Chương 1: Giới thiệu bối cảnh vấn đề nghiên cứu, lý do chọn đề tài, vấn đề nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu. Chương 2: Tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm liên quan. 123doc 5 Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Nội dung, kết quả của nghiên cứu Chương 5: Kết luận của luận văn và gợi ý hướng nghiên cứu xa hơn.
123doc 6 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM (LITERATURE REVIEW) 2.1 Thuyết không liên quan của chính sách cổ tức Miller & Modigliani (1961) “Dividend policy, growth, and the valuation of shares” Chính sách cổ tức, tăng trưởng, và giá trị của cổ phiếu. MM đã đưa lý thuyết cổ tức trong một thị trường hoàn hảo, không có thuế, chi phí giao dịch và chi phí phát hành. MM đề xuất lý thuyết không liên quan cho rằng lợi ích của các cổ đông không bị ảnh hưởng bởi chính sách cổ tức. Lý thuyết này lập luận rằng giá trị của công ty là ở lợi nhuận, mà xuất phát từ chính sách đầu tư của công ty.
Họ cho rằng cổ tức và tăng vốn là hai phương pháp chính phân phối lợi nhuận của công ty. Khi một công ty chọn cách phân phối lợi nhuận bằng cách chia cổ tức cho các cổ đông của mình, thì sau đó giá cổ phiếu sẽ tự động giảm bằng số tiền cổ tức trên mỗi cổ phiếu vào ngày giao dịch không hưởng quyền (ngày cuối cùng được hưởng cổ tức).Vì vậy, họ đề xuất rằng trong một thị trường hoàn hảo, chính sách cổ tức không ảnh hưởng đến giá trị của doanh nghiệp. Black & Scholes (1974) “The effects of dividend yield and dividend policy on common stock prices and returns” Ảnh hưởng của tỷ suất cổ tức và chính sách cổ tức trên giá và tỷ suất sinh lợi cổ phần thường. Black & Scholes tạo ra 25 danh mục đầu tư cổ phiếu phổ thông ở thị trường chứng khoán New York để nghiên cứu tác động của chính sách cổ tức trên giá cổ phiếu từ năm 1936 đến 1966.
Theo đó, có hai cách để khẳng định bất kỳ giả thiết của cổ tức, là ảnh hưởng của nó đến giá của cổ phiếu hoặc tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của cổ phiếu đó. Họ đã sử dụng mô hình định giá tài sản vốn (CAPM) để kiểm tra mối liên hệ giữa tỷ lệ cổ tức và tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của cổ phiếu. Các kết quả nghiên cứu của họ cho thấy không có tương quan đáng kể giữa tỷ lệ cổ tức và tỷ suất sinh lợi kỳ vọng. Họ báo cáo rằng không có bằng chứng về sự khác biệt chính sách cổ tức sẽ dẫn đến giá cổ phiếu khác nhau.
Phát hiện của họ là phù hợp với giả thuyết không liên quan của chính sách cổ tức. 123doc 7 Hakansson (1982) “To pay or not to pay dividend” Nên trả hay không trả cổ tức. Hakansson tuyên bố rằng cổ tức, dù có đầy đủ thông tin hay không, cũng không ảnh hưởng đến giá trị của công ty khi mà nhà đầu tư có niềm tin đồng nhất và sự hữu ích của thời gian bổ sung và thị trường là hoàn toàn hiệu quả. Uddin & Chowdhury (2005) “Effect of Dividend Announcement on Shareholders’ Value: Evidence from Dhaka Stock Exchange” Tác động của công bố cổ tức lên giá trị cổ đông: Bằng chứng từ thị trường chứng khoán Dhaka.
Uddin & Chowdhury nghiên cứu tác động của cổ tức đến giá trị của cổ đông trên thị trường chứng khoán Dhaka (DSE) với một mẫu 137 công ty có công bố cổ tức trong thời kỳ từ tháng 10 năm 2001 đến tháng 9 năm 2002. Để đo lường tác động của công bố cổ tức đến lợi ích cổ đông, tác giả sử dụng chỉ số lợi nhuận bất thường tích lũy (CAR). Kết quả ngụ ý rằng thông báo chia cổ tức không làm tăng giá trị cho các nhà đầu tư và các cổ đông nếm mùi mất khoảng 20% giá trị trong thời gian ba mươi ngày trước khi công bố cổ tức đến ba mươi ngày sau thông báo. Tuy nhiên, giá trị bị mất đó sẽ được bù đắp bằng cổ tức được chi trả.
