưởng đến việc đánh giá và ra quyết định, giá gốc là đầu vào để xác định “sự thỏa mãn” và giá gốc được sử dụng tương thích với môi trường chung quanh người ra quyết định.
Ví dụ, giá gốc là cơ sở cho việc tính thuế. Bên cạnh đó, giá gốc có tính khách quan vì có bằng chứng chứng minh. Sự thay đổi giá gốc có thể được thuyết minh. Đến nay, chưa có bằng chứng cho thấy phải thay thế giá gốc.
Tuy nhiên, trong giai đoạn nền kinh tế thế giới chịu ảnh hưởng nghiêm trọng của lạm phát thì hệ thống kế toán dựa trên giá gốc đã bộc lộ nhiều hạn chế. Giá gốc không phản ánh được giá trị các khoản đầu tư vào thời điểm hiện tại, không cung cấp thông tin hữu ích, không phản ánh đúng lợi nhuận dưới góc độ kinh tế. Trong thời kỳ lạm phát giá cả tăng thì lợi nhuận tính theo giá gốc cao hơn lợi nhuận tính theo giá hiện hành dẫn đến 123doc 12 chia cổ tức vượt “lợi nhuận thực”.