Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu Chương 2: Tổng quan lý luận Chương 3: Mô hình nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Kết luận và khuyến nghị TÓM TẮT CHƢƠNG 1 Trong chương này tác giả đã trình bày tính cấp thiết của đề tài, qua đó nêu lên được sự cần thiết phải nghiên cứu đề tài. Nội dung chương cũng xác định được mục tiêu, đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài, tóm tắt bố cục của đề tài. 4 CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ LUẬN 2.1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHỈ SỐ GIÁ CHỨNG KHOÁN 2.1 Khái niệm Chỉ số giá chứng khoán là số tương đối biểu hiện (bằng điểm), bằng sự tương quan so sánh giữa giá cổ phiếu bình quân kỳ nghiên cứu (hiện tại) với giá bình quân kỳ gốc đã chọn (thường coi là 100 hoặc 1000). Chỉ số giá chứng khoán được cấu thành bởi 2 yếu tố là loại chứng khoán (trọng số) và giá của từng chứng khoán cấu thành.
Chỉ số giá chứng khoán là một giá trị thống kê phản ánh tình hình của thị trường chứng khoán. Chỉ số giá chứng khoán được tổng hợp từ danh mục các chứng khoán theo phương pháp tính nhất định. Thông thường, danh mục sẽ bao gồm các chứng khoán có những đặc điểm chung như cùng niêm yết tại cùng một sở giao dịch, cùng ngành hay cùng mức vốn hóa thị trường. Ý nghĩa Chỉ số giá chứng khoán phản ánh xu hướng vận động chung của toàn bộ thị trường nên nó là một thông tin không thể thiếu trong bất cứ một thông tin báo cáo nào về hoạt động giao dịch trên thị trường chứng khoán.
Chỉ số giá chứng khoán cung cấp thông tin cho các nhà đầu tư đánh giá và phân tích thị trường chứng khoán một cách tổng quát khi cho thấy tình hình biến động giá chứng khoán cũng như của cả thị trường, là cơ sở để đưa ra những quyết định đầu tư mang tính chiến lược và dài hạn chứ không chỉ nhằm mục đích kiếm lời từ những biến động giá tạm thời. Đây là thông tin rất quan trọng đối với các công ty niêm yết, đối với nhà đầu tư và việc đánh giá thị trường chứng khoán.2 Phƣơng pháp tính chỉ số giá chứng khoán Phƣơng pháp Passcher Đây là loại chỉ số giá thông dụng nhất và nó là chỉ số giá bình quân gia quyền giá trị với quyền số là số lượng chứng khoán niêm yết thời kì tính toán: n (q xp ) t t I P in1 (q xp ) t 1 t 0 5 Trong đó: I p : chỉ số giá Passcher p t : giá thời kỳ t p 0 : giá thời kỳ gốc q t : khối lượng (quyền số) thời điểm tính toán (t) hoặc cơ cấu của khối lượng thời điểm tính toán i: số cổ phiếu i tham gia tính chỉ số giá n: số lượng cổ phiếu đưa vào tính chỉ số Chỉ số giá bình quân Passcher là chỉ số giá bình quân gia quyền giá trị lấy quyền số là quyền số thời kỳ tính toán, vì vậy kết quả tính toán sẽ phụ thuộc vào cơ cấu quyền số (cơ cấu chứng khoán niêm yết) vào thời kỳ tính toán. Các chỉ số KOSPI (Hàn Quốc), S&P 500 (Mỹ), ET-SE 100 (Anh), TOPIX (Nhật), CAC (Pháp), TSE (Đài Loan), Hangseng (HongKong)… và Vn-Index của Việt Nam áp dụng phương pháp này để tính chỉ số giá cổ phiếu. Phƣơng pháp Laspeyres Chỉ số giá bình quân Laspeyres là chỉ số giá bình quân gia quyền giá trị, lấy quyền số là số cổ phiếu nêm yết thời kỳ gốc.
