Nghiên cứu tác động của các yếu tố vĩ mô đến thị trường chứng khoán Việt Nam

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu tác động của các yếu tố vĩ mô đến thị trường chứng khoán việt nam, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất giải pháp cải thiện thực tiễn.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2018

209
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

0.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

0.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

0.3. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

0.4. PHẠM VI VÀ ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU

0.5. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

0.6. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ GIÁ TRỊ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN VÀ CÁC YẾU TỐ VĨ MÔ TÁC ĐỘNG ĐẾN THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN

1.1. Cơ sở lý luận về thị trƣờng chứng khoán

1.1.1. Khái niệm và bản chất thị trƣờng chứng khoán

1.1.2. Lịch sử hình thành và phát triển của thị trƣờng chứng khoán

1.1.3. Vai trò thị trƣờng chứng khoán

1.1.4. Phân loại thị trƣờng chứng khoán

1.1.5. Chỉ số giá chứng khoán và VN-Index

1.2. Tác động của các yếu tố vĩ mô đến thị trƣờng chứng khoán

1.2.1. Tăng trƣởng kinh tế

1.2.2. Tỷ giá hối đoái

1.2.3. Giá dầu thô thế giới

1.2.4. Giá vàng thế giới

1.2.5. Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài

1.3. Tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm về sự tác động của các yếu tố vĩ mô đến thị trƣờng chứng khoán

1.3.1. Tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới về sự tác động của các yếu tố vĩ mô đến thị trƣờng chứng khoán

1.3.2. Tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm ở Việt Nam về sự tác động của các yếu tố vĩ mô đến thị trƣờng chứng khoán

1.3.3. Đánh giá và kết luận rút ra từ các nghiên cứu thực nghiệm về sự tác động của các yếu tố vĩ mô đến thị trƣờng chứng khoán

2. CHƯƠNG 2: MÔ HÌNH VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU SỰ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC YẾU TỐ VĨ MÔ ĐẾN THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN

2.1. Mô hình nghiên cứu sự tác động của các yếu tố vĩ mô đến thị trƣờng chứng khoán

2.2. Khung phân tích. Mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

2.3. Lý do lựa chọn mô hình nghiên cứu

2.4. Dữ liệu nghiên cứu

2.5. Phƣơng pháp nghiên cứu

2.6. Phƣơng pháp phân tích định lƣợng sử dụng mô hình VECM

2.7. Quy trình ƣớc lƣợng mô hình VECM

3. CHƯƠNG 3: TÁC ĐỘNG CỦA CÁC YẾU TỐ VĨ MÔ ĐẾN THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN TẠI VIỆT NAM

3.1. Tổng quan về thị trƣờng chứng khoán Việt Nam

3.2. Quy mô thị trƣờng chứng khoán

3.3. Diễn biến thị trƣờng chứng khoán qua các năm

3.4. Thị trƣờng chứng khoán Việt Nam trong mối tƣơng quan với các nhân tố vĩ mô

4. CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA CÁC YẾU TỐ VĨ MÔ ĐẾN THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN

4.1. Thống kê mô tả các biến

4.2. Kiểm định tính dừng của chuỗi dữ liệu thời gian

4.3. Lựa chọn độ trễ tối ƣu

4.4. Kiểm định đồng liên kết

4.5. Mô hình vector hiệu chỉnh sai số VECM

4.6. Mối quan hệ dài hạn giữa các biến

4.7. Mối quan hệ ngắn hạn giữa các biến

4.8. Kiểm định mối quan hệ nhân quả Granger

4.9. Kiểm định sự phù hợp của mô hình

4.10. Hàm phản ứng xung

4.11. Phân tích phân rã phƣơng sai

5. CHƯƠNG 5: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

5.1. Quan điểm, mục tiêu và định hƣớng phát triển thị trƣờng chứng khoán của Đảng và nhà nƣớc

5.2. Giải pháp phát triển thị trƣờng chứng khoán Việt Nam

5.3. Nhóm giải pháp vĩ mô

5.4. Nhóm giải pháp vi mô

5.5. Kiến nghị chính sách nhằm phát triển thị trƣờng chứng khoán Việt Nam

5.5.1. Kiến nghị với Chính phủ

5.5.2. Kiến nghị với Bộ tài chính

5.5.3. Kiến nghị với Ủy ban Chứng khoán Nhà nƣớc

5.6. Hạn chế của đề tài và hƣớng nghiên cứu tiếp theo

KẾT LUẬN CHUNG

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tác động của yếu tố vĩ mô đến thị trường chứng khoán