Vì vậy mà giá trị tổng thể của nhà đầu tư sau chi trả cổ tức vẫn không thay đổi. Điều này phù hợp với giả thuyết của Miller & Modigliani.2 Thuyết liên quan của chính sách cổ tức 2.1 Không thích rủi ro Gordon (1962) “A note on dividend irrelevance and the Gordon valuation model” Một ghi chú về thuyết liên quan của chính sách cổ tức và mô hình định giá Gordon. Gordon đề xuất một mô hình định giá liên quan giá trị thị trường của các cổ phiếu với chính sách cổ tức. Gordon nghiên cứu chính sách cổ tức và giá thị trường của cổ phiếu và đề nghị rằng chính sách cổ tức của các công ty ảnh hưởng đến giá trị thị trường của cổ phiếu ngay cả trong thị trường vốn hoàn hảo.
Ông nói rằng các cổ đông không thích rủi ro có thể thích một mức cổ tức nào đó hơn là hứa hẹn lãi vốn trong tương lai, vì cổ tức là các thu nhập thường xuyên, chắc chắn, trong khi lãi vốn trong tương lai ít chắc chắn hơn. Theo Gordon, cổ tức làm giảm tính bất 123doc 8 trắc của các cổ đông, cho phép họ chiết khấu lợi nhuận tương lai của doanh nghiệp với một tỷ lệ thấp hơn, do đó làm tăng giá trị của doanh nghiệp. Ngược lại, việc không chi trả cổ tức làm gia tăng tính bất trắc của các cổ đông, làm tăng suất chiết khấu và giảm giá cổ phần. Ông cũng đề xuất rằng có một mối quan hệ trực tiếp giữa chính sách cổ tức và giá trị thị trường của cổ phiếu ngay cả nếu tỷ lệ hoàn vốn nội bộ (IRR) và tỷ lệ lãi suất yêu cầu (RRR) là giống nhau.
Trong mô hình tăng trưởng liên tục của (Gordon, 1962), giá cổ phiếu của công ty lệ thuộc chiết khấu dòng cổ tức trong tương lai.2 Dựa trên nội dung công bố của chính sách cổ tức Miller & Modigliani (1961) cho rằng, trên thị trường không hoàn hảo, cổ tức có thể ảnh hưởng đến giá cổ phiếu.Theo MM, các thay đổi trong chi trả cổ tức tiêu biểu một tín hiệu cho các nhà đầu tư về đánh giá của ban điều hành về lợi nhuận và dòng tiền tương lai của doanh nghiệp. Ban điều hành là người trong nội bộ công ty, được coi là có tiếp cận thông tin về khả năng sinh lợi của công ty đầy đủ hơn các thông tin có sẵn cho các nhà đầu tư bên ngoài. Vì vậy, thông báo chia cổ tức có thể được hiểu như là một tín hiệu của lợi nhuận của công ty trong tương lai. Tương tự, một cắt giảm cổ tức được xem như truyền đạt các thông tin bất lợi về triển vọng lợi nhuận của doanh nghiệp.
MM lập luận rằng, nội dung hàm chứa thông tin của chính sách cổ tức ảnh hưởng đến giá cả cổ phần chứ không phải mô hình chi trả cổ tức. Asquith & Mullins Jr (1983) “The impact of initiating dividend payments on shareholders' wealth” Tác động của chi trả cổ tức ban đầu lên lợi ích của cổ đông. Asquith & Mullins Jr sử dụng một mẫu của 168 công ty trả cổ tức cho lần đầu tiên hoặc thanh toán cổ tức sau khi bị gián đoạn ít nhất 10 năm và nghiên cứu mối quan hệ giữa các phản ứng thị trường với công bố cổ tức. Giai đoạn 10 năm được sử dụng là từ tháng 1 năm 1954 đến tháng 12 năm 1963, vì vậy các công ty trả cổ tức lần đầu tiên trong nghiên cứu này xảy ra sau tháng 12 năm 1963.
