MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Để thực hiện đường lối CNH-HĐH đất nước, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tăng sức cạnh tranh từ đó duy trì tăng trưởng hàng năm đòi hỏi nền kinh tế Việt Nam phải có nguồn vốn lớn cho đầu tư phát triển. Việc ra đời của thị trường chứng khoán mà đi đầu là sự vận hành của Trung Tâm Giao Dịch Chứng Khoán Tp.Hồ Chí Minh ngày 20/07/2000 đánh dấu một bước ngoặt to lớn cho sự phát triển nói chung của nền kinh tế Việt Nam. Cùng với hoạt động của Trung Tâm Giao Dịch Chứng Khoán Tp.Hồ Chí Minh (ngày nay là Sở Giao Dịch Chứng Khoán Tp.HCM (HOSE)), Vnindex (chỉ số phản ánh sự lên xuống của giá chứng khoán niêm yết trên HOSE) được coi như một chỉ báo quan trọng cho “sức khỏe” của các doanh nghiệp niêm yết và một phần cả nền kinh tế Việt Nam.
Bởi số lượng các doanh nghiệp đăng ký niêm yết trên HOSE ngày một tăng, bao gồm hầu hết các lĩnh vực kinh doanh cùng với mức vốn hóa chiếm tỷ trọng rất cao trong nền kinh tế (tính đến hết 24/11/2009 có 256 chứng khoán niêm yết trên HOSE với giá trị niêm yết lên tới 105. Tháng 5/2000, Công ty CPCK Thăng Long được thành lập bởi ngân hàng TMCP Quân Đội với vốn điểu lệ ban đầu 9 tỷ VND, đến nay Công ty đã có số vốn điều lệ là 800 tỷ VND với tổng tài sản gần 5000 tỷ VND. Gắn liền với sự phát triển nói chung của Công ty, hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán luôn đóng vai trò then chốt. Song để thực hiện tốt hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán thì việc dự báo thị trường nói chung và dự báo Vnindex nói riêng là vô cùng quan trọng.
Từ thực tế này, vấn đề cấp thiết đặt ra với CTCPCK Thăng Long là phải làm sao xây dựng riêng cho mình một khuôn khổ dự báo biên độ dao động hàng năm của chỉ số VN-Index nhằm làm căn 1 z cứ cho hoạt động tư vấn đầu tư nói riêng và hoạt động kinh doanh của công ty nói chung. Do đó, tác giả đã chọn đề tài “Xây dựng khuôn khổ dự báo biên độ dao động hàng năm của VN-Index phục vụ hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán tại Công ty CPCK Thăng Long” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình. Tình hình nghiên cứu Hiện nay, đã có nhiều sản phẩm về dự báo thị trường chứng khoán Việt Nam 2009: Các Báo cáo Viet Nam Monitor của HSBC ra hàng tháng; Các báo cáo của Economist‟s Intellegence Unit (EIU) về tình hình kinh tế Việt Nam; Các công ty chứng khoán trong nước thường sử dụng các mô hình phân tích kỹ thuật để dự báo ngắn hạn; Nguyễn Đức Thành (2009) đề xuất một phương pháp dự báo chỉ số VN-Index theo năm, ứng dụng cho các năm 2007-2009. Các sản phẩm nghiên cứu trên đã bước đầu đưa ra dự báo cho thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2009.
Song trên thực tế, chưa có công trình nghiên cứu nào xây dựng được một khuôn khổ dự báo đầy đủ để làm cơ sở phát triển thành một mô hình dự báo biến động của VN-Index hàng năm phục vụ cho hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Mục đích: Làm rõ nguyên nhân biến động của VN-Index thông qua các yếu tố tác động. Từ đó xây dựng khuôn khổ dự báo biên độ dao động hàng năm của VN-Index phục vụ hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán tại công ty CPCK Thăng Long. 2 z Nhiệm vụ: Hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về thị trường chứng khoán, công ty chứng khoán, hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán của công ty chứng khoán, các phương pháp định giá tài sản và định giá cổ phiếu.
Phân tích thực trạng thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2009 với cột mốc từ đầu năm 2006 đến hết năm 2009 và thực trạng tư vấn đầu tư chứng khoán tại Công ty CPCK Thăng Long. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến trạng thái thị trường CKVN Xây dựng khuôn khổ dự báo biên độ dao động của VN-Index theo năm phục vụ cho hoạt động tư vấn đầu tư của công ty CPCK Thăng Long. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu: Sự dao động của chỉ số VN-Index trong năm. Phạm vi nghiên cứu: Xét diễn biến thị trường chứng khoán Việt Nam từ đầu năm 2006 đến hết năm 2009 lấy Sở giao dịch chứng khoán TP.
Hồ Chí Minh (HOSE) làm đại diện. Vận dụng kết quả nghiên cứu trong hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán tại Công ty CPCK Thăng Long. Phƣơng pháp nghiên cứu Sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phân tích đánh giá, tổng hợp, kế thừa. Dựa trên các phương pháp định giá tài sản và giá cố phiếu cơ bản, phát triển các ý tưởng được nêu trong nghiên cứu của Ts.Nguyễn Đức Thành (Chương 5 - Báo cáo thường niên kinh tế Việt Nam của CEPR 2009), xây dựng một mô hình lý thuyết cho dự báo biên độ dao động của chỉ số VN- Index theo năm phục vụ hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán tại Công ty CPCK Thăng Long.
