Chương 1 sẽ giới thiệu tổng quát về bối cảnh và tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu bao gồm mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể, đưa ra câu hỏi nghiên cứu của đề tài. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu cũng như ý nghĩa khoa học, thực tiễn và những đóng góp của nghiên cứu cũng được tóm tắt trong chương này. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm về cổ phiếu giá trị và DMĐT cổ phiếu giá trị Chương 2 bắt đầu bằng việc giới thiệu về lý thuyết thị trường hiệu quả và đầu tư giá trị, cơ sở lý thuyết về cổ phiếu giá trị và DMĐT cổ phiếu giá trị. Bên cạnh đó chương này cũng hệ thống lại kết quả của các nghiên cứu có liên quan trên thế giới và trong nước trong lĩnh vực nghiên cứu về DMĐT cổ phiếu giá trị xây dựng theo các tiêu chí BM (P/B), P/E cũng như nghiên cứu việc kết hợp BM và F_Score trong xây dựng DMĐT cổ phiếu giá trị.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và cơ sở dữ liệu Chương 3 sẽ thảo luận chi tiết về quá trình thiết kế nghiên cứu như: xây dựng giả thuyết nghiên cứu, cơ sở dữ liệu nghiên cứu và phương pháp phân tích. Bao gồm quá trình xử lí số liệu như lựa chọn cổ phiếu giá trị, xây dựng DMĐT, xác định TSLN cho cổ phiếu và DMĐT, mô tả đối tượng nghiên cứu, kì nghiên cứu. Chương này cũng sẽ khái quát phương pháp thu thập, xử lí số liệu, kiểm định giả thuyết thống kê và mô hình hồi quy. z 8 Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 4 sẽ thảo luận về kết quả được tìm ra trong nghiên cứu về cổ phiếu giá trị ở Việt Nam.
Cụ thể chương này sẽ tiến hành so sánh TSLN của DMĐT giá trị có F_Score cao so với các DMĐT có F_score thấp và danh mục thị trường, phân tích các nhân tố tác động đến TSLN của cổ phiếu giá trị thông qua kết quả hồi quy dữ liệu gộp (Pooled OLS). Kết hợp giữa phân tích kết quả nghiên cứu tìm được và so sánh với các kết quả nghiên cứu trước đây trên thế giới và ở Việt Nam. Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách Chương 5 sẽ tóm tắt kết quả nghiên cứu chính, đồng thời đưa ra câu trả lời cuối cùng cho những câu hỏi đã được đưa ra trong phần giới thiệu. Từ kết quả nghiên cứu, luận văn sẽ thảo luận những gợi ý cho nhà đầu tư trong việc phân tích, lựa chọn cổ phiếu và hình thành DMĐT hiệu quả nhất.
Từ đó luận văn sẽ đưa ra kiến nghị cho cơ quan quan quản lý thị trường trong trong điều hành thị trường hiệu quả cũng như một số gợi ý cho các doanh nghiệp niêm yết. Cuối cùng chương này cũng nêu lên những hạn chế của luận văn và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo trong tương lai. z 9 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ CỔ PHIẾU GIÁ TRỊ VÀ DMĐT CỔ PHIẾU GIÁ TRỊ Chương 2 sẽ trình bày sơ lược về lý thuyết thị trường hiệu quả và đầu tư giá trị. Cơ sở lý thuyết liên quan đến cổ phiếu giá trị bao gồm khái niệm, tiêu chí xác định cổ phiếu giá trị.