Thị trường chứng khoán Việt Nam, một phần quan trọng của hệ thống tài chính, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ các yếu tố vĩ mô. Nghiên cứu này chỉ ra rằng sự biến động của kinh tế vĩ mô có thể tác động trực tiếp đến giá cổ phiếu và chỉ số chứng khoán. Các yếu tố như tổng sản phẩm quốc nội (GDP), chỉ số giá tiêu dùng (CPI), lãi suất, và tỷ giá hối đoái đều có vai trò quan trọng trong việc định hình xu hướng của thị trường chứng khoán. Đặc biệt, sự tăng trưởng của GDP thường dẫn đến sự gia tăng giá cổ phiếu, trong khi lãi suất cao có thể gây áp lực giảm giá cổ phiếu. Điều này cho thấy mối quan hệ phức tạp giữa các yếu tố vĩ mô và thị trường tài chính.

1.1. Tăng trưởng kinh tế và tác động đến thị trường chứng khoán

Tăng trưởng kinh tế là một trong những yếu tố chính ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán. Khi nền kinh tế phát triển, các doanh nghiệp có khả năng tạo ra lợi nhuận cao hơn, từ đó thúc đẩy giá cổ phiếu tăng. Nghiên cứu cho thấy rằng sự gia tăng GDP có mối quan hệ dương với giá cổ phiếu. Ngược lại, trong thời kỳ suy thoái, giá cổ phiếu thường giảm do lợi nhuận doanh nghiệp sụt giảm. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc theo dõi các chỉ số kinh tế vĩ mô để dự đoán xu hướng của thị trường chứng khoán.

1.2. Lãi suất và ảnh hưởng đến giá cổ phiếu

Lãi suất là một yếu tố vĩ mô quan trọng khác có tác động lớn đến thị trường chứng khoán. Khi lãi suất tăng, chi phí vay mượn của doanh nghiệp cũng tăng, dẫn đến giảm lợi nhuận và giá cổ phiếu. Nghiên cứu cho thấy rằng lãi suất cơ bản có mối quan hệ âm với giá cổ phiếu. Điều này có nghĩa là khi lãi suất tăng, giá cổ phiếu có xu hướng giảm. Các nhà đầu tư cần chú ý đến chính sách chính sách tài chính của chính phủ để đưa ra quyết định đầu tư hợp lý.

1.3. Tỷ giá hối đoái và tác động đến thị trường chứng khoán

Tỷ giá hối đoái cũng là một yếu tố vĩ mô có ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán. Biến động tỷ giá có thể tác động đến lợi nhuận của các công ty xuất khẩu và nhập khẩu, từ đó ảnh hưởng đến giá cổ phiếu. Nghiên cứu cho thấy rằng tỷ giá hối đoái có thể có tác động tích cực hoặc tiêu cực đến giá cổ phiếu tùy thuộc vào tình hình kinh tế và chính sách thương mại. Việc theo dõi tỷ giá hối đoái là cần thiết để hiểu rõ hơn về xu hướng của thị trường tài chính.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu cho cuộc Đại khủng hoảng trong hệ thống TTCK toàn cầu với sự suy giảm 50% của chỉ số Dow Jones Industrial Average trong vòng một ngày [65]. Cuộc khủng hoảng này kết thúc đƣợc cho rằng nhờ vào việc tăng cơ hội làm việc và nhu cầu trang bị vũ khí cho cuộc chiến tranh thế giới thứ hai. Vừa mới chứng kiến sự phục hồi và phát triển, TTCK lại tiếp tục lâm vào tình trạng suy thoái khi cuộc khủng hoảng dầu mỏ bùng nổ nào năm 1973 [100]. Điều này đã dẫn đến cuộc suy thoái của TTCK vào năm 1974 tại Anh với sự mất giá 73% của chỉ số FT30 và là ngòi châm cho cuộc khủng hoảng TTCK toàn cầu.