3 z Từ đó phát triển thêm, đồng thời sử dụng các phương pháp toán học thống kê và phần mềm chuyên môn như Eview, SPSS… để xử lý, kiểm định độ tin cậy của số liệu. Dự kiến đóng góp của luận văn Lý luận về khuôn khổ dự báo VN-Index theo năm. Xây dựng khuôn khổ dự báo biên độ dao động hàng năm của VN- Index, có thể ứng dụng trong thực tiễn tư vấn đầu tư chứng khoán tại Công ty CPCK Thăng Long. Bố cục của luận văn Ngoài phần Lời nói đầu, Kết luận, Phụ lục, Mục lục và Danh mục tài liệu tham khảo, Nội dung luận văn gồm 3 chương : Chƣơng 1.
Cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc xây dựng khuôn khổ dự báo biên độ dao động hàng năm của VN-Index phục vụ hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán Chƣơng 2. Thực trạng thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2009 và Xây dựng khuôn khổ dự báo biên độ dao động hàng năm của VN-Index Chƣơng 3. Vận dụng khuôn khổ dự báo biên độ dao động hàng năm của VN-Index phục vụ hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán tại Công ty CPCK Thăng Long 4 z Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CHO VIỆC XÂY DỰNG KHUÔN KHỔ DỰ BÁO BIÊN ĐỘ DAO ĐỘNG HÀNG NĂM CỦA VN-INDEX PHỤC VỤ HOẠT ĐỘNG TƢ VẤN ĐẦU TƢ CHỨNG KHOÁN 1.
Sơ lƣợc về thị trƣờng chứng khoán, công ty chứng khoán và hoạt động tƣ vấn đầu tƣ chứng khoán 1. Khái niệm và bản chất của thị trƣờng chứng khoán Trong thực tế luôn xảy ra tình huống: những người có khả năng đầu tư sinh lời thì thiếu vốn để thực hiện, trái lại những người có vốn nhàn rỗi lại không biết đầu tư vào đâu, hoặc không có cơ hội đầu tư. Từ đó thị trường tài chính ra đời để chuyển vốn từ nơi “thừa” sang nơi “thiếu”, chuyển đổi tiết kiệm thành đầu tư. Người “thiếu” vốn sẽ phát hành ra các công cụ tài chính như: cổ phiếu, trái phiếu… để huy động vốn, còn người “thừa” vốn sẽ đầu tư vốn của mình bằng cách nắm giữ những công cụ tài chính đó.
Khi đó, hình thành nên khái niệm : Thị trường chứng khoán. “Thị trường chứng khoán là một bộ phận cấu thành thị trường tài chính, là nơi diễn ra các giao dịch mua bán, trao đổi các chứng khoán – các hàng hóa và dịch vụ tài chính giữa các chủ thể tham gia. Việc trao đổi mua bán này được thực hiện theo những quy tắc ấn định trước” [13, tr. Trong đó chứng khoán được hiểu là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu chứng khoán đối với tài sản hoặc vốn của tổ chức phát hành, gồm: cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư chứng khoán và các loại chứng khoán khác theo quy định của pháp luật (Điều 3, Nghị định số 144/2003/NĐ-CP).
Ở phương Tây, từ thời Trung cổ đã có những hình thức sơ khai của TTCK. Thời đó, vào khoảng giữa thế kỷ 15, tại những thành phố có vị trí thuận lợi cho việc buôn bán, các thương gia thường tụ tập tại các quán cà phê 5 z để thương lượng việc mua bán, trao đổi các loại hàng hóa (nông sản, khoáng sản, ngoại tệ…). Điểm đặc biệt là trong những cuộc thương lượng này, các thương gia chỉ dùng lời nói để trao đổi với nhau, mà không cần có hàng hóa. Kết quả của những cuộc thương lượng này nhằm thống nhất với nhau các hợp đồng mua bán, trao đổi thực hiện ngay, thực hiện vào thời điểm 3 tháng, 6 tháng hay 1 năm sau… Để thuận tiện hơn cho việc buôn bán, các thương gia đã thống nhất các quy ước và dần dần những quy ước được sửa đổi hoàn chỉnh thành những quy tắc có giá trị bắt buộc chung cho mọi thành viên tham gia thị trường.
Thị trường chứng khoán được hình thành từ đó. Các phương thức giao dịch ban đầu được diễn ra ngoài trời với những ký hiệu giao dịch bằng tay và có thư ký nhận lệnh của khách hàng. Về sau các phương thức giao dịch chứng khoán ngày càng được hoàn thiện. Các sở giao dịch dần dần sử dụng máy vi tính để truyền các lệnh đặt hàng và chuyển dần từ giao dịch thủ công kết hợp với máy vi tính sang sử dụng hoàn toàn hệ thống giao dịch điện tử.
Vào đầu thế kỷ 18, TTCK Amsterdam ra đời. TTCK Paris, Berlin hình thành vào giữa thế kỷ 18. Ở Anh quốc, Sở giao dịch vốn xuất hiện năm 1773. Tại Hoa Kỳ, Sở giao dịch vốn ra đời năm 1817.
Lịch sử ghi nhận rằng, TTCK ban đầu hình thành và phát triển một cách tự phát với sự tham gia của một số ít người. Dần dần về sau mới có sự tham gia của công chúng đầu tư. Khi phát triển đến một mức độ nhất định, thị trường bắt đầu phát sinh những trục trặc dẫn đến phải thành lập cơ quan quản lý nhà nước và hình thành hệ thống pháp lý để điều chỉnh hoạt động của thị trường. Lịch sử phát triển TTCK thế giới đã trải qua nhiều thăng trầm, lúc hưng thịnh lúc suy yếu.
Hiện nay, TTCK đã phát triển mạnh mẽ ở hầu hết 6 z các quốc gia công nghiệp hàng đầu thế giới như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Anh, Pháp… Và có thể nói là TTCK không thể thiếu trong đời sống kinh tế của những quốc gia theo cơ chế thị trường, nhất là những quốc gia đang phát triển cần thu hút nguồn vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế quốc dân.