Như vậy, kết quả tính sẽ phụ thuộc vào cơ cấu quyền số thời kỳ gốc. n (q xp ) 0 t IL i 1 n (q xp ) i 1 0 0 Trong đó: I L : chỉ số giá bình quân Laspeyres p t : giá thời kỳ t p 0 : giá thời kỳ gốc 6 q 0 : khối lượng (quyền số) thời kỳ gốc hoặc cơ cấu của khối lượng (số lượng cổ phiếu niêm yết) thời kỳ gốc. i: số cổ phiếu i tham gia tính chỉ số giá n: số lượng cổ phiếu đưa vào tính chỉ số Có ít quốc gia sử dụng phương pháp này, có thể tham khảo chỉ có chỉ số FAZ, DAX của Đức. Chỉ số giá bình quân Fisher Chỉ số bình quân Fisher là chỉ số bình quân nhân giữa chỉ số giá Passcher và chỉ số giá Laspayres I F (I P xI L ) Trong đó: I F : là chỉ số giá Fisher I P : là chỉ số giá Passcher I L : là chỉ số giá bình quân Laspayres Theo thống kê chưa thấy quốc gia nào sử dụng phương pháp tính chỉ số giá này.
Phƣơng pháp số bình quân đơn giản Phương pháp này đơn giản là lấy tổng thị giá của chứng khoán chia cho số chứng khoán tham gia tính toán: n p i I P i 1 n Trong đó: I P : giá bình quân p i : giá của chứng khoán i n: số lượng chứng khoán đưa vào tính toán 7 Các chỉ số Dow Jone của Mỹ, Nikkei 225 của Nhật, MBI của Ý áp dụng phương pháp này. Phương pháp này phù hợp khi giá của các cổ phiếu tham gia niêm yết đồng đều hay độ lệch chuẩn thấp. Phƣơng pháp bình quân nhân đơn giản n IP p i 1 i Phương pháp này nên áp dụng khi độ lệch chuẩn giá các chứng khoán khá cao. Các chỉ số Value line của Mỹ, FT 30 của Anh áp dụng phương pháp bình quân nhân đơn giản này.2 CÁC YẾU TỐ KINH TẾ VĨ MÔ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHỈ SỐ GIÁ CHỨNG KHOÁN 2.1 Tỷ giá hối đoái Tỷ giá hối đoái giữa hai nước là mức giá tại đó đồng tiền của một nước có thể biểu hiện qua đồng tiền của nước khác.
Trong điều kiện giao thương và đầu tư “không biên giới” như hiện nay, tỷ giá có vai trò đáng kể đến thương mại quốc tế và dòng vốn đầu tư nước ngoài, vì vậy khi xảy ra rủi ro tỷ giá, lợi nhuận kinh doanh và hiệu quả đầu tư sẽ bị ảnh hưởng, từ đó tác động đến thị trường chứng khoán. Theo các lý thuyết truyền thống, tỷ giá hối đoái là yếu tố tác động trực tiếp đến lợi nhuận của các doanh nghiệp và sức cạnh tranh của các doanh nghiệp nội địa với doanh nghiệp nước ngoài. Đối với các doanh nghiệp nhập khẩu, việc giảm giá đồng nội tệ sẽ làm tăng giá nguyên liệu, hàng hóa nhập khẩu tính bằng đồng nội tệ, từ đó làm giảm lợi nhuận và giảm lợi thế cạnh tranh với hàng hóa trong nước. Ngược lại, đối với các doanh nghiệp xuất khẩu, việc giảm giá đồng nội tệ sẽ tạo lợi thế cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài.