Bên cạnh đó, nội dung chương 2 cũng khái quát lại những nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến cổ phiếu giá trị ở các thị trường phát triển, thị trường đang phát triển của các học giả khác nhau trên thế giới.1 Lý thuyết thị trường hiệu quả và đầu tư giá trị Một trong những lý thuyết tài chính quan trọng của thế kỉ 20 đó chính là lý thuyết về thị trường hiệu quả (Theory of Efficient Market). Lý thuyết này lần đầu được giới thiệu bởi Fama2 vào năm 1970 trong nghiên cứu Thị trường vốn hiệu quả: Xem xét trên khía cạnh lí thuyết và thực tế.1 Lý thuyết thị trường hiệu quả Một thị trường gọi là hiệu quả là thị trường mà trong đó doanh nghiệp đưa ra các quyết định về đầu tư, các nhà đầu tư lựa chọn các loại chứng khoán đại diện cho quyền sở hữu doanh nghiệp hoạt động dưới giả định giá chứng khoán bất kì thời điểm nào cũng đã phản ánh đầy đủ tất cả thông tin hiện có. Một thị trường mà giá luôn phản ánh đầy đủ các thông tin được gọi là “hiệu quả” (Fama, 1970). Bên cạnh đó theo Basu (1977), trong một thị trường vốn hoàn hảo, giá của chứng khoán phản ánh đầy đủ các thông tin liên quan đến cổ phiếu một cách nhanh chóng và chính xác do đó cung cấp những ước lượng chuẩn xác về giá của chứng khoán.
Theo Damodaran (2002), khi nói đến một thị trường hiệu quả, người ta phải hiểu ngay rằng không một nhóm nhà đầu tư nào có thể liên tục chiến thắng được thị trường chỉ với 2 Eugene Fama (sinh năm 1939) là một giáo sư kinh tế Mỹ. Năm 2013, ông cùng các nhà kinh tế học người Mỹ Lars Peter Hansen và Robert J. Shiller giành Giải Tưởng niệm Nobel trong Khoa học Kinh tế "vì những phân tích đầy kinh nghiệm của họ về giá tài sản". Trong đó Fama đạt giải Nobel nhờ công trình “Lý thuyết thị trường hiệu quả”.
Bắt đầu từ thập niên 1960, Eugene Fama và một số cộng sự đã chứng minh rằng giá chứng khoán rất khó đoán trong ngắn hạn, và rằng tin tức mới có ảnh hưởng cực kỳ nhanh chóng tới giá cả. z 10 một chiến lược đầu tư chung chung. Ngoài ra, khái niệm thị trường hiệu quả cũng mang những hàm ý bất lợi khác đối với nhiều chiến lược đầu tư: Thứ nhất, trong một thị trường hiệu quả, các nghiên cứu và quá trình định giá vốn cổ phần tiêu tốn rất nhiều tiền của nhưng lại không đem về một xu lợi nhuận nào. Cơ hội để tìm ra một cổ phiếu bị định giá thấp hơn thực tế là 50 – 50, có nghĩa là những sai lệch của giá cả thị trường hoàn toàn ngẫu nhiên.
Trong tình huống lạc quan nhất, lợi nhuận tự việc thu thập thông tin và định giá vốn cổ phần cũng chỉ có thể bù đắp lại những chi phí bỏ ra cho việc này mà thôi. Thứ hai, trong một thị trường hiệu quả, một chiến lược đa dạng hóa ngẫu nhiên tất cả các cổ phiếu hoặc chỉ dựa trên chỉ số thị trường với chi phí thông tin bằng 0 và chi phí thực hiện tối thiểu sẽ hiệu quả hơn so với một vài chiến lược đòi hỏi chi phí lớn. Ở đây, các nhà quản lí danh mục đầu tư và chiến lược gia đầu tư sẽ không phải là người tạo ra giá trị gia tăng thêm. Thứ ba, trong một thị trường hiệu quả, một chiến lược tối thiểu hóa giao dịch (ví dụ như tạo ra một danh mục và không giao dịch nếu không cần tiền mặt) sẽ hiệu quả hơn một chiến lược đòi hỏi phải giao dịch thường xuyên.