Giai đoạn nghiên cứu mở rộng cho đến 1980. Các công bố cổ tức và tiền trả cổ tức của các công ty đó phải được tập hợp đầy đủ. Ngày công bố cổ tức là ngày tin tức chia cổ tức sắp tới 123doc 9 được đăng trên nhật báo phố Wall (tờ báo uy tín hàng đầu nước Mỹ). Họ đã phân tích tỷ suất sinh lợi bất thường hàng ngày trong khoảng thời gian mười ngày trước và mười ngày sau thông báo chia cổ tức.
Phát hiện của họ cho thấy tỷ suất sinh lợi bất thường xấp xỉ tăng 3,7% trong một khoảng thời gian hai ngày sau khi thông báo. Hơn nữa, họ sử dụng hồi quy dữ liệu chéo và báo cáo rằng số lượng cổ tức đầu tiên có tác động cùng chiều đáng kể tỷ suất sinh lợi vượt mức vào ngày công bố cổ tức. Họ kết luận rằng tầm quan trọng của những thay đổi trong cổ tức nên được coi trọng. Amihud & Murgia (1997) “Dividends, taxes, and signaling: evidence from Germany” Cổ tức, thuế và truyền tín hiệu.
Amihud & Murgia sử dụng 200 doanh nghiệp Đức như mẫu và nghiên cứu phản ứng giá cổ phiếu theo thông báo chia cổ tức cho giai đoạn từ 1988 đến 1992. Họ xem xét 255 trường hợp tăng cổ tức và 51 trường hợp suy giảm cổ tức. Các công bố cổ tức của các công ty trong mẫu được tập hợp từ cơ sở dữ liệu trực tuyến Genios, được xây dựng bởi tổ chức Handelsblatt. Kết quả của họ củng cố tuyên bố rằng những thay đổi cổ tức có thể là một tín hiệu tiềm năng trong tương lai của công ty.
Họ trình bày tỷ suất sinh lợi bất thường tăng 0,965% khi cổ tức tăng và tỷ suất sinh lợi bất thường giảm 1,73% khi giảm cổ tức. Travlos, Trigeorgis & Vafeas (2001) “Shareholder wealth effects of dividend policy changes in an emerging stock market: The case of Cyprus” Ảnh hưởng của thay đổi chính sách cổ tức lên lợi ích cổ đông trên thị trường chứng khoán mới nổi: Bằng chứng từ Cyprus. Travlos, Trigeorgis & Vafeas đã nghiên cứu phản ứng giá cổ phiếu đến công bố cổ tức và sự gia tăng cổ tức trong thị trường chứng khoán Cyprus từ 1985 đến 1995. Họ xem xét 41 thông báo cổ tức bằng tiền mặt và 39 sự kiện tăng cổ tức.
Kết quả của họ cung cấp bằng chứng mạnh mẽ để hỗ trợ cho giả thuyết phát tín hiệu. Họ báo cáo tỷ suất sinh lợi vượt mức quá rõ ràng cho cả hai thông báo chia cổ tức bằng tiền mặt và tăng cổ tức bằng tiền mặt.3 Dựa trên chi phí đại diện Jensen, Solberg & Zorn (1992) “Simultaneous determination of insider ownership, debt, and dividend policies” Tính quyết định đồng thời của sở hữu nội bộ, nợ và chính sách cổ tức. Jensen, Solberg & Zorn nghiên cứu các yếu tố của sự tác động giữa quyền sở hữu nội bộ, đòn bẩy nợ và chính sách cổ tức. Bằng cách sử dụng mô hình hồi quy bình phương bé nhất ba giai đoạn cho dữ liệu chéo của các công ty qua hai thời điểm là năm 1982 và 1987.
Dữ liệu nghiên cứu bao gồm 565 công ty cho năm 1982 và 632 công ty cho năm 1987.