TTCK đƣợc phục hồi và phát triển vào những năm sau đó cho đến khi đối mặt với cuộc chấn động mới đƣợc biết đến là ngày thứ hai đen tối (19/10/1987) bắt đầu tại Mỹ với sự sụt giảm 22.6% của chỉ số Dow Jones Industrial Average với đỉnh điểm là 45.8% tại Hong Kong. Với nguyên nhân đƣợc biết đến là xuất phát từ việc tranh chấp chính sách tiền tệ giữa các nƣớc công nghiệp phát triển G7. Mỹ muốn nâng giá đồng Dollar và kiểm soát lạm phát bằng việc thực thi chính sách thắt chặt tiền tệ đã gây ra sự khủng hoảng tại Hong Kong và lan rộng ra toàn thế giới [80]. Sau một thời gian dài hồi phục và phát triển kể từ khủng hoảng gần nhất vào năm 1987, TTCK lại đối mặt với cuộc khủng hoảng mới nào năm 2008 với sự khủng hoảng tài chính bùng phát tại Mỹ.

Nguyên nhân đƣợc các nhà nghiên cứu cho thấy là từ các khoảng tín dụng dƣới chuẩn do áp lực cho vay khi nguồn vốn dƣ thừa của các trung gian tài chính cùng với việc bong bóng nhà đất hình thành. Giai đoạn 2004-2006 lãi suất FED đã tăng từ 1% lên 5.25% làm cho áp lực trả nợ tăng cao đã khiến cho thị trƣờng bất động sản đóng băng. Dẫn đến các khoản nợ khó có thể thu hồi đƣợc, để khắc phục điều này các định chế tài chính đã mua lại và phân loại các món nợ sau đó z 6 đóng gói chúng thành một loại tài sản phái sinh dƣới dạng trái phiếu đƣợc đảm bảo bằng các khoản nợ dƣới chuẩn trên cùng với sự sẵn sàng bảo lãnh của các công ty bảo hiểm đã góp phần tạo tính thanh khoản cao cho nó đƣợc lƣu hành. Chiến lƣợc này đƣợc đƣa ra nhằm hạn chế rủi ro và tạo thanh khoản cho các khoản nợ vay với mục đích mua bất động sản nhƣng đã gây ra tác động ngƣợc bởi chính yếu tố nội tại của các khoản vay đó – dƣ nợ dƣới chuẩn.

Cuộc khủng hoảng từ đó đã bùng phát tại Mỹ và lan rộng ra toàn thế giới khiến hàng loạt các doanh nghiệp phá sản cũng nhƣ tỷ lệ lạm phát tăng cao [101]. Những năm sau đó, TTCK đƣợc phục hồi và hoạt động ổn định đến hiện nay. Lịch sử hình thành và phát triển của thị trƣờng chứng khoán ở Việt Nam TTCK thế giới đã hình thành trong khoảng thời gian dài với nhiều tác động tích cực vào sự tăng trƣởng của nền kinh tế nƣớc sở tại nói riêng và nền kinh tế thế giới nói chung. Tại Việt Nam, TTCK chỉ mới đƣợc thành lập trong khoảng thời gian gần 20 năm cũng đã chứng kiến các giai đoạn thăng trầm khác nhau.

Sau đây tác giả sẽ giới thiệu về lịch sử hình thành và phát triển của TTCK Việt Nam cũng nhƣ sự ảnh hƣởng bởi biến động của TTCK thế giới. Lịch sử hình thành TTCK Nhƣ sự phát triển tất yếu của hoạt động sản xuất và lƣu thông hàng hoá, TTCK Việt Nam đã bƣớc đầu đƣợc hình thành với sự ra đời của UBCKNN vào 28/11/1996 [7]. Từ đó đã tạo nên bƣớc đệm về mặt quản lý nhà nƣớc trong việc tạo điều kiện thuận lợi cho sự hình thành của TTCK với 2 Trung tâm Giao dịch Chứng khoán (TTGDCK): Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội vào ngày 11/07/1998. Theo quyết định thành lập thì cả hai TTGDCK đều là đơn vị sự nghiệp có thu, có tƣ cách pháp nhân, có trụ sở, con dấu và tài khoản riêng, kinh phí hoạt động do ngân sách Nhà nƣớc cấp [36].