Tóm lại, một thị trường hiệu quả khi nó phản ánh tất cả những thông tin liên quan đến chứng khoán, nói cách khác giá chứng khoán trong một thị trường hiệu quả là hoàn toàn hợp lí. Trong một thị trường hiệu quả, nhà đầu tư rất khó để chiến thắng được thị trường. Fama (1970) phân loại thị trường hiệu quả thành 3 cấp độ: Hiệu quả dạng yếu, Hiệu quả dạng trung bình và Hiệu quả dạng mạnh Thị trường hiệu quả dạng yếu (Weak Form) là thị trường trong đó giá hiện tại đã phản ánh thông tin quá khứ. Điều này có nghĩa là những phân tích kĩ thuật và đồ thị chỉ sử dụng giá trong quá khứ sẽ không hữu ích trong việc tìm kiếm các chứng khoán bị định giá thấp.
z 11 Thị trường hiệu quả dạng trung bình (Semi Strong Form) là thị trường trong đó giá phản ánh tất cả các thông tin đã công bố như các BCTC và thông tin công bố. Do vậy không có cách nào để các nhà đầu tư có thể khai thác các thông tin này nhằm tìm kiếm những cổ phiếu bị định giá thấp. Thị trường hiệu quả dạng mạnh (Strong Form) là thị trường trong đó giá phản ánh tất cả thông tin liên quan đến doanh nghiệp mà nhà đầu tư tiếp cận kể cả các thông tin chưa công bố, trong thị trường hiệu quả dạng mạnh chắc chắn nhà đầu tư sẽ không bao giờ tìm được cổ phiếu bị định giá thấp. Như vậy, lý thuyết thị trường hiệu quả đã chỉ ra biến động giá cổ phiếu là ngẫu nhiên.
Thị trường có thể đạt hiệu quả ở các mức độ khác nhau. Việc một nhà đầu tư có thể chiến thắng thị trường hay nói các khác là tìm kiếm được lợi nhuận vượt trội từ chiến lược phân tích những thông tin công bố gần như là không thể. Tuy vậy, trên thực tế và nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng nhà đầu tư vẫn có thể sử dụng phân tích cơ bản dựa vào thông tin công bố của doanh nghiệp để lựa chọn chứng khoán và có thể chiến thắng được thị trường. Một trong những ứng dụng của phân tích cơ bản là phương pháp đầu tư giá trị trên cơ sở lựa chọn và đầu tư vào các cổ phiếu giá trị.2 Đầu tư giá trị Đầu tư giá trị là một phương pháp đầu tư hiện nay đã được sử dụng bởi nhiều nhà đầu tư cá nhân cũng như tổ chức trên thế giới.
Khởi xướng của trường phái đầu tư này là Benjamin Graham cách đây hơn 70 năm. Cụ thể, sự ra đời của khái niệm đầu tư giá trị gắn liền với tác phẩm Phân tích chứng khoán mà Benjamin viết với cộng sự David Dodd xuất bản vào năm 1934. Phương pháp đầu tư giá trị của Gramham tập trung vào khía cạnh giá trị nội tại của cổ phiếu được thể hện qua tài sản, thu nhập, cổ tức và sức mạnh tài chính. Tập trung vào giá trị nội tại sẽ giúp ngăn cản việc nhà đầu tư khỏi sự sa đà vào những sai lầm của thị trường trong những giai đoạn thị trường quá bi quan hoặc hưng phấn (Scott, 1996).
z 12 Theo Damodaran (2003), trong trường phái đầu tư giá trị, các nhà đầu tư giá trị có nhiều cách khác nhau để lựa chọn ra các cổ phiếu tốt đang bị thị trường định giá dưới giá trị nội tại. Thứ nhất, sử dụng các tiêu chí cụ thể để sàng lọc ra những cổ phiếu mà nhà đầu tư tư xem là dưới giá trị và đầu tư vào những cổ phiếu này trong một khoảng thời gian dài. Phương pháp này được xem là đơn giản nhất trong đầu tư giá trị. Những tiêu chí thường được sử dụng trong bộ lọc này là P/E, BM (P/B), tỷ suất cổ tức… Những cổ phiếu thỏa mãn các tiêu chí của bộ lọc là những cổ phiếu giá trị, đáng để đầu tư.