Khi tỷ giá tăng lên tức đồng nội tệ giảm giá sẽ thu hút một lượng vốn đầu tư nước ngoài, vì cùng một lượng ngoại tệ sẽ đổi được nhiều nội tệ hơn để đầu tư, từ đó giúp thị trường chứng khoán tăng điểm. Tuy nhiên, nếu đồng nội tệ tiếp tục mất giá liên quan đến sự bất ổn của nền kinh tế thì các nhà đầu tư sẽ trở nên e ngại vì sợ rủi ro 8 tỷ giá, hoạt động đầu tư sẽ không còn hấp dẫn, thị trường chứng khoán cũng sẽ bị ảnh hưởng. Có nhiều nghiên cứu đã cố gắng tìm ra mối quan hệ giữa giá chứng khoán và tỷ giá tại các quốc gia trên thế giới với nhiều TTCK khác nhau. Theo Dornbusch & Fisher (1980) có mối quan hệ cùng chiều giữa tỷ giá và giá chứng khoán; theo Ong & Izan (1999), có một mối liên hệ yếu giữa tỷ giá và giá chứng khoán Úc cũng như các nước G7; Bahmani – Oskooee và Sohrabian (1992) lại cho rằng không có mối liên hệ dài hạn giữa giá chứng khoán và tỷ giá tại Mỹ; Tabak (2006) cho thấy tỷ giá và giá chứng khoán có mối tương quan ngược chiều.
Tại Việt Nam, kết quả nghiên cứu của Nguyễn Minh Kiều và cộng sự (2013) không tìm thấy mối liên hệ nào giữa tỷ giá và giá chứng khoán, trong khi kết quả của Phan Thị Bích Nguyệt và Phạm Dương Phương Thảo (2013) thì tác động này là ngược chiều.2 Giá dầu Dầu là ngành năng lượng quan trọng hàng đầu trên thế giới vì nó cần thiết cho các hoạt động sản xuất. Các nước càng gia tăng tốc độ phát triển thì giá dầu lại càng được theo dõi sát sao vì nó liên quan đến chi phí đầu vào của nền kinh tế. Một số quốc gia trên thế giới đã chuyển từ nước xuất khẩu dầu sang nhập khẩu dầu mỏ trong những năm gần đây vì nhu cầu năng lượng tăng cao, mặc dù các nền kinh tế lớn đã hạn chế bớt việc tiêu thụ dầu mỏ bằng cách thay thế các nguồn năng lượng khác, nhưng nhu cầu dầu mỏ vẫn tiếp tục tăng cao tại các nước thị trường mới nổi. Nghiên cứu của Jones và Kaul (1996) kiểm tra ảnh hưởng của giá dầu lên thu nhập chứng khoán ở Mỹ (1947 – 1991), Nhật (1970 – 1991) và Anh (1962 – 1981) đã chỉ ra tác động trái chiều của giá dầu lên thu nhập chứng khoán ở các quốc gia này.
Nghiên cứu của Goswami và Jung (1997) tại Hàn Quốc cũng cho rằng giá dầu ảnh hưởng tiêu cực đến giá chứng khoán, nghiên cứu của Tunali (2010) tại Thổ Nhĩ Kỳ lại cho kết quả ngược lại mặc dù cả hai nước này đều nhập khẩu dầu thô. Ngoài ra có một số nghiên cứu khác cho ra hai kết quả khác nhau như nghiên cứu của Gan và cộng sự (2006) cho rằng giá dầu sẽ ảnh hưởng tích cực tới chỉ số giá chứng khoán ở các nước xuất khẩu dầu thô, và tác động tiêu cực đến các nước nhập khẩu dầu thô. 9 Về lý thuyết, giá dầu tăng dẫn đến chi phí đầu vào của các ngành kinh tế tăng làm cho hoạt động đầu tư mở rộng của doanh nghiệp bị ảnh hưởng, lợi nhuận kỳ vọng của doanh nghiệp và niềm tin của nhà đầu tư về giá trị doanh nghiệp trong tương lai sụt giảm và kết quả là sụt giảm giá chứng khoán. Tuy nhiên nếu đứng ở góc độ các doanh nghiệp hoạt động khai thác dầu mỏ và các hoạt động dịch vụ liên quan, khi giá dầu tăng lên giúp hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp này phát triển hơn, góp phần gia tăng lợi nhuận của công ty và kỳ vọng tăng giá chứng khoán trong tương lai.
Như theo khảo sát của El – Sharif (2005) về nhóm chứng khoán của các công ty khí đốt – dầu mỏ ở Anh (1989 – 2001) cũng phát hiện sự gia tăng trong giá dầu sẽ làm tăng thu nhập của các công ty này.