Hai năm sau kể từ khi có quyết định thành lập, TTGDCK Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm đầu tiên bắt đầu hoạt động với vai trò của một TTCK và tiến hành tổ chức phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28/07/2000 [82] với hai mã cổ phiếu REE - công ty sản z 7 xuất các sản phẩm cơ điện, điều hòa, thi công công trình và SAM - hoạt động sản xuất dây cáp và vật liệu viễn thông lúc bấy giờ [66]. TTGDCK Thành phố Hồ Chí Minh hoạt động trong khoảng thời gian hơn 5 năm thì vào ngày 08/03/2005, TTCK Việt Nam chứng kiến sự khai trƣơng hoạt động của TTGDCK Hà Nội (HASTC) trong vai trò vận hành thị trƣờng cổ phiếu niêm yết. Ngày 20/06/2006 đánh dấu cột mốc cho TTGDCK Hà Nội khi Bộ tài chính ban hành quyết định tập trung đấu thầu TPCP tại TTGDCK Hà Nội [2]. Tính đến thời điểm này thì cả hai TTGDCK đều đảm nhận vai trò đăng ký, lƣu ký, bù trừ và thanh toán chứng khoán của các công ty niêm yết tại phòng giao dịch của mình và bắt đầu chuyển giao vai trò này cho Trung tâm Lƣu ký Chứng khoán (TTLKCK) vào ngày 01/05/2006 theo quyết định thành lập Trung tâm Lƣu ký Chứng khoán của Thủ tƣớng ký ngày 27/07/2005 [37].

Sau khi hình thành và phát triển, cả 2 TTGDCK đều hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình đƣợc giao. Tuy nhiên với sự phát triển nhanh chóng của thị trƣờng và yêu cầu đổi mới nền kinh tế bên cạnh việc tái cơ cấu các doanh nghiệp thì ngày 11/05/2007 Thủ tƣớng ban hành quyết định chuyển TTGDCK Thành phố Hồ Chí Minh thành Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh – HOSE theo mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên sở hữu 100% vốn nhà nƣớc [38]. Với việc chuyển đổi này đã mạng lại cho HOSE vị trí tƣơng xứng với các SGDCK khác trên thế giới và nâng cao tầm ảnh hƣớng của TTCK Việt Nam trong quan hệ hợp tác quốc tế. Với sự thí điểm đầu tiên và thành công của HOSE, ngày 02/01/2009 Thủ tƣớng tiếp tục ban hành quyết định chuyển TTGDCK Hà Nội thành Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội – HNX với mô hình hoạt động giống với HOSE [39].

Lần này, HNX có sự khác biệt so với HOSE đó là đảm nhận nhiệm vụ vận hành thị trƣờng đăng ký giao dịch chứng khoán công ty đại chúng chƣa niêm yết (UPCoM). Nhƣ vậy, HNX đƣợc khai trƣơng cùng với sự ra đời mới của thị trƣờng UPCoM vào ngày 24/06/2009 đã đánh dấu cho việc mở rộng kiểm soát của nhà nƣớc trong việc hạn chế thị trƣờng phi tập trung. Lịch sử phát triển TTCK Kể từ khi bắt đầu đƣợc thành lập, chu kỳ thanh toán của TTCK đƣợc quy định là vào 15 giờ ngày T+3 đƣợc xem nhƣ là T+4 vì đã cuối ngày giao dịch nên khách hàng z 8 không thể bán số cổ phiếu mình vừa sở hữu. Chu kỳ thanh toán của nƣớc ta giống với Mỹ trong khi các nƣớc khác phổ biến là T+3 và số ít là T+2.

Kể từ ngày 04/09/2012, chu kỳ thanh toán đƣợc quy định chuyển về 9 giờ sáng ngày T+3 giúp cho các doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân có thể giao dịch chứng khoán của mình nhanh hơn tạo dòng lƣu chuyển vốn tối ƣu. Và quy định đƣợc áp dụng hiện nay kể từ ngày 1/1/2016 là T+2 [68]. Với lịch sử hình thành và phát triển của mình, TTCK đã trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm. Đặc biệt là sự ảnh hƣởng của khủng hoảng tài chính thế giới 2008 đã khiến cho TTCK trong nƣớc chứng kiến các biến động mạnh.

Cụ thể, chỉ số giá chứng khoán liên tục giảm trong năm 2008 và giá trị vốn hoá thị trƣờng giảm hơn 50% xuống còn 18% giá trị tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product – GDP) [69]. Đặc biệt là sự phá sản của nhiều công ty liên quan đến lĩnh vực bất động sản đã làm giảm số lƣợng công ty niêm yết trên sàn một cách đáng kể. Với các nỗ lực của Chính phủ trong việc khắc phục khủng hoảng thông qua chính sách thắt chặt tài khoá và tiền tệ cùng với sự hồi phục của thị trƣờng thế giới từ quý II/2009 thì TTCK Việt Nam bắt đầu chứng kiến dấu hiệu hồi phục với số lƣợng các công ty niêm yết tăng trở lại. Giá trị vốn hoá cuối năm 2009 đạt 620,000 tỷ động tƣơng đƣơng với 38% GDP [99].

Với các điều kiện về quản lý vĩ mô và các yếu tố khác, Việt Nam đón nhận sự tăng trƣởng mạnh mẽ về khối lƣợng và quy mô thị trƣờng trong khoảng thời gian gần 20 năm đi vào hoạt động. Nhằm phát triển thị trƣờng chứng khoán ổn định và vững chắc, ngày 01/03/2012 Thủ tƣớng đã ban hành quyết định “Phê duyệt chiến lƣợc phát triển thị trƣờng chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020”. Một trong những mục tiêu mà quyết định đặt ra là phấn đấu đƣa tổng giá trị vốn hóa thị trƣờng cổ phiếu vào năm 2020 đạt khoảng 70% GDP [40]. Tuy nhiên, kết quả đáng ngạc nhiên đã xảy ra khi giá trị vốn hoá thị trƣờng đạt gần 70% vào cuối năm 2016 và vƣợt lên 73.6% vào cuối tháng 1 năm 2017.

Cụ thể, theo số liệu thống kê của UBCKNN thì giá trị vốn hoá TTCK vào những năm đầu thành lập chỉ đạt dƣới 1% GDP thì đến nay, tính đến ngày 28/02/2018 TTCK đã đạt 110.99% GDP tƣơng ứng 4,997,533 tỷ đồng. Trong đó, giá trị cao nhất thuộc về SGDCK Thành phố Hồ Chí Minh với giá trị 3,039,209 tỷ đồng z 9 chiếm hơn 60% vốn hoá thị trƣờng [93]. Nhƣ vậy, thị trƣờng đã có sự đột phá trong tăng trƣởng và khẳng định vị trí, vai trò của mình trong nền kinh tế - dẫn vốn trung và dài hạn. Dựa theo số liệu thống kê của UBCKNN ta có thể thấy đƣợc sự phát triển mạnh mẽ của TTCK Việt Nam.

Cụ thể, tại thời điểm 28/02/2018 đã thu hút hơn 2,064 doanh nghiệp niêm yết và đăng ký giao dịch với 385 doanh nghiệp tại HNX và 350 doanh nghiệp tại HOSE. Nhƣ vậy mức tăng trƣởng đạt tỷ lệ 136.28% so với cuối năm 2015 tƣơng ứng với mức tăng trƣởng bình quân là 27.5 doanh nghiệp/tháng. Cùng với đó là tốc độ tăng trƣởng vƣợt bậc trong số lƣợng chứng khoán niêm yết và đăng ký giao dịch với 109.05 tỷ chứng khoán vào cuối tháng 2 năm 2018. So với cuối năm 2015 thì đã tăng 43.25 tỷ chứng khoán với tỷ lệ bình quân 2.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu tác động của các yếu tố vĩ mô đến thị trường chứng khoán Việt Nam" của tác giả Phạm Duy Tính, dưới sự hướng dẫn của PGS. Đặng Văn Dân, trình bày những ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế vĩ mô đến sự biến động của thị trường chứng khoán tại Việt Nam. Nghiên cứu này không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về mối quan hệ giữa các yếu tố vĩ mô và thị trường chứng khoán, mà còn cung cấp những thông tin hữu ích cho các nhà đầu tư và các chuyên gia tài chính trong việc đưa ra quyết định đầu tư chính xác hơn.

Để mở rộng thêm kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ về tác động của các yếu tố đến chỉ số giá chứng khoán VN-Index, nơi phân tích sâu hơn về các yếu tố kinh tế vĩ mô ảnh hưởng đến chỉ số chứng khoán cụ thể. Bên cạnh đó, Nghiên cứu tác động của các yếu tố kinh tế vĩ mô đến chỉ số giá chứng khoán và chỉ số ngành tại Việt Nam cũng sẽ cung cấp cái nhìn tổng quát hơn về tác động của các yếu tố này. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Nghiên cứu nhân tố tác động đến tính thanh khoản cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, giúp bạn hiểu rõ hơn về tính thanh khoản và các yếu tố ảnh hưởng đến nó trong bối cảnh thị trường chứng khoán Việt Nam.